Chúng tôi nằm trên toa tàu hàng có lò sưởi bằng than. Chỉ có hai toa tàu ở trên là toa hành khách. Một vị bác sĩ nhỏ nhắn, mặt mũi sáng sủa khôi ngô nhưng có vẻ rất mệt mỏi, sau lần khám đầu tiên liền ra lệnh chuyển tôi tới toa đầu. Từ việc ấy tôi biết rằng tình trạng của tôi rất tồi tệ. Đầu, ngực, chân, tay của tôi đều quấn băng và lúc nào cũng phải nằm bất động như một con búp bê mẫm mạp, trắng toát. Mấy cô y tá chăm sóc chúng tôi dừng nói chuyện với nhau ở đầu toa: “Đến toa thương binh nặng mà lấy”. Như vậy là tôi đã bị liệt vào loại thương binh nặng rồi. Nhưng không biết từ đâu, từ trong óc hay từ trong tim, có một thứ gì đó đương hoạt động, tôi có cảm giác đó chính là hoạt động của sự sống. Nó đang bận rộn, tuy rất yếu ớt, song vẫn luôn luôn muốn sáng tạo ra một cái gì đó.
Tôi đã làm quen với những người xung quanh. Trong đó cũng có một cậu lái máy bay. Cậu ta còn trẻ lắm, trẻ hơn tôi nhiều. Tôi không muốn kể tỉ mỉ trường hợp bị thương của mình. Song cậu ta cứ nài nỉ mãi. Nhiều lần tôi nghe láng máng những lời kể của cậu ta qua những cơn mê ngắn:
- Em vừa thôi công kích thì nhìn thấy một tốp máy bay tiếp dầu của chúng. “Phải diệt bọn này mới được!” Em nghĩ bụng và liều nhắm đúng mục tiêu, ấn nút điện. “Được rồi”. Em lại nghĩ bụng “Mình không vọt lên cao thì sẽ bị thằng khác đến cắn trộm đây”. Em vừa kéo cần vọt lên thì cảm thấy có một thứ gì rất nặng đập vào người. Khi đạp lái, em cảm thấy bị hẫng như không có chân nữa. Em lại nghĩ ngay: “Chà, chân mình bị gãy mất rồi!” Nhưng em không dám nhìn xuống vì em rất sợ…
Máy bay cậu ấy lái là loại “Hải âu” và cậu ấy bị thương ở vùng trời huyện Borushan. Lúc đầu tôi ngỡ cậu ấy bị nặng hơn tôi. Sau mới biết tôi bị nặng hơn cậu ấy nhiều.
Người nằm bên cạnh tôi tên là Simakov. Tôi vừa nghe anh ta nói, vừa trông ra ngoài cửa toa tàu, nhìn những cánh đồng cỏ mùa thu, những ngôi nhà đất quét vôi trắng cùng những đám hướng dương trĩu bông bên cạnh đường sắt. Mọi việc trong toa tàu dường như rất nền nếp: cứ đến giờ là các cô y tá lại xách thùng canh rau ra, treo giữa toa. Chiếc thùng lắc lư, lắc lư chứng tỏ là đoàn tàu đang chạy. Mặc dù đoàn tàu của chúng tôi phải luôn luôn dừng lại để nhường đường cho các đoàn tàu chở vũ khí ra mặt trận, nhưng tuy chậm nó vẫn đang tiến về phía trước.
Nhưng cũng có những cảnh tượng khác hẳn. Đoàn tàu của chúng tôi không đơn thuần chỉ chở thương binh, mà đằng sau còn kéo theo nhiều toa trần chở máy móc. Nhà bếp trên tàu bị hỏng nên phải chờ đến ga mới mua được sữa và khoai. Đồng chí bác sĩ người thấp bé phải gào thét luôn mồm để giữ trật tự. Anh ta đang rút súng lục để dọa một người nào đấy. Trên toa tàu chở khách, các bà tản cư chen lấn nhau đứng chật ních ở cửa lên xuống và lối đi, tay ôm chặt gói đồ đạc của mình.
Đoàn tàu của chúng tôi đỗ lại ở một ga khá lớn, đường sắt chằng chịt.
… Hàng đàn ruồi từ ngoài cửa sổ bay ùa vào. Khi tôi tỉnh dậy vì nóng nực và ngột ngạt thì thấy chúng bâu đen đặc vào chiếc băng của tôi, xua đuổi thế nào chúng cũng không chịu bay xa. Lúc này là vào giữa trưa. Từ cửa sổ toa tàu nhìn ra thấy trước mặt là những đám lúa mạch vuông vắn.
… Mới mấy ngày trước đây, tôi còn có thể từ trên máy bay quan sát những cảnh tượng rộng lớn mà những người chỉ tham gia chiến đấu ở dưới đất không thể nào nhìn thấy hết được. Lúc ấy tôi nghĩ như vậy. Lúc ấy cảnh rút lui của chúng ta, dưới con mắt của tôi, như những công thức đại số được khai triển. Còn bây giờ những công thức ấy đã biến thành vật có sức sống, trở thành hiện thực.
Giờ đây tôi không còn được nhìn thấy cuộc rút lui của chúng ta từ trên độ cao sáu nghìn mét nữa. Ngay bây giờ tôi cũng đang rút lui. Tôi cảm thấy trong người rất khó chịu, vì vết thương tấy lên, vì khát, vì nóng bức, vì những ý nghĩ buồn phiền, vì đàn ruồi lì lợm cứ lao vào chỗ có vết thương.
Chiều. Hình như lúc này đoàn tàu đã bắt đầu lăn bánh vì chiếc thùng đựng canh rau lại lắc lư rất nhịp nhàng. Ánh chiều chiếu từng tia chênh chếch vào cửa sổ toa tàu, qua ánh sáng hồng hồng của nó, có thể nhìn thấy những làn bụi bốc lên ở chung quanh. Có tiếng ai đó rên, tuy khẽ thôi, nhưng nghe rất xao xuyến. Tôi thử gọi người nằm bên cạnh. Không, không phải anh ta rên. Hình như tôi đã từng nghe tiếng rên này ở đâu rồi thì phải?
Đột nhiên trước mặt tôi hiện ra rất nhiều bàn học và tôi nhìn thấy rất nhiều bộ mặt đang cười của trẻ em. Đây là một bài học rất lý thú, giảng về phong tục tập quán của người Chukchi. Nhưng cái cậu bé tóc đỏ có đôi mắt cách nhau rất xa ấy cứ lấy chiếc dao con cứa vào đầu ngón tay tôi thì tôi còn lòng dạ nào mà nghe giảng nữa!
- Romashka! – Tôi hét lên.
Anh ta giật mình và im bặt, tất nhiên vì ngạc nhiên.
- Cậu đấy ư, Cú mèo?
Anh ta nằm lăn lóc trong đám thương binh nằm dưới sàn, đầu bị che lấp dưới những cánh tay quấn đầy băng.
- Có việc gì thế? – Anh ta nhìn tôi nhưng chưa nhận ra tôi, nên hỏi giọng thận trọng.
Tôi cảm thấy anh ta tuy vẫn “sống vì riêng mình” như dì Dasha nói, nhưng bây giờ anh ta có vẻ đã khá hơn trước. Ít nhất thì anh ta cũng đã hết cái thói kênh kiệu kiểu cách rất buồn cười. Bây giờ mặt anh ta có phần hốc hác, xanh xao, hai tai lúc nào cũng đỏ rần như một thứ đồ chơi và con mắt bên trái luôn luôn lén lút liếc nhìn người này người khác.
- Không nhận ra mình nữa à?
- Không.
- Thế thì hãy nhớ lại đi.
Anh ta vốn là người không biết che giấu tình cảm của mình, lần này cũng vậy. Nhìn các cử chỉ của anh ta, tôi hiểu hết tình cảm của anh ta lúc này. Thoạt tiên anh ta lúng túng rồi kinh ngạc, sau đó thì sợ hãi đến nỗi hai hàm răng va vào nhau lập cập, và cuối cùng, bị chìm trong men tuyệt vọng.
- Xin lỗi, chẳng phải anh đã bị chết rồi sao? – Anh ta nói lúng búng trong miệng.