Họ bắt đầu cuộc hành trình trong một tâm trạng đầy hứng khởi. Ngày qua ngày, họ thong thả bước đi trên những con đường làng đưa họ qua biết bao khung cảnh đẹp đẽ của mùa hè; khi thì dừng chân tại những quán trọ cổ kính hay trang trại ven đường, lúc lại la cà như những người Digan vào giữa trưa tại một góc cỏ xanh tươi nơi những người bạn bốn chân của họ thắp bữa trên chính chiếc khăn trải bàn của chủ, trong lúc đôi vợ chồng vui vẻ thưởng thức món ăn giản dị hơn mà người chủ nhà trước đã chuẩn bị cho họ. Khi cảnh vật tẻ nhạt, như đôi khi vẫn thế, bởi thiên nhiên đâu vì một đôi uyên ương nào mà thay đổi nhịp sinh hoạt thường ngày, người này đọc to cho người kia nghe, hoặc cả hai cùng cất tiếng hát, trong khi trò chuyện là trò tiêu khiển chưa bao giờ nhàm chán và sự im lặng cũng mang những nét quyến rũ riêng mà họ biết cách tận hưởng. Thỉnh thoảng, họ đi bộ một hoặc hai dặm, chạy ùa xuống sườn đồi, bước qua những cánh đồng lúa mì xào xạc, tạt vào một vườn cây ăn trái, hoặc thưởng thức những quả ngọt ven đường, vô tư lự như những chú sóc trên tường, hay những chú ong nâu vui vẻ ghé qua quán "Cỏ Ba Lá". Họ kết bạn với những bầy cừu trên đồng cỏ, những con bò bên dòng suối, những lữ khách lúc đăm chiêu lúc nhã nhặn, những người nông dân chất phác với sự từng trải mộc mạc khiến những câu chuyện của họ mộc mạc và chân chất như lớp đất màu mỡ mà họ cày xới; những đứa trẻ đi chân trần vui tươi, và cả những phụ nữ đủ mọi tầng lớp, từ người nội trợ đẫy đà ngay lập tức bọc lấy họ dưới đôi cánh che chở của người mẹ, cho đến mụ thợ giày già chua ngoa, ngửi thuốc lá với tấm biển "Miễn vào" hiện rõ trên nét mặt.
Đối với Moor, thế giới được tô điểm bởi thứ ánh sáng huyền ảo hiếm hoi chỉ đến một lần trong đời mỗi con người; chuyến hành trình như một khúc ca hạnh phúc, được làm cho rực rỡ bởi mùa hè và chiến thắng bởi niềm hân hoan; người vợ trẻ của anh là nữ hoàng của muôn loài, và bản thân anh sánh ngang với các vị thần bởi chẳng còn biết đến bất kỳ khát khao nào nữa. Sylvia không thể nào không hạnh phúc, bởi khi tìm thấy sự tự do và tình yêu vô bờ bến làm hành trang cho riêng mình, cô chẳng có gì phải hối tiếc, và xem hôn nhân là một bước chuyển dễ chịu đơn thuần chỉ thay đổi họ tên của cô đồng thời mang lại cho cô một chỗ dựa, một người bạn và một người tình gói gọn trong một con người. Do đó, cô bộc lộ con người ngọt ngào và chân thật nhất của mình, ngoan ngoãn đến kỳ lạ và vui tươi đầy cuốn hút; thích thú với mọi thứ trước mắt, và hoàn toàn tràn ngập niềm vui khi những ngày cuối tuần hé lộ bí mật rằng điểm đến của họ chính là vùng núi cao.
Vốn rất yêu biển, những chuyến đi xa hiếm hoi trước đây chỉ mang lại cho cô những trải nghiệm gắn liền với biển cả, và giờ đây, hương vị của sự mới mẻ hoàn toàn đã được thêm vào bữa tiệc mà người chồng chu đáo đã dọn sẵn cho cô. Nó đến với cô không chỉ vào lúc cô có thể tận hưởng nó nhất, mà còn khi cô cần nó nhất, xoa dịu những xao động trong lòng, kích thích những phần cao cả trong tâm hồn vốn luân phiên chi phối cuộc đời cô, đồng thời chuẩn bị cho cô những gì đang chờ đợi phía trước. Lựa chọn những con đường yên ắng nhất, Moor dẫn cô khám phá những điều kỳ diệu của một vùng đất mà vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ khiến ký ức về nó trở thành niềm mãn nguyện suốt đời. Ngày nối ngày, họ dõi theo những lối mòn trên núi, ngắm nhìn sự biến đổi của một bức tranh thiên nhiên muôn hình vạn trạng, quan sát ánh hồng rạng đông nhuộm đỏ những vách đá hoa cương của các vị thần Titan mang trên mình những vết sẹo của hàng thế kỷ bão giông, ngắm nhìn ánh hào quang ban trưa bao trùm lên chúng cho đến khi chúng như mỉm cười, ánh tím buổi chiều ôm ấp chúng trong vẻ lộng lẫy, hay ánh trăng mơn man chúng bằng phép màu; để rồi Sylvia, với ánh mắt luôn ngước lên ngắm nhìn khung cảnh lấp đầy tâm hồn cô bằng sự kính trọng và kinh ngạc, được dẫn dắt để nhìn xa hơn thế, và qua trung gian là người bạn bên cạnh, cô hiểu rằng tình yêu con người đưa chúng ta đến gần hơn với đấng Tối Cao, và chính là con đường chắc chắn nhất dẫn đến cái đích lớn lao ấy.
Tuần cuối cùng của tuần trăng mật đã đến quá nhanh, bởi đó là lúc họ đã hứa hẹn sẽ quay về. Đỉnh cao hùng vĩ nhất của dãy núi được để dành lại đến phút chót, và sau một ngày với những niềm vui đáng nhớ, Sylvia ngồi ngắm hoàng hôn, đắm chìm đôi mắt trước vẻ kỳ diệu của một cảnh sắc không thể diễn tả bằng lời, bởi ngôn từ vốn có giới hạn trong khi cảnh tượng ấy lại dường như vô tận. Chẳng mấy chốc, Moor bước đến bên cô và cất tiếng hỏi:
– Em có muốn tham gia cùng một nhóm người đến thăm cung điện băng khổng lồ, và ngắm nhìn ba mẫu tuyết giữa tháng Tám, bị dòng thác bào mòn thành một ngôi nhà thờ, trắng muốt chẳng kém gì cẩm thạch dù không bền bỉ bằng không?
– Em ngồi đây thoải mái quá nên nghĩ là mình không đi đâu. Nhưng anh cứ đi đi vì anh thích những kỳ quan như thế, còn em sẽ nghỉ ngơi cho đến khi anh quay lại.
– Vậy anh sẽ tự đi và để mặc em trầm ngâm suy ngẫm về những niềm vui trong ngày, thứ đã biến em trong vài giờ qua thành một trong những người phụ nữ nổi tiếng nhất ở vùng này tính từ phía bên này dãy Rocky Mountains. Ở nhà khách có một chiếc kèn cor để tạo tiếng vang vọng, anh sẽ mang theo nó, và thỉnh thoảng sẽ gửi gắm một giai điệu ngọt ngào để nhắc nhở rằng em không được đi lang thang rồi lạc mất đấy nhé.
Sylvia ngồi đó trong nửa giờ đồng hồ, rồi vì mệt mỏi trước sự mênh mông của không gian rộng lớn, cô cố gắng để tâm trí được nghỉ ngơi bằng cách ngắm nhìn những vẻ đẹp ngay gần kề. Thong thả bước xuống lối mòn mà đoàn người tham quan đã đi qua, cô thấy mình lạc vào một lòng chảo đá, được khoét sâu vào sườn núi giống như chiếc tách đựng một vũng nước nhỏ, trong và sáng đến mức trông như một viên kim cương gắn giữa phiến đá đen. Một vành cỏ thưa thớt mọc quanh mép nước, nào là rêu nâu, thạch nam tía và những đóa hoa trắng mỏng manh, tựa như một nhóm người lúi xúi bé nhỏ trong đồi đang mở tiệc vui bên một cái giếng thần thoại. Nơi này thu hút cô, và nhớ đến lời dặn không được đi lang thang xa, cô ngồi xuống bên vệ đường để chờ chồng quay lại.
Khi cô đang cúi mình bên vũng nước để vốc nước tưới cho đám cỏ dại nhỏ bé đang khát khô xung quanh, tay cô khựng lại bởi tiếng bước chân đang đến gần. Ngước lên để xem kẻ nào dám làm phiền chốn nghỉ ngơi của mình, cô nhìn thấy một người đàn ông đang dừng chân ở đỉnh lối mòn đối diện với hướng cô vừa đi tới. Hắn dường như đang dò xét bóng người cô đơn dưới thung lũng trước khi bước xuống; nhưng khi cô quay mặt về phía hắn, hắn vứt phăng chiếc ba lô, mũ và gậy xuống đất, rồi trong một phút giật mình thảng thốt, cô nhận ra đó không phải là một người xa lạ, mà chính là Adam Warwick. Hắn rảo bước xuống bên cô đầy vui sướng và cuồng nhiệt, cô chỉ có kịp nhận ra hắn và thét lên một tiếng, trước khi bị cuốn vào một vòng tay vừa dịu dàng vừa không thể kháng cự, để rồi nằm trọn ở đó mà chẳng còn nhận thức được điều gì nữa, ngoại trừ việc hạnh phúc giống như một vị thiên sứ mạnh mẽ và nhanh nhẹn đã đưa cô vụt bay vào vùng đất hứa mà bấy lâu nay cô hằng tin tưởng, khao khát, để rồi từng tuyệt vọng vì nghĩ rằng đã mất đi mãi mãi. Chẳng mấy chốc, cô nghe thấy giọng nói của hắn, đứt quãng, đầy khát khao, nhưng lại trìu mến đến mức nghe như của một người nào đó khác chứ không phải hắn.
– Em yêu của anh! Em đã nghĩ rằng anh sẽ không bao giờ quay lại sao?
– Em đã nghĩ là anh đã quên em, em biết anh đã kết hôn rồi mà. Adam, thả em xuống đi.
Nhưng hắn chỉ ôm cô chặt hơn, và bật lên một tiếng cười ngập tràn hạnh phúc khiến Sylvia cảm nhận được sự thật trước khi hắn thốt thành lời.
– Làm sao anh có thể kết hôn khi vẫn yêu em? Làm sao anh có thể quên em ngay cả khi anh chưa từng đến để nói cho em điều này? Sylvia, anh biết rõ những chuyện đã xảy ra. Sự thất bại của Geoffrey đã cho anh dũng khí để hy vọng vào thành công, và rằng lời đính ước câm lặng được trao qua một ánh mắt từ thuở nào ấy đối với em cũng trọn vẹn như đối với anh vậy.
– Adam, anh vừa đúng lại vừa sai — anh chưa biết hết mọi chuyện đâu — để em kể cho anh nghe nào— Sylvia bắt đầu nói, khi những bằng chứng về sự thiếu hiểu biết ấy kéo cô bừng tỉnh giữa một nỗi nhớ nhung bàng hoàng và kinh sợ. Thế nhưng Warwick cũng cương quyết trong hạnh phúc của mình chẳng kém gì sự nhẫn nhịn trước đây, và chiếm lĩnh tâm trí cũng như thể xác cô bằng một sự chuyên quyền vừa đáng mừng vừa trọn vẹn đến mức không thể chống cự lại ngay lúc ấy.
– Em sẽ chẳng kể gì hết cho đến khi anh bày tỏ lý do đằng sau sự im lặng có vẻ nhẫn tâm của mình. Anh phải trút bỏ gánh nặng đó trước đã, rồi anh sẽ lắng nghe em cho đến tận sáng mai nếu em muốn. Anh đã phải đổi lấy khoảnh khắc này bằng cả năm trời nỗ lực, hãy để anh giữ em ở đây và tận hưởng nó một cách trọn vẹn không tì vết.
Sức hút xưa cũ chẳng hề suy giảm chút nào, bởi sự xa cách dường như đã ban cho nó sức mạnh nhân đôi, và việc khẳng định lại niềm hy vọng thuở ban đầu càng tô điểm cho nó sự ấm áp gấp bội. Sylvia để mặc hắn ôm lấy mình, cảm thấy rằng hắn hoàn toàn xứng đáng với phần thưởng nhỏ bé ấy cho nỗ lực suốt một năm trời, và cô quyết định ban tặng tất cả những gì còn lại trong khả năng của mình lúc này: thêm vài khoảnh khắc đắm chìm trong sự vô tri hạnh phúc, rồi sau đó mới cho hắn thấy sự mất mát của mình và an ủi hắn, vì cô chắc chắn rằng chồng cô sẽ chẳng hề trách cứ lòng trắc ẩn vốn chẳng kém phần sâu sắc và quên mình so với những gì chính anh ấy sẽ dành cho nếu ở vào hoàn cảnh của họ. Chỉ dừng lại để tự mình ngồi xuống chiếc ghế mà cô vừa rời đi, Warwick cởi chiếc mũ trên đầu cô ra, quay mặt cô hướng về phía mình và ngắm nhìn nó với một sự thỏa mãn chân thành và trọn vẹn đến mức dự định ban đầu đang dao động của cô lập tức bị dập tắt bởi chỉ một cái nhìn. Rồi khi hắn bắt đầu kể câu chuyện về quá khứ, cô quên hết mọi thứ ngoại trừ những lời nói dồn dập mà cô đang lắng nghe, gương mặt mà cô đang dõi theo, vốn đã thay đổi và dịu dàng đi đến mức đẹp đẽ, khiến cô có cảm giác như chưa từng gặp người đàn ông này bao giờ, hoặc hiện tại đang nhìn thấy anh như cách chúng ta đôi khi nhìn thấy những bóng hình quen thuộc được tôn lên vẻ rực rỡ trong những giấc mơ. Bằng những từ ngữ ngắn gọn và ân cần nhất, Warwick kể cho cô nghe về Ottila, về lời hứa và cuộc chia ly; rồi, tựa như chủ đề thân thương ấy xứng đáng được kéo dài thay vì rút gọn, hắn luyến lưu ở đó giống như một người chần chừ mãi trước cửa nhà một người bạn, tận hưởng trước niềm hạnh phúc mà anh chắc chắn đang chờ đón mình.
– Đêm chúng ta cùng dạo bước bên bờ sông — một người bạn đồng hành bướng bỉnh nhưng lại vô cùng cuốn hút mà anh có được ngày hôm đó, và anh đã tận hưởng tất cả nhường nào! — đêm hôm ấy anh đã ngờ rằng Geoffrey yêu em, Sylvia, và anh cảm thấy vui mừng khi nghĩ đến điều đó. Một tháng sau, anh đã chắc chắn về điều ấy, và nhận ra trong sự thật đó thử thách lớn nhất đời mình, bởi vì chính anh cũng yêu em. Đứa trẻ thật táo bạo! Sao em dám lẻn vào trái tim anh rồi chiếm lấy nó khi anh vừa tống cổ vị khách cuối cùng ra ngoài và cài then cửa lại chứ? Anh cứ ngỡ mình đã đoạn tuyệt với thứ tình cảm từng suýt tàn phá cuộc đời anh một lần, nhưng nhìn xem anh đã mù quáng biết bao — thứ tình yêu giả dối ấy chỉ càng khiến anh sẵn sàng hơn để đón nhận tình yêu đích thực. Sylvia, em chưa bao giờ trông giống một đứa trẻ trong mắt anh, bởi vì em mang một tâm hồn già dặn trong một cơ thể trẻ trung, và những giông tố cùng cám dỗ của cha em lại đang tái hiện trong con người em. Chính điều này đã thu hút anh đầu tiên. Anh thích quan sát, thích đặt câu hỏi, thích nghiên cứu câu đố nhân sinh mà anh đã tìm được chìa khóa từ chính đôi môi của người tạo ra nó. Anh thích sự thẳng thắn và giản dị của em, sự dũng cảm và cả những nét thất thường của em. Thậm chí những khiếm khuyết của em cũng chiếm được cảm tình trong mắt anh; bởi sự kiêu hãnh, ý chí, tính bốc đồng đều là những người bạn cũ của anh, và anh thích nhìn thấy chúng hoạt động dưới một hình hài khác. Ban đầu em là một điều kỳ thú, rồi thành một niềm vui giải trí, và sau đó trở thành một nhu cầu thiết yếu. Anh cần có em, không phải thỉnh thoảng, mà là liên tục. Em đã mang lại muối mặn và hương vị cho cuộc đời anh; bởi vì dù em cất lời hay im lặng, dù dịu ngọt hay cáu kỉnh, thân thiện hay lạnh lùng, anh vẫn mãn nguyện chỉ cần cảm thấy sự gần gũi của em, và luôn mang theo một sự thỏa mãn nội tâm mà không gì khác có thể mang lại được. Tình cảm này khác biệt đến mức anh đã tự lừa dối mình trong một khoảng thời gian — nhưng không lâu đâu. Chẳng mấy chốc anh đã biết chuyện gì xảy ra với mình, chẳng mấy chốc anh cảm thấy thứ tình cảm này thật tuyệt vời khi hiện hữu, bởi vì anh quên đi bản ngã bồng bột và tồi tệ của mình, đồng thời cảm thấy con người cao cả hơn được tái sinh nhờ sự đồng hành vô tội mà em ban tặng. Anh cần em, nhưng thứ anh khao khát nhất không phải là sự chạm tay hay đôi môi, không phải ánh mắt giao nhau dịu dàng, hay những lời nói ngọt ngào. Đó là thứ vượt quá tầm với của anh, vừa mãnh liệt vừa trinh nguyên, vô hình nhưng lại không thể cưỡng lại; thứ đó, dù là trái tim, tâm hồn hay trí tuệ, đã lôi kéo anh đến với em bằng một sức hấp dẫn chân thành và thuần khiết tựa như chính bản chất của nó. Sylvia của anh, đó chính là tình yêu, và khi nó đến với anh, anh đã đón nhận nó, tin chắc rằng dù kết quả của nó có được chấp nhận hay từ chối thì anh cũng sẽ trở thành một người đàn ông dũng mãnh hơn vì đã cưu mang nó dẫu chỉ trong một giờ. Sao em lại quay mặt đi? Thôi được, cứ che giấu nó đi nếu em muốn, nhưng hãy tựa vào đây như em đã từng làm cách đây rất lâu rồi.
Cô để hắn đặt đầu cô lên vai mình, vẫn thầm nghĩ rằng Moor là kiểu người biết nhìn thấu bề sâu của những vấn đề này và thấu hiểu rằng cô đã làm đúng khi mang lại cho một tình yêu thuần khiết đến thế những khoảnh khắc hạnh phúc trước khi nó lụi tàn, hệt như cách cô sẽ nâng niu Warwick nếu như anh đang hấp hối vậy.
– Vào buổi tối tháng Chín ấy, khi ngồi một mình, anh đã nghĩ về những gì có thể xảy ra và những gì buộc phải xảy ra. Anh đã quyết định rằng mình sẽ rời đi vì lợi ích của Geoffrey. Cậu ấy phù hợp hơn anh để có được em, bởi cậu ấy dịu dàng hơn, và về mọi mặt đều sẵn sàng để che chở cho một người vợ. Còn anh quá thô kệch, lại là một kẻ lang thang, ngập chìm trong những mục đích và dự định của riêng mình, làm sao anh dám mang theo bên mình một sinh linh bé nhỏ và mỏng manh như em chứ? Anh đã nghĩ rằng em không quan tâm đến mình; anh biết bất kỳ sự hay biết nào về tình yêu của anh cũng sẽ chỉ làm hỏng hạnh phúc của cậu ấy; thế nên tốt nhất là rời đi ngay lập tức và để cậu ấy lại với thứ hạnh phúc mà cậu ấy hoàn toàn xứng đáng. Đúng lúc đó em tìm đến anh, tựa như ngọn gió đã thổi niềm khát khao của anh vào tận vòng tay. Một cái chạm đầy yêu thương làm sao! Nó suýt làm tan chảy quyết tâm của anh, thật khó khăn biết bao khi không được nắm lấy thứ duy nhất mình khao khát lúc nó xuất hiện đúng thời điểm đến vậy. Anh khao khát phá vỡ lời hứa ngớ ngẩn ấy, thứ được thốt ra khi anh còn kiêu ngạo vì sự tự phụ của bản thân, và đã bị trừng phạt đích đáng vì sự dại dột đó; nhưng em bảo hãy giữ lấy nó, và anh đã làm thế. Em không thể hiểu được rắc rối của anh, và khi anh ngồi trước mặt mình thật lặng lẽ, có lẽ trông có vẻ cau có và lạnh lùng, em đâu biết rằng anh đang phải vật lộn với chính bản ngã bất kham của mình thế nào. Anh vốn không phải là người thực sự cao thượng, bởi việc từ bỏ bất kỳ mục tiêu ấp ủ nào cũng luôn đòi hỏi một cuộc chiến, và anh thì quá thường xuyên nhận ra mình là kẻ thua cuộc. Lần đầu tiên anh không dám nhìn thẳng vào mắt em cho đến khi em đắm chìm vào mắt anh bằng biểu cảm tha thiết và ngây thơ ấy, thứ đã nhiều lần khiến anh có cảm giác như chúng ta đang đứng đó rũ bỏ cả thể xác, hòa quyện tâm hồn với tâm hồn.
Lời nói thì anh có thể kiểm soát, nhưng trái tim thì không. Nó trỗi dậy mạnh mẽ hơn cả ý chí, nhanh hơn cả suy nghĩ, và đáp lại em. Sylvia, nếu trong ánh mắt kiên định đó của em có lấy một tia tự giác, một chút hổ thẹn, sợ hãi hay bối rối của thiếu nữ, anh đã nhận em làm của riêng mình rồi. Nhưng chẳng hề có điều gì như thế cả; và dù em để anh đọc thấu khuôn mặt mình như một cuốn sách mở, em chưa bao giờ mảy may ngờ ngợi về sức nặng hùng hồn ẩn chứa trong đó. Một trái tim ngây thơ, đã yêu mà chưa học cách nhận ra điều đó. Anh nhận ra điều ấy ngay tức khắc, thấy rằng chỉ cần vài lần hội ngộ như thế nữa thôi là em cũng sẽ tự mình nhận ra điều đó, và anh càng cảm thấy mãnh liệt hơn bao giờ hết rằng nếu hành động đúng đắn với em, hành động cao thượng với Geoffrey thực sự cần được thực hiện, thì đó phải là lúc này. Bởi vì đó chính là khoảnh khắc duy nhất mà trái tim hãy còn ngái ngủ của em có thể chìm vào giấc ngủ không đau đớn một lần nữa, nếu anh không làm phiền nó, và cứ thế mơ mộng cho đến khi Geoffrey đánh thức nó dậy, để tìm thấy một người chủ dịu dàng hơn những gì anh có thể mang lại cho nó.
– Không thể nào đâu, Adam; anh đã đánh thức nó hoàn toàn rồi, và nó đã khóc thét vì anh suốt bao lâu nay, vô cùng cay đắng — ôi, sao anh không đến để đáp lại tiếng gọi ấy sớm hơn chứ?
– Làm sao anh có thể khi mà một năm chưa trôi qua? Chẳng phải anh đang tuân theo lời em khi giữ lời thề nguyền chết tiệt đó sao? Chúa thừa biết anh đã mắc bao nhiêu sai lầm, nhưng anh nghĩ sai lầm ngớ ngẩn nhất chính là lời hứa đó; và sự thiếu tầm nhìn xa trông rộng nhất chính là niềm tin ấy. Anh có quyền gì để trói buộc đôi môi mình, hay cố gắng kiểm soát tình yêu chứ? Liệu anh có bao giờ học được cách làm trọn vẹn công việc của chính mình, thay vì cứ xen vào công việc của Chúa trời hay không? Sylvia, hãy gột rửa con quỷ ngạo mạn và hách dịch này ra khỏi người anh cho kịp lúc, kẻo anh lại lầm đường lạc lối một cách mù quáng sau khi em đã là của anh giống như những gì anh đã làm trước đây. Giờ thì hãy để anh nói nốt trước khi Mark đến tìm chúng ta. Em biết đấy, anh đã ra đi, vừa đi vừa hát vang khúc biệt ly mà anh không dám thốt lên, và suốt chín tháng trời anh đã giữ cho tâm trí mình được tỉnh táo và vững vàng bằng bất cứ công việc gì mà đôi tay này tìm thấy được. Nếu công việc của anh có được ban phước thì đó chính là nhờ điều đó, bởi anh đã dồn vào đó nỗ lực lớn nhất trong cuộc đời mình. Dù đã từ bỏ em, anh vẫn giữ lại tình yêu dành cho em; để nó bùng cháy ngày lẫn đêm, nuôi dưỡng nó bằng lao động và lời cầu nguyện, với niềm tin rằng trái tim ích kỷ này của anh có thể được đúc lại và trở thành một chiếc bình chứa xứng đáng hơn cho một báu vật trường tồn. Vào tháng Năm, khi ở tận miền Tây, anh đã gặp một người phụ nữ quen biết Geoffrey; cô ấy mới gặp cậu ấy gần đây, và hay tin cậu ấy đã mất em. Cô ấy là họ hàng của cậu ấy, còn anh là bạn của cậu ấy, và qua mối quan tâm chung dành cho cậu ấy, sự tâm sự này đã diễn ra một cách tự nhiên. Khi cô ấy kể cho anh nghe điều đó, niềm hy vọng bùng cháy lên và đủ loại tưởng tượng điên rồ ám ảnh anh. Tình yêu vốn kiêu ngạo, và anh nuôi dưỡng niềm tin rằng ngay cả anh cũng có thể thành công ở nơi mà Geoffrey đã thất bại. Em còn quá trẻ, em khó lòng mà dễ dàng bị chinh phục bởi bất kỳ ai khác, nếu như một người đàn ông như thế đã cất lời cầu xin trong vô vọng, và một sự thật dần chiếm lĩnh tâm trí anh rằng em đã hiểu, đã yêu, và vẫn đang chờ đợi anh. Một khoảng thời gian một tháng tựa như một cõi vĩnh hằng phải chờ đợi, nhưng anh chẳng để cho bản thân một khoảnh khắc nào để tuyệt vọng, và chẳng mấy chốc quay mặt hướng về Cuba, tìm lại niềm hy vọng trên đường đi. Gabriel đi cùng anh, kể cho anh nghe về việc Ottila đã tìm kiếm anh như thế nào, và khi không tìm thấy đã quay về để chuẩn bị cho sự trở lại của anh. Rằng cô ấy đã cố gắng để trở thành tất cả những gì anh mong muốn ra sao, và anh không xứng đáng với cô ấy nhường nào. Điều này cũng tốt, nhưng việc nhắc đến tên em còn tuyệt vời hơn thế, và sau rất nhiều câu hỏi gặng dò kỹ lưỡng, anh đã hình dung lại cảnh tượng mà cậu ấy ghi nhớ, bởi vì Ottila đã mắng mỏi cậu ấy rất nhiều vì đã tiết lộ mọi chuyện với chính em. Hiểu rõ về em đến vậy, anh đã nhặt nhạnh rất nhiều từ những chuyệnn vụn vặt chẳng có ý nghĩa gì trong mắt Gabriel. Anh cảm thấy sự quan tâm dành cho anh, dẫu chẳng mấy tha thiết, chính là động lực thôi thúc em quan tâm đến họ; và từ những sự thật mà Faith cùng Gabriel cung cấp, anh đã tự xây dựng cho mình một ngôi nhà, nơi anh vẫn sống như một vị khách cho đến tận bây giờ, khi anh biết mình chính là chủ nhân của nó và nhiệt thành chào đón nữ chủ nhân thân yêu của mình, người vợ bé bỏng của anh.
Hắn cúi xuống để trao cho cô một cái ôm trìu mến, nhưng Sylvia đã ngăn hắn lại.
– Vẫn chưa đâu, Adam! Vẫn chưa được đâu! Nói tiếp đi, trước khi quá muộn để kể cho em nghe theo cách anh muốn.
Hắn nghĩ đó chỉ là chút e thẹn thông thường của con gái, và dù mỉm cười trước điều đó, hắn vẫn tôn trọng nó, bởi chính sự rụt rè ấy giữa muôn vàn nét thất thường của cô luôn là một trong những điểm thu hút của cô trong mắt hắn.
– Đồ ngượng ngùng! Rồi anh sẽ thuần hóa được em, và kéo em về phía mình một cách đầy tin tưởng hệt như cách anh dụ con chim đậu vào lòng bàn tay để ăn mồi vậy. Em không được sợ anh đâu đấy, Sylvia, nếu không anh sẽ trở nên độc đoán đấy; vì anh ghét sự sợ hãi, và thích giẫm nát bất cứ thứ gì không dám đứng vào vị trí của mình một cách dũng cảm, với niềm tin chắc rằng nó sẽ nhận được sự đền đáp xứng đáng tựa như những cụm rêu nhỏ bé này bám víu giữa tầng mây và tìm thấy dòng suối nuôi sống chúng ngay cả trong khe đá. Giờ thì anh sẽ kết thúc chuyện này thật nhanh chóng, dẫu việc ngồi đây cảm thấy mình không còn là một kẻ lang thang cô độc thật dễ chịu biết bao. Anh sẽ tha cho em những cảnh tượng giông bão mà anh từng trải qua với Ottila, bởi vì anh chẳng màng nghĩ đến nàng Cleopatra của mình khi đang ôm "tinh linh Ariel bé nhỏ của anh" trong vòng tay. Cô ấy đã cố gắng hết sức, nhưng nếu trái tim anh vẫn tự do thì anh cũng chẳng bao giờ cưới cô ấy. Cô ấy là một trong số những bản tính bất kham mà chỉ có Chúa mới có thể cai quản; anh không dám làm thế, ngay cả khi anh tưởng mình đã yêu cô ấy, bởi vì dù yêu quyền lực đến đâu anh vẫn yêu sự thật hơn. Anh đã nói với cô ấy điều đó, phải nghe những lời cầu xin, trách móc, đe dọa và lên án; cố gắng rời bỏ cô ấy một cách tử tế, để rồi sau đó sẵn sàng đón nhận số phận gắn liền với em. Nhưng anh đâu dễ gì đạt được ý nguyện. Anh đã sa vào chiếc lưới ấy, và không thể thoát ra cho đến khi phải chịu đựng những đòn roi trừng phạt. Hệt như người lữ hành Thiên Chúa giáo trong câu chuyện kia, anh đã cất tiếng kêu than, nhẫn nhịn, và vì thế mà trở nên mềm mỏng hơn. Anh đã phải chờ đợi một chút trước khi tàu nhổ neo; anh không muốn ở lại El Labarinto, nhà của Gabriel, vì Ottila đang ở đó; và dù cơn sốt hoành hành ở Havana, anh vẫn thấy an tâm với thể trạng khỏe mạnh vốn chưa từng suy suyển trước nay của mình. Anh đã quay lại đó, và phải trả giá; những tuần lễ đớn đau đã dạy cho anh biết rằng anh không thể đùa giỡn với thể xác này của mình, dẫu nó có vẻ tráng kiện đến đâu đi nữa.
– Ôi, Adam, ai đã chăm sóc anh vậy? Anh đã nằm lại và chịu đựng tất cả khoảng thời gian đó ở đâu?
– Đừng bận tâm về điều đó làm gì; anh không bị bỏ mặc đâu. Một nữ tu thuộc dòng "Trái Tim Thiêng Liêng" đã chăm sóc anh rất chu đáo, và một bệnh viện cũng tốt chẳng khác gì cung điện khi người ta chẳng còn biết hay quan tâm mình đang ở đâu nữa. Mọi chuyện đối với anh có lẽ rất gian nan; nhưng vì quyết tâm sống sót, anh đã chiến đấu đến cùng. Thần Chết đã nhìn anh, thấy thương hại, rồi đi lướt qua. Có một câu tục ngữ ở Haiti chắc chắn sẽ anủi em nếu anh lúc này chỉ là một cái bóng gầy guộc so với trước kia: "Một kẻ tự do gầy gò vẫn tốt hơn một tên nô lệ béo tốt." Nụ cười đầu tiên mà anh thấy xuất hiện trên môi em kìa; nhưng mẩu tin tức tiếp theo của anh có lẽ sẽ làm em cau mày đấy, anh nghĩ thế. Khi anh đủ khỏe để lê bước ra ngoài, anh hay tin Ottila đã kết hôn. Chắc hẳn em đã nghe được lời đồn đại ấy, nhưng chắc không biết tên tuổi, bởi vì tên của Gabriel và của anh đã hòa quyện vào nhau một cách kỳ lạ trong tâm trí nhiều người do sự biến mất đột ngột của anh và sự xuất hiện của cậu ta trong vai trò chú rể. Đúng là phong cách của cô ấy — cô ấy đã chuẩn bị sẵn sàng cho anh cứ như thể chắc mẩm rằng anh sẽ lấp vào chỗ trống mà anh đã bỏ lại, với hy vọng rằng sự tự tin đó của cô ấy sẽ tạo ra tác động thích hợp lên anh. Nó thực sự đã làm anh phiền lòng sâu sắc, nhưng một trải nghiệm đã qua đi thì cũng giống như chưa từng tồn tại, ít nhất là khi xét đến sự hối tiếc hay dao động; do đó những chiếc váy cưới hay những người phụ nữ hách dịch đều chẳng thể lay chuyển nổi anh. Việc bị bỏ lại trong vai một cô dâu không chú rể đã cứa sâu vào lòng kiêu hãnh rực lửa ấy hơn cả bất kỳ sự hổ thẹn hay tội lỗi thực sự nào. Người ta sẽ thương hại cô ấy, sẽ nhìn thấy sự mất mát của cô ấy, sẽ chế nhạo sự bướng bỉnh dại dột của cô ấy. Gabriel yêu cô ấy theo cách mà cô ấy muốn được yêu, một cách mù quáng và say đắm; rất ít người biết về mối ràng buộc sau này của chúng tôi, nhưng nhiều người biết về lễ đính ước, vậy tại sao lại không để thế giới tin rằng anh chính là kẻ bị từ chối quay lại để đưa ra lời thỉnh cầu cuối cùng chứ? Anh đã tránh mặt tất cả những ai từng quen biết, bởi vì anh căm ghét nơi chốn đó; chẳng ai phát hiện ra anh ở bệnh viện, cô ấy nghĩ anh đã đi rồi, cô ấy đã dũng cảm thực hiện bước đi đó, kết hôn với cậu thanh niên tội nghiệp, rời khỏi Cuba trước khi anh kịp bình phục, và tự giành lấy cho mình một chiến thắng trống rỗng mà anh sẽ chẳng bao giờ phá vỡ.
– Thật kỳ lạ làm sao! Thế nhưng em có thể tin điều đó ở cô ấy, cô ấy trông giống một người phụ nữ dám làm mọi thứ. Thế rồi anh đã quay lại, Adam, là để tìm em sao? Điều gì đã dẫn anh đến đây, với hy vọng tràn trề nhưng lại biết quá ít điều như thế?
– Em đã bao giờ thấy anh làm việc gì theo lối thông thường chưa? Chẳng phải anh luôn nhắm thẳng vào thứ mình muốn và theo đuổi nó bằng con đường ngắn nhất đó sao? Nó thường thất bại, và anh lại quay về với con đường chậm hơn nhưng chắc chắn hơn; nhưng con đường của riêng anh luôn được thử nghiệm đầu tiên, tự phát hệt như cách anh lao mình xuống sườn dốc kia, cứ như đang tấn công một pháo đài thay vì đi gặp người thương. Đó là một từ ngữ xưa cũ xinh đẹp được yêu mến bởi những người đàn ông tốt hơn anh, thế nên hãy để anh dùng nó một lần. Trong số những người đầu tiên anh gặp khi đặt chân lên bờ là một người quen của cha em; ông ấy đang lái xe rời đi vội vã, nhưng thoáng thấy gương mặt quen thuộc, anh chợt nhớ ra đây là mùa du lịch hè, có lẽ em đang đi vắng, và không ai khác có thể khiến anh thỏa mãn; ông ấy có lẽ sẽ biết, và như thế sẽ tiết kiệm được thời gian. Anh chỉ hỏi một câu: "Gia đình Yule đâu rồi?" Ông ấy đáp khi vừa biến mất: "Mọi người trẻ tuổi đều ở trên núi cả." Thế là đủ, và tự chúc mừng bản thân vì sự trắc lượng đã giúp anh tiết kiệm được vài trăm dặm đường vòng vô ích, anh lập tức lên đường, và suốt mấy ngày nay anh đã tìm kiếm em khắp mọi nơi ở sườn bên kia của ngọn núi này, nơi anh rành rẽ biết bao. Nhưng chẳng có gia đình Yule nào đi qua cả, và chắc mẩm rằng em đang ở sườn này nên anh đã đến, không đi đường vòng mà băng thẳng qua đây, bởi đây tựa như con đường hoàng gia dẫn đến tình yêu của anh, và ở đây anh đã tìm thấy người thương đang chờ đợi mình dọc đường. Giờ thì Sylvia, mọi nghi ngờ của em đã được giải đáp, mọi sợ hãi đã được dẹp bỏ, và trái tim em đã an yên bên cạnh anh chưa?
Khi thời gian trôi về những phút cuối, nhiệm vụ trước mắt khiến Sylvia cảm thấy chùn bước. Warwick quá tự tin, quá đỗi vui mừng và trìu mến với cô, thốt ra những lời cay đắng "Đã quá muộn rồi" chẳng khác nào tuyên án tử hình. Trong lúc cô đang giấu mình tìm kiếm một cách diễn đạt vừa ân cần vừa trọn vẹn để nói lên tất cả, Adam, dường như đọc được chút manh mối về rắc rối của cô, bèn cất lời hỏi bằng giọng điệu dịu dàng vốn đã thay thế cho vẻ bộc trực trước kia, và sự tương phản ấy lại càng làm nó thêm phần cuốn hút:
– Có phải anh đã quá kiêu ngạo trong vai trò một kẻ si tình? Quá chắc chắn về hạnh phúc, quá mù quáng trước những giá trị nhỏ nhoi của bản thân? Sylvia, có phải anh đã hiểu lầm sự chào đón mà em dành cho anh rồi không?
– Vâng, Adam, hoàn toàn hiểu lầm rồi.
Hắn nhíu mày, ánh mắt trở nên lo âu, sự thỏa mãn dường như vỡ vụn một cách phũ phàng, nhưng hắn vẫn đầy hy vọng mà cất lời:
– Ý em là sự xa cách đã làm thay đổi em, rằng em không còn yêu anh như trước nữa, và lòng trắc ẩn đã khiến em trở nên dịu dàng? Được rồi, anh chấp nhận sự thất vọng này, nhưng anh không từ bỏ mong muốn của mình. Chuyện gì đã qua có thể lặp lại; hãy để anh cố gắng chinh phục em một lần nữa; hãy dạy anh cách trở nên nhún nhường, kiên nhẫn, tất cả những gì anh cần để khiến bản thân trở nên đáng yêu hơn trong mắt em. Có điều gì đang làm phiền lòng em, hãy thành thật với anh đi; anh đã phơi bày toàn bộ trái tim mình cho em thấy, còn em có gì để đáp lại anh nào?
– Chỉ điều này thôi.
Cô rút hẳn tay khỏi vòng tay hắn và giơ cao bàn tay trước mặt hắn. Hắn không nhìn thấy chiếc nhẫn; hắn nghĩ cô đang trao cho mình tất cả những gì hắn đòi hỏi, và với một nỗi niềm biết ơn ngập tràn, hắn chìa cả hai tay ra để đón lấy nó. Thế rồi cô nhận ra sự chần chừ còn tồi tệ hơn cả sự yếu đuối, và dẫu run rẩy, cô vẫn cất lời dũng cảm để chấm dứt sự lửng lơ của hắn ngay lập tức.
– Adam, em không còn yêu anh như trước nữa, và em cũng không thể mong muốn hay cố gắng tìm lại cảm giác đó, bởi vì — em đã kết hôn rồi.
Hắn vùng đứng dậy tựa như vừa trúng đạn xuyên qua tim, và ngay cả một viên đạn thực sự từ tay cô cũng chẳng thể làm hắn hoảng sợ với nỗi kinh hoàng tột độ hơn ba từ ngắn ngủi ấy. Một khoảnh khắc ngờ vực, rồi sự thật giáng xuống đầu hắn, và hắn đối diện với nó như một người đàn ông thực thụ, bởi vì dù khuôn mặt tái nhợt và ánh mắt bùng cháy với một biểu cảm cứa nát tâm can cô, hắn vẫn điềm tĩnh chất vấn:
– Với ai?
Đây là câu hỏi khó khăn nhất trong tất cả, bởi cô thừa hiểu cái tên đó sẽ gây ra vết thương sâu sắc hơn chính bởi sự thân thương của nó, và trong lúc cái tên ấy còn vương vấn đầy xót xa trên môi cô, chính chủ nhân của nó đã tự cất lời đáp. Tiếng kèn ngân lên trong trẻo và ngọt ngào, mang đến cho họ một giai điệu quen thuộc mà cả hai đều yêu mến và từng thường xuyên cùng nhau ca hát. Warwick nhận ra nó ngay tức khắc, cảm nhận được sự thật phũ phàng nhưng lại chống cự lại nó, và giơ tay ra như muốn gạt phăng đi khi hắn thốt lên với nỗi đau đớn thực sự hiện hữu trên nét mặt lẫn giọng nói:
– Ồ, Sylvia! Không thể nào là Geoffrey được đúng không?
– Vâng.
Rồi, tựa như toàn bộ sức lực đã rời bỏ cơ thể, cô ngã khuỵu xuống rìa thảm rêu bên dòng suối và lấy tay che mặt lại, cảm thấy rằng khoảnh khắc cay đắng đỉnh điểm của một nỗi đau thế này không phải là thứ để những đôi mắt phàm trần chứng kiến. Đã bao nhiêu phút trôi qua cô chẳng thể hay biết, sự tĩnh lặng của chốn này vẫn vẹn nguyên chẳng bị phá vỡ bởi bất kỳ âm thanh nào ngoại trừ tiếng gió thì thầm, và trong sự tĩnh lặng ấy, Sylvia có đủ thời gian để kinh ngạc trước sự bình thản đã đến với mình. Bản thân cô đã bị lãng quên trong sự ngỡ ngàng và đồng cảm, và tâm trí cô lúc này vẫn chỉ hướng về một suy nghĩ duy nhất: làm sao để an ủi Warwick. Cô đã mường tượng ra một trận bùng nổ cảm xúc nào đó, một cơn giận dữ hay tuyệt vọng dữ dội, thế nhưng chẳng có lấy một tiếng thở dài hay tiếng nức nở, chẳng có lời trách móc hay nuối tiếc nào vươn tới được chỗ cô, và chẳng mấy chốc cô lén lút liếc nhìn sang với vẻ lo âu để xem tình hình hắn thế nào. Hắn vẫn đang đứng ở nơi cô vừa rời đi, hai bàn tay đan chặt vào nhau đến mức trắng bệch vì sức nén đầy phẫn uộ. Đôi mắt hắn dán chặt vào một vật thể vô định nào đó với một cái nhìn vừa khẩn khoản vừa vô hồn, và qua những khung cửa sổ của tâm hồn ấy, hắn nhìn ra ngoài tối tăm, không phải trong sự tuyệt vọng; mà cứ như thể hắn đinh ninh rằng đâu đó ngoài kia vẫn có sự cứu rỗi dành cho mình, và hắn đang chờ đợi nó với một sự kiên nhẫn lạnh lùng đáng sợ hơn cả nỗi đau giông bão nhất. Sylvia không thể chịu đựng được cảnh ấy, và nhớ rằng lời thú nhận của mình vẫn chưa được trọn vẹn, cô chớp lấy khoảnh khắc đó để thực hiện mục đích, được thúc đẩy bởi một bản năng mách bảo rằng việc thấu hiểu nỗi đau của cô sẽ giúp hắn vơi bớt phần nào gánh nặng của chính mình.
Cô kể cho hắn nghe tất cả, rồi kết thúc bằng câu nói:
– Giờ thì, Adam, hãy đến bên em và để em tìm cách an ủi anh.
Sylvia đã đúng; bởi vì xuyên qua lớp sương mù đau thương mang lại sự lu mờ ngắn ngủi cho hy vọng và dũng khí, sự đồng cảm đã vươn tới chỗ hắn tựa như một bàn tay thân thiện nâng đỡ hắn cho đến khi hắn tìm lại được ánh sáng. Trong lúc cô cất lời, cô đã nhìn thấy sự bất động đáng sợ lúc nãy vỡ òa, toàn bộ khuôn mặt Warwick bừng lên và run rẩy trước một luồng cảm xúc không thể kiểm soát thêm được nữa. Nhưng màn bộc lộ sau đó lại là điều cô chưa từng nghĩ tới sẽ có ngày được chứng kiến ở hắn, bởi khi cô dang rộng đôi tay về phía mình với lời mời gọi đầy âu yếm ấy, cô nhìn thấy đôi mắt sâu thẳm ngấn lệ rồi trào ra. Ngay sau đó, hắn gục xuống trước mặt cô, và lần đầu tiên trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, cô phải chứng kiến hình ảnh đau thương ấy của kiếp người: một người đàn ông khóc rấm rứt như một đứa trẻ.
Warwick vốn là người có những niềm đam mê cũng như đức tính hòa hợp hoàn hảo với thể chất tráng kiện mà anh mang trên mình, và trong một cuộc khủng hoảng như hiện tại, anh chỉ có một trong hai lối thoát khả dĩ: hoặc là những lời lên án đầy thị nộ, những lời chất vấn và tuyệt vọng, hoặc là sự buông thả hoàn toàn của một đứa trẻ. Chống lại vế đầu tiên, anh đã vật lộn trong câm lặng cho đến khi những lời của Sylvia làm đổi chiều dòng chảy, và vì quá đỗi chân thật để cảm thấy một chút hổ thẹn trước điều vốn không phải là điểm yếu mà là sức mạnh, quá khôn ngoan để từ chối một lối thoát an toàn cho nỗi đau nguy hiểm đến thế, hắn đã buông xuôi, để cho phép màu nhân từ của những giọt nước mắt dập tắt ngọn lửa, gột rửa đi sự cay đắng ban đầu, và chỉ để lại những hờn ghen được viết trên làn nước. Mọi chuyện cứ thế sẽ tốt hơn, và Sylvia tự thầm thừa nhận điều đó khi cô ngồi đó lặng câm bất động, nhẹ nhàng chạm vào mái tóc nâu xõa tung trên thảm rêu, sự an ủi tội nghiệp của cô bị nhấn chìm trong vẻ bi ai của khung cảnh, trong khi bao trùm lên tất cả là tiếng kèn lúc ẩn lúc hiện văng vẳng bên tai, thực sự đúng là "một lời nhắc nhở ngọt ngào không được đi lang thang rồi lạc mất chính mình". Một tiếng đồng hồ trước, đó sẽ là một âm thanh đáng mừng, bởi từng đỉnh núi này đến đỉnh núi khác sẽ cùng vang vọng lại khúc nhạc, và những tiếng nói hư ảo sẽ thì thầm theo cho đến khi tiếng thì thầm mờ nhạt nhất cũng lụi tàn. Nhưng giờ đây, cô để mặc nó vút bay và thở dài trong tiếng được tiếng mất, bởi duy nhất bên tai cô vẫn vang vọng thứ âm thanh đi kèm đầy buồn bã của những giọt nước mắt con người cay đắng. Đối với Warwick, nó còn mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều; bởi âm nhạc, vị thần an ủi, đã xức thứ dầu xoa dịu lên trái tim đang rỉ máu của anh theo cách mà lòng trắc市镇 của người trần mắt thịt chẳng thể nào làm nổi, đồng thời tạo nên phép màu biến người bạn tưởng chừng đã cướp mất tình yêu của mình thành một nàng Orpheus vô thức, người đã thuần hóa được phần dã thú và mang lại sự hòa hợp cho tâm hồn con người. Chẳng mấy chốc, anh đã tìm lại chính mình, bởi đối với những ai cưu mang những đức tính mạnh mẽ bằng sự kiên nhẫn thiết tha, sẽ chẳng có tai họa bền lâu nào có thể giáng xuống, chẳng nỗi thống khổ nào có thể quật ngã hoàn toàn, và chẳng cám đỗ nào có thể chiến thắng trọn vẹn. Anh đứng dậy với đôi mắt trong trẻo hơn sau trận mưa giông bão, mạnh mẽ gấp bội vì đã dám dũng cảm trở thành một đứa trẻ một lần nữa. Khiêm nhường hơn và hạnh phúc hơn nhờ nhận thức được rằng không một sự phẫn uận hão huyền hay lời buộc tội bất công nào có tước đoạt đi phẩm giá của khoảng thời gian nặng nề bỏ lại anh trong sự cô độc nhưng không hề bị vấy bẩn.
– Anh được an ủi rồi, Sylvia, hãy tin là thế đi. Và giờ thì chẳng còn mấy điều để nói nữa, chỉ còn một việc phải làm mà thôi. Anh sẽ chưa gặp chồng em đâu, và để em tự mình nói lại những gì em cho là tốt nhất, bởi vì với bản năng của loài vật, anh luôn chọn cách rời đi để một mình vượt qua những vết thương lòng. Nhưng hãy nhớ rằng anh không hề trách cứ em, và tin rằng anh rồi sẽ hạnh phúc trong chính hạnh phúc của em. Anh biết nếu Geoffrey ở đây, cậu ấy cũng sẽ để anh làm thế, bởi vì cậu ấy cũng từng chịu đựng những tổn thương hệt như anh lúc này.
Cúi người xuống, anh ôm trọn cô vào lòng trong một cái ôm khác biệt hoàn toàn với cái ôm trước, khác như sự tuyệt vọng cách xa niềm vui vậy, và trong lúc giữ cô ở đó, dồn nén vào một phút ngắn ngủi tất cả nỗi đau cùng sự cuồng nhiệt của một năm trời, cô nghe thấy một tiếng nấc nghẹn ngào nhưng đắng ngắt đến tột cùng — "Ồ, Sylvia của anh! Thật khó khăn biết bao khi phải buông tay em." Rồi với một sự mãn nguyện thiêng liêng, thứ trấn an cô hệt như trấn an chính bản thân mình, anh cất lời rõ ràng và dõng dạc:
– Tạ ơn Chúa vì cõi Vĩnh Hằng đầy khoan dung, nơi chúng ta có thể chuộc lại những lầm lỗi đã gây ra ở chốn này.
Nói đoạn, hắn quay bước rời đi, chẳng màng ngoảnh lại cho đến khi chiếc gánh nặng vừa được trút bỏ đầy vui sướng ấy lại được khoác lên người. Rồi với gậy và mũ trên tay, hắn dừng lại bên mép chiếc chén đá hoa cương, đối với hắn đó chính là chiếc chén của muôn vàn sầu muộn, và nhìn thấu xuống đáy sâu thẳm ấy một lần nữa. Những đám mây đang ùn ùn kéo về phía đông, nhưng giữa khoảnh khắc dừng chân ấy, ánh mặt trời bỗng chiếu rọi toàn bộ vóc dáng của Warwick, nâng phần đầu uy nghi của anh chìm trong một dòng thác ánh sáng, trong khi anh vẫy tay chào Sylvia với một cử chỉ đầy dũng khí và lạc quan. Cái nhìn ấy, hành động ấy, và cả những ký ức mà chúng mang lại đã bóp nghẹt trái tim cô với một niềm đau nhói buốt hơn cả sự xót xa, đồng thời làm khóe mắt cô cay xè những giọt nước mắt hối tiếc bất lực, trong khi cô quay đầu đi như để trách cứ âm thanh kèn cor vui tươi đang réo rắt. Khi cô ngước nhìn lại lần nữa, cả bóng hình ấy lẫn ánh nắng vàng đều đã biến mất, để lại cô trơ trọi một mình trong vùng bóng râm.