Tri thức cũng như việc tiên tri, có tính chất phủ định chứ không khẳng đinh, bớt ra chứ không thêm vào - Hiệu ứng Lindy về những thứ lâu đời thắng thế những thứ mới mẻ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ, bất kể ở California người ta nói gì - Nghề tiên tri không phải là một sự nghiệp tự nguyện, và người ta cũng không khuyên bạn nên theo đuổi.
Trái với trực giác ban đầu, khả năng cải thiện nghịch cảnh ngụ ý rằng những gì lâu đời sẽ ưu việt hơn so với những gì mới mẻ, và ưu việt hơn nhiều so với bạn nghĩ. Bất kể sự việc có vẻ ra sao, được tường thuật hay dở như thế nào, thời gian sẽ cho ta biết về tính mỏng manh của nó và phá vỡ nó khi cần thiết. Ở đây, tôi phơi bày căn bệnh thời hiện đại, gắn liền với chủ nghĩa can thiệp, gọi là chứng cuồng hiện đại (neomania); nó gây ra tính mỏng manh nhưng tôi tin có thể xử lý được nếu ta đủ kiên nhẫn.
Những gì còn tồn tại đến giờ ắt phải tốt đẹp để phục vụ một mục đích nào đó (thường là ngầm ẩn) mà thời gian có thể thấy nhưng mắt thường và khả năng logic của ta không chắc nắm bắt được. Trong chương này, ta sử dụng khái niệm tính mỏng manh làm động cơ dự đoán chính.
Hãy nhớ lại tính phi đối xứng triệt để: đối tượng có khả năng cải thiện nghịch cảnh hưởng lợi từ sự biến động và xáo trộn, đối tượng mỏng manh bị thiệt hại. Thế đấy, thời gian cũng hệt như sự biến động.
Xem như một bài tập phân biệt giữa tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh, ta hãy đóng vai nhà tiên tri, dẫu đó không phải là một chọn lựa nghề nghiệp tốt, trừ khi bạn có làn da dày, giới thân hữu chí cốt, ít truy cập Internet, một thư viện với những câu tục ngữ cổ xưa thâm thúy, và nếu có thể, có khả năng khai thác lợi ích cá nhân từ việc tiên tri của bạn. Như thể hiện qua thành tích quá khứ của các nhà tiên tri: trước khi bạn được chứng minh là đúng, bạn sẽ bị xỉ vả; sau khi bạn đã được chứng minh là đúng, bạn sẽ bị ghét bỏ trong một thời gian, hay tệ hơn, ý tưởng của bạn sẽ trở nên “tầm thường” do sự hồi tưởng méo mó sau khi sự việc xảy ra. Điều này làm cho phương pháp của Tony Béo - tập trung vào việc khai thác lợi ích vật chất thay vì tìm kiếm sự công nhận - trở nên thuyết phục hơn. Và cách đối xử đó vẫn tiếp diễn trong thời hiện đại: giới trí thức thế kỷ 20 nhận thấy những tư tưởng sai lầm, như kinh tế kế hoạch hóa vẫn mang tính chất thời thượng - và sách vở của họ vẫn nằm trên các kệ sách - trong khi những người như triết gia chính trị Raymond Aron không được quan tâm chú ý nhiều, ngay cả trước và sau khi ông được công nhận là đã nhìn nhận đúng sự việc.
Bây giơ bạn hãy nhắm mắt lại và thử hình dung ra những thứ xung quanh bạn trong tương lai khoảng 5, 10, hay 20 năm nữa. Dám chắc là óc tưởng tượng của bạn sẽ nghĩ ra những thứ mới mẻ, những thứ mà ta gọi là phát minh, cải tiến, công nghệ đột phá, và những ngôn từ khô khan nhàm chán khác trong thuật ngữ kinh doanh. Những khái niệm chung liên quan đến phát minh đổi mới này, như ta sẽ thấy, không chỉ chướng tai gai mắt về mặt thẩm mỹ, mà còn vô nghĩa trên phương diện thực nghiệm và triết học.
Tại sao? Thật lạ lùng là óc tưởng tượng của bạn sẽ bổ sung thêm nhiều thứ vào thế giới hiện nay. Rất tiếc, tôi phải nói rằng phương pháp bổ sung này thật sự là trì trệ: theo khái niệm tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh, cách làm xác đáng là bớt ra khỏi tương lai, nghĩa là bỏ bớt những thứ sẽ không còn tồn tại trong thời gian sắp tới. Phản đề, hay phủ định, hay phép trừ. Những gì mỏng manh cuối cùng sẽ đổ vỡ; và may thay, ta có thể dễ dàng nhận ra những gì mỏng manh. Các biến cố Thiên Nga Đen tích cực còn khó dự đoán hơn so với các biến cố Thiên Nga Đen tiêu cực.
“Thời gian có sức mạnh tàn phá mọi thứ,” nhà thơ Simonides xứ Ceos vào thế kỷ thứ 6 (trước Công nguyên) từng ngâm nga như thế, có lẽ bắt đầu cho truyền thống trong văn chương phương Tây về ảnh hưởng tàn nhẫn của thời gian. Tôi có thể tìm thấy vô số nỗi niềm tương tự, từ Ovid (tempus edax rerum - thời gian nuốt chửng mọi thứ) cho đến nữ thi sĩ Pháp gốc Nga Elsa Triolet thế kỷ 20 không kém phần lãng mạn (“thời gian thiêu rụi mà không để lại tàn tro”). Lẽ tự nhiên, bài tập này khoi nguồn cho dòng thơ lai láng, nên bây giờ tôi đang ngâm nga một bài thơ Pháp được phổ nhạc với tựa đề “Avec le temps”, thời gian xóa nhòa mọi thứ, ngay cả những hồi ức đau buồn (mặc dù bài thơ không nói rằng trong quá trình đó thời gian cũng xóa nhòa cả chúng ta). Bây giờ, nhờ vào hiệu ứng lồi, ta có thể đưa một chút khoa học vào đây, và tạo thành sự phân loại riêng về những gì sẽ bị phá hủy nhanh nhất bởi thời gian lạnh lùng. Những gì mỏng manh cuối cùng sẽ sụp đổ, và may thay, ta có thể nhận ra những gì mỏng manh. Thậm chí những gì ta tin là có khả năng cải thiện nghịch cảnh cuối cùng cũng sẽ lụi tàn, nhưng sẽ mất thời gian lâu hơn (rượu chát càng để lâu càng dịu ngọt, nhưng chỉ tới một thời điểm nhất định; và sẽ không được như thế nếu bạn để nó vào miệng núi lửa).
Tiếp nối câu thơ của Simonides bắt đầu đoạn trên là “ngay cả những gì vững chắc nhất.” Như vậy Simonides báo trước ý tưởng hữu ích rằng những thứ vững chắc nhất sẽ bị thời gian nuốt trôi một cách khó khăn hơn, nên mới bị sau cùng. Lẽ tự nhiên, ông không nghĩ rằng có những thứ có khả năng cải thiện nghịch cảnh nên sẽ không bao giờ bị thời gian nuốt chửng.
Bây giờ, tôi nhất quyết cho rằng phương pháp tiên tri phản đề là phương pháp duy nhất có giá trị: không có phương pháp nào khác mang lại sự dự báo mà không có một con gà tây ở đâu đó, nhất là trong môi trường phức hợp mà ta đang sống ngày nay. Tôi không nói rằng các công nghệ mới sẽ không xuất hiện - những gì mới lạ sẽ có những năm tháng huy hoàng nhất định. Những gì mỏng manh hiện nay sẽ được thay thế bằng những thứ khác, lẽ dĩ nhiên. Nhưng “những thứ khác” này là những thứ không thể dự đoán. Bất luận thế nào, những công nghệ mà bạn đang nghĩ tới không phải là những công nghệ làm nên tương lai, bất kể nhận thức của bạn về sự phù hợp và khả năng ứng dụng của nó như thế nào - tôi nói như thế bằng tất cả lòng tôn trọng óc tưởng tượng của bạn.
Nên nhớ rằng những thứ mỏng manh nhất là những thứ có thể dự đoán, và những gì được xây dựng dựa trên khả năng dự đoán - hay nói cách khác, những người đánh giá quá thấp các biến cố Thiên Nga Đen - cuối cùng sẽ biến mất.
Một nghịch lý có vẻ thú vị là, theo nguyên tắc này, những dự đoán dài hạn hơn sẽ đáng tin cậy hơn so với những dự đoán ngắn hạn, bởi lẽ ta có thể khá chắc chắn rằng những gì thiên về Thiên Nga Đen sẽ bị lịch sử nuốt chửng, vì thời gian làm tăng xác suất xảy ra những biến cố đó. Mặt khác, những dự đoán tiêu biểu (không liên quan đến những đối tượng mỏng manh hiện nay) thường giảm chất lượng theo thời gian; khi có tính phi tuyến, dự báo càng dài hạn thì độ chính xác càng giảm. Sai số của dự báo 10 năm, về doanh số của một nhà máy sản xuất máy tính hay lợi nhuận của một nhà buôn chẳng hạn, có thể gấp nghìn lần sai số của dự báo một năm.
HỌC CÁCH PHỦ ĐỊNH
Ta hãy xem xét việc dự báo tương lai đã được thực hiện xuyên suốt một thế kỷ rưõi vừa qua, như thể hiện qua các tác phẩm văn học của Jules Verne, H. G. Wells, hay George Orwell, hay trong những mẩu chuyện về tương lai hiện đã bị quên lãng của các nhà khoa học hay những người theo thuyết vị lai. Điều ấn tượng là, những công cụ dường như đang chi phối thế giới, như Internet, hay những thứ phàm tục hơn như bánh xe của chiếc vali trong tập IV, hoàn toàn không được đề cập tới trong những dự báo này. Nhưng sai lầm cơ bản không nằm ở đây. Vấn đề nằm ở chỗ, hầu hết mọi thứ từng được tưởng tượng không bao giờ xảy ra, ngoại trừ một vài giai thoại đã được khai thác quá đáng (như động cơ hơi nước của Hero xứ Alexandria hay phương tiện tấn công của Leonardo da Vinci). Thế giới của chúng ta hiện nay quá gần gũi với thế giới của người xưa, gần gũi hơn so với những gì họ từng hình dung hay mong muốn tưởng tượng. Và ta có xu hướng không nhìn thấy sự kiện đó - dường như không có một cơ chế điều chỉnh nào giúp ta nhận ra vấn đề khi ta cứ tiếp tục dự báo về một tương lai kỹ trị.
Có thể có một định kiến chọn lọc: những người mô tả tương lai thường có xu hướng mắc chứng cuồng hiện đại (không được điều trị và cũng chẳng thể chữa lành).
Tối nay, tôi sẽ gặp một người bạn tại một nhà hàng (những hiệu ăn nhỏ kiểu Hy Lạp tồn tại chí ít 25 thế kỷ rồi). Tôi sẽ đi bộ đến đó với đôi giày không khác lắm so với đôi giày mòn vẹt 5.300 năm trước đây của một xác ướp được khai quật từ một sông băng trên vùng núi Alps thuộc Áo. Ở nhà hàng, tôi sẽ dùng những bộ đồ ăn bằng bạc, một công nghệ vùng Lưỡng Hà, xứng đáng là một “công nghệ đột phá” nhờ những việc mà nó giúp tôi làm được với chiếc đùi cừu, ví dụ như xắn thịt cừu ra thành từng miếng mà không bị bỏng tay. Tôi sẽ uống rượu vang, một chất lỏng đã được sử dụng chí ít 5 thiên niên kỷ nay. Rượu vang sẽ được rót vào những chiếc ly thủy tinh, một phát minh mà các đồng bào Libăng của tôi xác nhận rằng xuất phát từ tổ tiên người Phoenicia của mình, và nếu bạn không đồng ý về nguồn gốc này, chúng tôi có thể nói rằng các đồ vật bằng thủy tinh đã được họ mua bán như những vật nữ trang rẻ tiền ít nhất qua 2.500 năm nay. Sau món ăn chính, tôi sẽ có một công nghệ mới hơn một chút, phô mai sản xuất thủ công, và phải trả giá cao hơn cho những thứ mà việc sản xuất chúng chẳng thay đổi gì qua nhiều thế kỷ.
Nếu có ai đó vào năm 1950 dự đoán về một cuộc gặp gỡ nho nhỏ như vậy, hẳn sẽ hình dung điều gì đó khác hẳn. Vì thế, ơn trời, tôi sẽ không mặc một bộ đồ theo kiểu phi hành gia bằng sợi tổng hợp láng bóng, ăn những viên thuốc tối ưu hóa dưỡng chất trong lúc trò chuyện với người bạn ăn tối của mình qua màn hình. Người bạn ăn tối sẽ đuổi hộ một con nhặng trên mặt tôi, vì chúng không sống trong những thuộc địa xa xôi trên khắp dải ngân hà. Thức ăn sẽ được nấu bằng một công nghệ cổ xưa (lửa), với sự trợ giúp của đồ dùng nhà bếp không thay đổi kể từ thời La Mã (ngoại trừ chất lượng của một vài loại kim loại sử dụng). Tôi sẽ ngồi trên một vật dụng đã có từ ít nhất 3.000 năm trước, thường được gọi là ghế (khác chăng là sẽ ít chạm trổ hơn so với những chiếc ghế cầu kỳ tráng lệ của tổ tiên người Ai Cập). Và tôi sẽ không phải đến nhà hàng bằng một chiếc xe hai bánh biết bay. Tôi sẽ đi bộ, hay nếu muộn, tôi sẽ đến trên một chiếc taxi với công nghệ đã có cả thế kỷ nay, được một người nhập cư lái - dân nhập cư lái taxi ở Paris từ cách đây cả thế kỷ (các quý tộc Nga), hệt như ở Berlin và Stockholm (người tị nạn Iraq và Kurd), ở Washington DC. (các nghiên cứu sinh người Ethiopia), ở Los Angeles (người Armenia yêu âm nhạc), và New York (người đa quốc gia) ngày nay.
David Edgerton chứng minh rằng vào đầu thập niên 2000, chúng ta sản xuất xe đạp nhiều gấp 2,5 lần xe ô tô, và đầu tư hầu hết nguồn lực công nghệ vào việc duy trì những thiết bị hiện có hay tinh chế lại những công nghệ cũ (lưu ý rằng đây không chỉ là một hiện tượng của Trung Quốc: các thành phố phương Tây cũng ra sức trở thành những thành phố thân thiện với xe đạp). Cũng lưu ý rằng một trong những công nghệ có ảnh hưởng nhất xem ra là công nghệ mà người ta ít nói tới nhất: bao cao su tránh thai. Trớ trêu thay, ta không muốn nó trông như một công nghệ; nó đã trải qua nhiều cải tiến có ý nghĩa, với mục đích chính xác là trở nên ngày càng không dễ nhận ra.
Như vậy, sai lầm cơ bản là như sau. Khi được yêu cầu tưởng tượng ra tương lai, ta có xu hướng xem hiện tại là mốc, rồi nghĩ ra một viễn cảnh phỏng đoán bằng cách bổ sung thêm các công nghệ và sản phẩm mới và những gì có ý nghĩa, ứng với việc nội suy các diễn biến phát triển quá

HÌNH 17. Đồ dùng nhà bếp, gần như không khác gì so với vật dụng nấu nướng (tốt) ngày nay.
khứ. Chúng ta cũng mô tả xã hội dựa vào kế hoạch không tưởng của ta khi ấy, chủ yếu xuất phát từ những mơ ước của ta - ngoại trừ một vài người chuyên tiên đoán các thảm họa - tương lai là nơi chất chứa ước mơ. Vì thế, ta có xu hướng công nghệ hóa quá đáng và đánh giá quá thấp sức mạnh của những thứ đại loại như chiếc bánh xe nhỏ ở chiếc vali, sẽ vẫn còn lồ lộ trước mắt ta cả thiên niên kỷ sắp tới.
Tôi chỉ có một lời cho sự mù quáng về công nghệ quá đáng này. Sau khi rời lĩnh vực tài chính, tôi bắt đầu tham gia một vài hội nghị thời thượng của những nhân vật công nghệ sắp giàu và đã giàu cũng như giới trí thức công nghệ mới. Thoạt đầu, tôi cảm thấy phấn khởi khi thấy họ không thắt cà vạt, vì sống giữa các nhà ngân hàng thắt cà vạt đáng ghét, tôi bị ảo giác là ai không mang cà vạt chắc chẳng phải những bộ đồ trống rỗng. Nhưng những hội nghị đó, tuy đầy sắc màu và bóng bẩy với những hình ảnh điện toán và sự sinh động bay bổng, lại gây ra cảm giác thất vọng. Tôi biết tôi không thuộc về nơi này. Không chỉ là sự tiếp cận tương lai một cách bổ sung và khẳng định (họ không loại trừ những thứ mỏng manh mà chỉ cộng thêm vào viễn cảnh). Không hoàn toàn là do sự mù quáng của họ trước chứng cuồng hiện đại không thỏa hiệp. Tôi phải mất một thời gian mới nhận ra được nguyên nhân: thiếu tố chất thanh lịch một cách trầm trọng. Các nhà tư tưởng kỹ trị có xu hướng có “tư duy máy móc” - hay nói một cách kém lịch sự hơn, họ có xu hướng tự kỷ. Cho dù họ thường không thắt cà vạt, lẽ dĩ nhiên, nhưng loại người này có xu hướng phoi bày mọi đặc điểm kinh điển của tính say mê khoa học một cách rồ dại - thiếu hấp dẫn, quan tâm đến đối tượng chứ không phải con người, khiến họ không quan tâm đến bề ngoài của mình. Họ yêu tính chính xác bằng tổn thất của khả năng ứng dụng. Và họ thường không có tri thức văn hóa.
Không có tri thức văn hóa thường tạo thành sự mù quáng về tương lai vì nó thường đi kèm với sự coi thường lịch sử, một sản phẩm phụ của chứng cuồng hiện đại vô điều kiện. Ngoài chuyên ngành hẹp và thể loại khoa học viễn tưởng, văn học chủ yếu là về quá khứ. Chúng ta không học vật lý hay sinh học từ những quyển sách giáo khoa thời Trung cổ, nhưng ta vẫn đọc Homer, Plato hay Shakespeare rất hiện đại. Ta không thể nói về điêu khắc nếu không biết gì về các công trình của Phidias, Michelangelo, hay Canova vĩ đại. Đó là quá khứ chứ không phải tương lai. Chỉ cần bước chân vào một viện bảo tàng, những người có tư duy thẩm mỹ sẽ kết nối với người xưa. Bất kể có bộc lộ công khai hay không, họ có xu hướng hấp thu và tôn trọng tri thức lịch sử, ngay cả nếu họ định bác bỏ nó. Và so với hiện tại, quá khứ - khi được xử lý thích hợp, như ta sẽ thấy trong phần tiếp theo - sẽ là người thầy bảo ban ta về các thuộc tính của tương lai tốt hơn nhiều. Để tìm hiểu tương lai, bạn không cần đến những thuật ngữ công nghệ tự kỷ, nỗi ám ảnh với “những ứng dụng đột phá” các kiểu. Bạn chỉ cần như sau: một chút tôn trọng quá khứ, một chút hiếu kỳ về thành tích quá khứ, nỗi khao khát sự thông thái của người xưa, và nắm bắt khái niệm “quy tắc suy nghiệm”, những quy tắc suy nghiệm bất thành văn này thường có ý nghĩa quyết định sống còn. Nói cách khác, bạn sẽ buộc phải tôn trọng những thứ còn tồn tại xung quanh.
Nhưng công nghệ có thể giúp loại bỏ ảnh hưởng của những công nghệ xấu, thông qua quá trình tự loại trừ.
Công nghệ ở vào điều kiện tốt nhất khi nó có tính chất vô hình. Tôi tin rằng công nghệ có lợi nhiều nhất khi nó thay thế cho một công nghệ trước đó vốn độc hại, phi tự nhiên, không thân thiện, và quan trọng hơn cả, có tính mỏng manh cố hữu. Nhiều ứng dụng hiện đại từng xoay xở để tồn tại cho đến ngày nay đã giúp chặn đứng ảnh hưởng độc hại của tính phàm tục thời hiện đại, nhất là ở thế kỷ 20: các công ty đa quốc gia lớn với “những bộ đồ trống rỗng” đứng đầu; gia đình cách biệt với mối quan hệ một chiều với màn hình tivi, thậm chí còn cách biệt hơn do xã hội ngoại ô được thiết kế phù họp với xe ô tô; sự thống trị của nhà nước, nhất là nhà nước tập quyền quân phiệt, với sự kiểm soát biên giới; sự chuyên chế gây phá hủy tư duy và văn hóa thông qua các phương tiện truyền thông kỳ cựu; sự kiểm soát chặt chẽ lĩnh vực xuất bản và truyền bá tư tưởng kinh tế bởi ngành kinh tế học lừa bịp; những công ty lớn với xu hướng kiểm soát thị trường hiện bị đe dọa bởi Internet; sự khắc nghiệt giả hiệu bị phá hỏng bởi mạng lưới Web; và nhiều thứ khác. Bạn không còn phải “ấn phím số 1 để nghe tiếng Anh” hay chò đọi người trực tổng đài thô lỗ để đặt chỗ cho chuyến trăng mật ở đảo Síp. Trên nhiều phương diện, cũng phi tự nhiên như chính nó, Internet giúp loại bỏ một số yếu tố thậm chí còn phi tự nhiên hơn xung quanh ta. Ví dụ, việc không còn những công việc giấy tò giúp cho bộ máy nhà nước hiện đại trở nên dễ chịu hơn so với thời đại sử dụng giấy tò ngày trước. Với một chút may rủi, một con vi rút máy tính sẽ xóa sạch hồ so và giải thoát con người khỏi những sai lầm quá khứ.
Thậm chí bây giò, ta đang sử dụng công nghệ để đảo ngược công nghệ, nghĩa là quay về với tự nhiên. Nhớ lại chuyện tôi đi bộ đến nhà hàng với đôi giày không khác biệt lắm so với đôi giày mòn cũ của người cổ đại được phát hiện ở vùng núi Alps. Công nghệ giày dép, sau nhiều thập niên “thiết kế” giày đi bộ và chạy hoàn hảo, bằng mọi cách “hỗ trọ” các cơ chế và vật liệu giúp làm êm chân, hiện đang bán cho ta những đôi giày mô phỏng đôi chân trần - nghĩa là những đôi giày khiêm tốn kín đáo đến mức chức năng duy nhất của chúng là bảo vệ đôi chân, chứ không bắt ta phải bước đi như thế nào như một sứ mệnh hiện đại. Theo một ý nghĩa nhất định, họ đang bán cho ta đôi chân chai sạn của một người săn bắn hái lượm thời tiền sử để ta có thể mang vào, sử dụng, rồi tháo ra khi quay về với nền văn minh. Thật phấn khích khi mang những đôi giày này đi bộ trong thiên nhiên, cảm nhận ba chiều của địa hình. Những đôi giày thông thường gây cảm giác như đang tách ta ra khỏi môi trường. Và chúng không hẳn là thiếu thanh lịch: công nghệ là ở đế giày, chứ không phải đôi giày, vì đế giày mới có thể vững chắc nhưng vẫn rất mỏng, giúp đôi chân ôm lấy mặt đất như thể ta đang đi chân trần - phát hiện tốt nhất của tôi là một loại giày da đanh (moccasin) trông giống kiểu Ý sản xuất ở Brazil, cho phép tôi vừa có thể chạy trên đá vừa có thể mang đi ăn nhà hàng.
Rồi một lần nữa, có lẽ họ nên bán cho ta những đôi tất được tăng cường tính không thấm nước (thực chất là anh bạn người vùng núi Alps đã có), nhưng những công ty này chắc sẽ không có lãi nhiều.102
Và việc sử dụng máy tính bảng (đặc biệt là iPad) tuyệt diệu ở chỗ nó cho phép ta quay lại với cội nguồn thư tịch vùng Babylon và Phoenicia và ghi chép vào một tấm bảng (cũng là cách người ta bắt đầu làm ra những tư liệu này). Giờ đây, người ta có thể ghi chép nhanh bằng bàn tay, hay nói đúng hơn, bằng ngón tay - viết bằng chữ viết thường thì dễ chịu hơn nhiều, thay vì phải nhờ đến một chiếc bàn phím. Mo ước của tôi là ngày nào đó được viết mọi thứ bằng chữ viết thường, như hầu hết mọi tác giả từng làm trước thời hiện đại.
Vì thế, có lẽ, một thuộc tính tự nhiên của công nghệ là chỉ muốn được thay thế bởi chính nó.
Bây giờ tôi sẽ cho thấy tương lai chủ yếu nằm ở quá khứ như thế nào.
HIỆU ỨNG LINDY VỀ SỰ TRẺ HÓA
Đã đến lúc phần trình bày trở nên có tính chất kỹ thuật hơn, cho nên đây cũng là lúc cần làm rõ sự phân biệt giữa những đối tượng dễ lụi tàn (như con người, những món đồ cụ thể) so với những đối tượng không dễ lụi tàn, có tiềm năng tồn tại mãi mãi. Đối tượng không dễ lụi tàn là bất kể thứ gì không có một ngày hết hạn hữu cơ tất yếu. Đối tượng dễ lụi tàn là đối tượng mà đối với nó, đối tượng không dễ lụi tàn lưu giữ bản chất thông tin. Một chiếc ô tô cụ thể là đối tượng dễ lụi tàn, nhưng ô tô như một công nghệ thì đã tồn tại cả thế kỷ nay (và chúng ta sẽ đầu cơ ngay nếu có một công nghệ khác tồn tại). Con người chết đi nhưng mã di truyền (gene) của họ không nhất thiết mất đi. Một quyển sách dễ lụi tàn trên phương diện vật chất - ví dụ như một bản sao cụ thể của kinh Cựu ước - nhưng nội dung của nó không mất đi, vì có thể được sao chép lại trong một cuốn khác.
Trước tiên, cho phép tôi trình bày ý tưởng bằng phương ngữ Libăng. Khi bạn nhìn thấy một người già và một người trẻ, bạn có thể tin chắc rằng người trẻ tuổi sẽ còn sống lâu hơn người già. Nhưng với một đối tượng không dễ lụi tàn, ví dụ như công nghệ, thì không hẳn như vậy. Đối với công nghệ, chúng ta có hai khả năng: hoặc cả hai được dự kiến là có cùng tuổi thọ kỳ vọng còn lại như nhau (trường hợp này, phân phối xác suất được gọi là phân phối lũy thừa); hoặc công nghệ cũ được kỳ vọng là sẽ có tuổi thọ cao hơn so với công nghệ mới, tỷ lệ với thời gian tồn tại tương đối của chúng. Trong tình huống đó, nếu công nghệ cũ đã tồn tại được 80 năm và công nghệ mới đã tồn tại được 10 năm, công nghệ cũ được kỳ vọng là sẽ sống lâu hơn tám lần so với công nghệ mới.
BẢNG 6. CÁC PHẠM VI VÀ SO SÁNH TUỔI THỌ GIỮA ĐỐI TƯỢNG GIÀ (CŨ) VÀ ĐỐI TƯỢNG TRẺ (MỚI)
| SO SÁNH TUỔI THỌ | PHẠM VI | PHÂN PHỐI XÁC SUẤT |
| Người trẻ dự kiến sẽ sống lâu hơn người già | Đối tượng có thể lụi tàn: tuổi thọ của con người và các động vật khác | Phân phối Gaussian (hay gần giống, từ cùng một họ) |
| Cả đối tượng cũ và đối tượng mới đều có tuổi thọ tương đương | Thông tin không thể lụi tàn: tuổi thọ của loài | Phân phối lũy thừa |
| Hiệu ứng Lindy: Đối tượng cũ dự kiến sẽ còn tồn tại lâu hơn đối tượng mới, tỷ lệ với thời gian tồn tại của chúng | Thông tin không thể lụi tàn: vòng đời sản phẩm tri thức, tuổi thọ của giống | Quy tắc lũy thừa |
Bây giờ, tùy thuộc vào đối tượng thuộc chủng loại nào, tôi đề nghị như sau (xây dựng dựa vào cái gọi là hiệu ứng Lindy theo phiên bản về sau được Benoit Mandelbrot vĩ đại triển khai):103
Đối với đối tượng dễ lụi tàn, mỗi ngày tăng thêm trong đời sẽ làm cho tuổi thọ còn lại ngắn hơn. Đối với đối tượng không dễ lụi tàn, mỗi ngày tăng thêm có thể ngụ ý tuổi thọ dài hơn.
Như vậy, một công nghệ càng sống lâu, người ta dự kiến nó sẽ càng sống lâu hơn. Tôi sẽ minh họa nhận định này (lúc đầu thường khó hiểu). Ví dụ, tôi chỉ biết thông tin về một người nào đó, rằng anh 40 tuổi và tôi muốn dự đoán anh sẽ sống bao lâu. Ta có thể xem xét các bảng tính phí bảo hiểm và tuổi thọ kỳ vọng đã điều chỉnh theo tuổi (nghĩa là thời gian còn sống dự kiến) như các công ty bảo hiểm thường sử dụng. Bảng này sẽ dự đoán rằng anh còn sống thêm 44 năm nữa. Năm sau, khi anh 41 tuổi (hay nói cách khác, nếu áp dụng cơ sở tính toán này cho một người khác hiện đang 41 tuổi), thời gian sống dự kiến của anh chỉ còn 43 năm nữa. Vì thế, mỗi năm trôi qua sẽ làm giảm tuổi thọ kỳ vọng còn lại khoảng một năm (thật ra, chỉ giảm ít hơn một năm, nên nếu tuổi thọ kỳ vọng lúc sinh là 80, thì tuổi thọ kỳ vọng lúc 80 tuổi sẽ không bằng 0, mà vẫn còn khoảng một thập niên nữa chẳng hạn).104 105
Điều ngược lại sẽ áp dụng cho những đối tượng không dễ lụi tàn. Ở đây, tôi đơn giản hóa các con số cho dễ hiểu. Nếu một quyển sách đã được in ra trong 40 năm, tôi dự kiến nó sẽ được in thêm 40 năm nữa. Nhưng, đây là điểm khác biệt chính, nếu nó tồn tại qua một thập niên nữa, thì dự kiến nó sẽ được in thêm 50 năm nữa. Nói đơn giản, điều này như một quy tắc, giúp ta hiểu tại sao sự vật tồn tại quanh ta trong một thời gian dài không bị “lão hóa” như con người, mà trở nên “trẻ hóa”. Mỗi năm trôi qua mà không bị diệt vong sẽ làm tăng gấp đôi tuổi thọ kỳ vọng còn lại.“ Đây chính là chỉ báo về tính mạnh mẽ. Tính mạnh mẽ của một đối tượng tỷ lệ thuận với tuổi thọ của nó!
Nhà vật lý Richard Gott áp dụng một lập luận hoàn toàn khác khi ông phát biểu rằng bất kỳ điều gì ta quan sát một cách ngẫu nhiên thì có xu hướng không phải là bắt đầu hay kết thúc vòng đời của nó, mà có xu hướng ở giữa. Lập luận của ông bị chỉ trích vì phần nào không hoàn chỉnh. Nhưng thông qua kiểm chứng lập luận của ông, ông đã kiểm chứng lập luận mà tôi vừa phác thảo trên đây, rằng tuổi thọ kỳ vọng của một đối tượng tỷ lệ thuận với thời gian sống đã qua của nó. Gott lập một danh sách các vở kịch Broadway vào một ngày cụ thể, ngày 17 tháng 5 năm 1993, và dự đoán rằng vở kịch đã được diễn trong một thời gian dài nhất sẽ tồn tại lâu nhất, và ngược lại. Nhận định của ông đã được chứng minh là đúng với độ chính xác 95 phần trăm. Hồi còn bé ông đã tham quan cả Kim tự tháp vĩ đại (tồn tại qua 5.700 năm) lẫn Bức tường Berlin (đã tồn tại được 20 năm), và dự đoán chính xác rằng kim tự tháp sẽ sống lâu hơn bức tường.
Ta cũng không cần phải kiểm chứng tính tỷ lệ thuận của tuổi thọ kỳ vọng, nó chính là kết quả trực tiếp của hiệu ứng “được ăn cả ngã về không” trên phương diện tuổi thọ.
Có hai sai lầm thường mắc phải khi tôi trình bày ý tưởng này - người ta cảm thấy khó nắm bắt khái niệm xác suất, nhất là khi đã dành quá nhiều thời gian trên Internet (chẳng cần tới Internet thì mới thấy rắc rối; bình thường ta vẫn thấy khó hiểu khái niệm xác suất). Sai lầm thứ nhất thường là dưới hình thức trình bày phản ví dụ về những công nghệ mà ta hiện xem là phi hiệu quả và đang hấp hối, ví dụ như điện thoại cố định, báo in, và các tủ đựng hồ sơ kê khai thuế. Các lập luận này phát sinh một cách giận dữ khi nhiều người mắc chứng cuồng hiện đại cảm thấy khó chịu với lập luận của tôi. Nhưng lập luận của tôi không phải nói về mọi công nghệ, mà là về tuổi thọ kỳ vọng, vốn chỉ đơn giản là giá trị bình quân suy ra theo xác suất. Nếu tôi biết rằng một người 40 tuổi bị ung thư tuyến tụy giai đoạn cuối, tôi sẽ không ước lượng tuổi thọ kỳ vọng của anh bằng các bảng tính phí bảo hiểm vô điều kiện; thật là sai lầm khi nghĩ rằng anh vẫn còn sống 40 năm nữa hệt như những người khác ở độ tuổi anh không bị ung thư. Tương tự, ai đó (một chuyên viên công nghệ chẳng hạn) lý giải ý tưởng của tôi rằng, nó cho thấy hệ thống World Wide Web, hiện mới tồn tại khoảng 20 năm, sẽ chỉ còn tồn tại được 20 năm nữa - lập luận của tôi là một ước lượng độ nhiễu mà chỉ phát huy tác dụng trên phương diện bình quân, chứ không phải áp dụng cho mọi trường hợp. Nhưng nói chung, công nghệ càng lâu đời, chẳng những người ta dự kiến nó sẽ còn tồn tại lâu hơn, mà tôi có thể gắn liền nó với phát biểu trên đây một cách càng chắc chắn hơn.106
Hãy nhớ nguyên tắc sau đây: Tôi không nói mọi công nghệ đều không lão hóa, mà chỉ những công nghệ đã có xu hướng lão hóa thì diệt vong.
Sai lầm thứ hai là tin rằng người ta sẽ hành động “trẻ” thông qua áp dụng một công nghệ “trẻ”, cho thấy cả sai lầm logic và định kiến tâm lý. Nó dẫn đến đảo ngược sức mạnh đóng góp của thế hệ, dẫn đến ảo tưởng về đóng góp của thế hệ mới nhiều hơn thế hệ cũ - về mặt thống kê, “trẻ” gần như không làm gì cả. Nhiều người thường mắc phải sai lầm này, gần đây nhất tôi gặp một nhà tư vấn “theo thuyết vị lai” lên con nóng giận, buộc tội những người không nhảy xổ vào công nghệ là những kẻ có “tư duy già nua” (thật ra ông già hơn tôi, như hầu hết những kẻ cuồng công nghệ mà tôi biết, trông bệnh tật với khuôn mặt hình quả lê và vùng từ hàm xuống cổ không thể xác định được). Tôi không hiểu hà cớ gì người ta lại trở thành “già nua” chỉ bởi họ yêu thích những gì thuộc về lịch sử. Chẳng lẽ do yêu thích nghiên cứu về thời cổ đại (“già hơn”) nên tôi sẽ hành động “già hơn” so với khi tôi quan tâm đến chủ đề Trung cổ “trẻ hơn”? Đây là một sai lầm hệt như việc tin rằng người ta sẽ biến thành con bò khi ăn thịt bò. Thật ra, đó là sự ngụy biện còn tệ hơn so với suy luận về việc ăn thịt bò: công nghệ mang tính chất thông tin nhiều hơn là tính vật chất cho nên nó không lão hóa về mặt hữu cơ như con người, chí ít không nhất thiết như thế. Bánh xe không “già đi” theo ý nghĩa thoái hóa.
Ý tưởng “trẻmới” và “giàcũ” gắn liền với hành vi đám đông thậm chí còn nguy hiểm hơn. Có thể cho rằng, nếu những người không xem những bài giảng gây phấn chấn dài 18 phút đóng gói sẵn trên Internet mà quan tâm chú ý tới những người trong độ tuổi từ 10 đến dưới 30, những người làm nên tương lai, và có thể cho là chìa khóa bước vào tương lai, thì họ sẽ suy nghĩ khác đi. Phần lớn tiến bộ xuất phát từ những người trẻ tuổi do sự tự do tương đối của họ đối với hệ thống và lòng can đảm hành động mà người già thường mất đi khi họ bị vướng mắc trong chiếc bẫy cuộc đời. Nhưng nói chính xác ra, chính những người trẻ tuổi đề xuất ý tưởng là những đối tượng mỏng manh, không phải vì họ trẻ, mà vì hầu hết những ý tưởng không qua kinh nghiệm đều mỏng manh. Và lẽ dĩ nhiên, những người rao giảng các ý tưởng “vị lai” sẽ không kiếm được nhiều tiền bằng cách ngợi ca giá trị của quá khứ! Công nghệ mới thì dễ kích thích hơn.
Tôi nhận được một bức thư thú vị của Paul Doolan từ Zurich, anh tự hỏi làm sao ta có thể dạy con cái các kỹ năng của thế kỷ 21 vì ta không biết những kỹ năng nào sẽ cần thiết trong thế kỷ 21 - cho thấy một ví dụ tuyệt vời về vấn đề quan trọng mà Karl Popper gọi là sai lầm của chủ nghĩa lịch sử. Thực chất câu trả lời của tôi là: hãy cho các em đọc các tác phẩm cổ điển. Tương lai nằm ở quá khứ. Quả thật có một câu cách ngôn Ảrập về điều này: Những người không có quá khứ sẽ chẳng có tương lai.106.a
MỘT VÀI ĐỊNH KIẾN TÂM LÝ
Tiếp theo tôi sẽ trình bày một ứng dụng của hiệu ứng mắc lừa bởi ngẫu nhiên. Thông tin có một thuộc tính khó chịu: nó che giấu thất bại. Nhiều người bị lôi kéo vào các thị trường tài chính sau khi nghe kể những câu chuyện thành công về ai đó làm giàu trên thị trường cổ phiếu rồi xây một biệt thự hoành tráng trên phố - nhưng vì thất bại bị chôn giấu và chúng ta không nghe nói tới, nên các nhà đầu tư có xu hướng ước lượng quá cao cơ hội thành công. Điều này cũng áp dụng cho việc viết tiểu thuyết: chúng ta không thấy những cuốn tiểu thuyết tuyệt vời hiện hoàn toàn không còn được in nữa, chúng ta chỉ nghĩ rằng những cuốn giúp tác giả ăn nên làm ra là những cuốn sách hay (bất kể điều đó có nghĩa là gì), rằng những gì được viết hay thì sẽ giúp ta làm ăn khấm khá. Thế nên ta nhầm lẫn giữa điều kiện cần và nguyên nhân: vì mọi công nghệ còn tồn tại đều có những lợi ích hiển nhiên, nên ta có xu hướng tin rằng mọi công nghệ mang lại lợi ích hiển nhiên đều tồn tại. Tôi sẽ để dành phần thảo luận về thuộc tính khó hiểu nào giúp ta tồn tại trong đoạn nói về con chó của Empedocles. Nhưng ở đây, ta lưu ý đến định kiến tâm lý khiến cho người ta tin vào “sức mạnh” của công nghệ và khả năng vận hành thế giới của nó.Một định kiến tâm lý khác dẫn tới tán tụng công nghệ quá mức xuất phát từ sự kiện là chúng ta lưu ý đến những gì thay đổi, chứ không quan tâm tới những thứ đứng yên. Hai nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Amos Tversky đã phát hiện ra một ví dụ kinh điển áp dụng cho của cải vật chất. (Hai tác giả này đã triển khai ý tưởng cho rằng bộ não của chúng ta ưa thích nỗ lực tối thiểu và bị mắc bẫy vào đó, và họ đi tiên phong trong việc liệt kê và mô tả định kiến của con người khi nhận thức các kết quả ngẫu nhiên và ra quyết định trong tình trạng không chắc chắn). Nếu bạn thông báo với ai đó “cậu bị lỗ 10.000 đôla rồi”, gã sẽ buồn hơn nhiều so với khi bạn nói với gã “giá trị danh mục đầu tư của cậu lúc đầu là 785.000 đôla, giờ còn 775.000 đôla”. Bộ não của chúng ta ưa chuộng những con đường tắt, những thông tin trực tiếp, và thông tin về sự thay đổi thì dễ nhận thấy (và dễ lưu trữ) hơn so với toàn bộ sự việc. Nó đòi hỏi ít bộ nhớ lưu trữ hơn. Cảm tính tâm lý này (thường vận hành một cách vô thức), nhầm lẫn sự biến thiên thay cho tổng thể, thường phổ biến, thậm chí với những vấn đề dễ thấy.
Chúng ta lưu ý đến những thứ biến thiên và thay đổi nhiều hơn so với những gì tuy đóng vai trò to lớn hơn nhưng không thay đổi. Nước đối với chúng ta quan trọng hơn so với điện thoại di động, nhưng vì nước không thay đổi trong khi điện thoại di động thì thay đổi, nên ta có xu hướng nghĩ rằng điện thoại di động đóng vai trò to lớn hơn so với vai trò thực sự của nó. Thứ hai, vì các thế hệ mới nhanh nhạy với công nghệ hơn, nên ta nhận thấy họ thử nghiệm nhiều thứ hơn, nhưng ta bỏ qua yếu tố là việc thực hiện của họ thường không lưu giữ lâu. Phần lớn hoạt động “phát minh đổi mới” là những thất bại, hệt như hầu hết các quyển sách thất bại rơi vào quên lãng, nên sẽ không làm người ta nản lòng thử nghiệm.
Chứng cuồng hiện đại và tâm lý cà thèm chóng chán
Bạn đang lái một chiếc ô tô Nhật đã sử dụng được hai năm trên xa lộ thì bị qua mặt bởi một chiếc ô tô khác cùng loại nhưng đời mới hơn, trông có vẻ khác biệt đáng kể. Và tốt hơn đáng kể. Có thật là tốt hơn đáng kể không? Bộ phận hãm xung hoi lớn hơn và đèn sau cũng lớn hơn. Ngoài những chi tiết trang trí này (và có lẽ một vài cải tiến kỹ thuật ngầm ẩn) tiêu biểu cho không đến vài điểm phần trăm khác biệt, chiếc ô tô trông giống hệt xe bạn, nhưng nếu chỉ nhìn bề ngoài thôi thì bạn cũng không biết. Bạn chỉ nhìn thấy chiếc đèn và có cảm giác rằng đã đến lúc phải nâng cấp. Và việc nâng cấp làm bạn tốn kém, sau khi bán chiếc ô tô cũ chỉ được số tiền bằng khoảng một phần ba giá chiếc xe mới - mà chỉ vì những thay đổi nhỏ, chủ yếu có tính chất trang trí bên ngoài. Nhưng việc đổi xe là một chi phí nhỏ so với việc đổi máy tính - giá trị thu hồi của một chiếc máy tính cũ chẳng đáng là bao.
Bạn sử dụng một chiếc máy tính Apple Mac. Bạn vừa mua phiên bản mới tuần trước đây thôi. Người ngồi cạnh bạn trên máy bay lấy từ trong túi ra một phiên bản cũ hơn. Chiếc máy tính cùng loại với bạn, nhưng trông kém ưu việt hơn hẳn. Nó dày hơn và màn hình xem ra cũng kém thanh nhã hơn. Nhưng bạn quên mất những ngày bạn từng sử dụng cùng một đời máy ấy và đã phấn khích với nó như thế nào.
Câu chuyện cũng hệt như vậy với chiếc điện thoại di động: bạn coi thường những người sử dụng những đời máy cũ hơn, lớn hơn. Nhưng vài năm trước đây, bạn hẳn đã từng cho rằng chúng nhỏ nhắn dễ thương.
Cũng như với nhiều thứ dựa vào công nghệ và hiện đại khác - ván trượt tuyết, ô tô, máy tính, các chương trình máy tính - xem ra ta chỉ lưu ý đến sự khác biệt chứ không phải những điểm tương đồng. Ta nhanh chóng phát chán những gì ta có, liên tục tìm kiếm những phiên bản 2.0 rồi lại miệt mài lặp lại như vậy. Và sau đó, lại một sự lột xác “cải tiến” hơn. Niềm thôi thúc mua sắm những thứ mới mẻ mà cuối cùng cũng mất đi tính mới lạ này, nhất là khi so sánh nó với những thứ lại mới Hơn nữa, được gọi là hiệu ứng guồng quay, hay tâm lý cả thèm chóng chán. Như độc giả có thể nhận thấy, chúng phát sinh từ cùng một kiểu định kiến tâm lý như khi ta bị thu hút bởi sự thay đổi vừa đề cập đến trong phần trên: ta chú ý đến những điểm khác biệt và rồi không hài lòng với một số sự vật hay nhóm hàng hóa. Tâm lý cả thèm chóng chán này đã được Danny Kahneman và những người khác khảo sát khi họ nghiên cứu tâm lý về cái mà họ gọi là tâm trạng hưởng lạc. Người ta tìm kiếm một món đồ mới, cảm thấy thỏa mãn hơn sau con kích thích ban đầu, rồi nhanh chóng đưa nó về mức phúc lợi cơ bản. Vì thế, khi bạn “nâng cấp,” bạn cảm thấy niềm phấn khích hài lòng với những thay đổi của công nghệ. Nhưng rồi bạn trở nên quen với nó và bắt đầu đi tìm cái mới hơn.
Nhưng xem ra ta không có tâm lý cả thèm chóng chán công nghệ như vậy đối với nghệ thuật cổ điển, với đồ cổ - bất kể những gì ta không xếp vào loại công nghệ. Bạn có thể có một bức tranh son dầu và chiếc tivi màn hình phẳng trong cùng một gian phòng nhà bạn. Bức tranh son dầu phỏng theo quang cảnh vùng Flanders cổ xưa gần một thế kỷ trước với bầu trời âm u xứ Flanders, những bóng cây hùng vĩ, và một quang cảnh nông thôn không náo nhiệt nhưng giúp xoa dịu tinh thần. Tôi lấy làm chắc chắn rằng bạn sẽ không nôn nóng nâng cấp bức tranh, nhưng chẳng mấy chốc bạn sẽ mang tặng chiếc tivi màn hình phẳng cho chi nhánh địa phương của một quỹ hỗ trợ người bệnh thận chẳng hạn.
Chuyện cũng tương tự với những bữa ăn - nên nhớ rằng chúng ta cố gắng mô phỏng thói quen ăn tối của thế kỷ 19. Vì thế, ít nhất có một lĩnh vực mà ta không cố gắng tối ưu hóa vấn đề.
Tôi đang bắt đầu viết những dòng này bằng chữ viết tay, sử dụng một cây bút máy thích hợp. Tôi không quá chú ý đến tình trạng những cây bút của mình. Nhiều cây bút đã cũ qua nhiều thập niên; một trong những cây bút đó (chiếc tốt nhất) tôi đã sử dụng chí ít 30 năm. Và tôi cũng không bị những thay đổi nhỏ về loại giấy ám ảnh. Tôi thích sử dụng sổ ghi chép và giấy hiệu Clairefontaine, gần như không thay đổi gì suốt từ thời tôi còn bé, nếu có, chỉ là sự xuống cấp về chất lượng.
Nhưng khi đến lúc sao chép các bản viết sang hình thức điện tử, tôi trở nên lo lắng vì không chắc chiếc máy tính Mac của mình là công cụ tốt nhất cho công việc. Cứ nghe đâu đó có một phiên bản mới với thời lượng pin lâu hơn là tôi lại lên kế hoạch nâng cấp sớm, trong nỗi phấn khích mua phiên bản tiếp theo.
Ở đây, lưu ý tình trạng không nhất quán kỳ lạ trong cách chúng ta nhìn nhận sự việc trong lĩnh vực công nghệ và lĩnh vực thực tế. Bất kỳ khi nào tôi ngồi trên máy bay cạnh một doanh nhân đang đọc những thứ rác rưởi mà các doanh nhân thường đọc dưới dạng điện tử, họ không nhịn được việc xem thường cách sử dụng sách của tôi thông qua so sánh hai hình thức. Có thể cho rằng, sách điện tử thì “hiệu quả” hơn. Nó mang lại cho ta cốt lõi của quyển sách, mà ta gọi là thông tin, bằng một phương thức thuận tiện hơn, vì ta có thể mang theo cả một thư viện trong thiết bị điện tử và “tối ưu hóa” thời gian giữa những cuộc đi chơi golf. Nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai nói tới những khác biệt to lớn giữa sách điện tử và sách in, như mùi hương, chất liệu, chiều (sách có ba chiều), màu sắc, khả năng chuyển từ trang này sang trang khác, tính hữu hình của đối tượng so với một chiếc màn hình máy tính, và những thuộc tính ngầm ẩn mang lại những khác biệt không thể giải thích trong niềm vui thưởng thức. Trọng tâm thảo luận là về những điểm tương đồng (một quyển sách in giống với thiết bị tuyệt vòi này như thế nào). Trái lại, khi ta so sánh phiên bản sách điện tử của mình với phiên bản sách điện tử của người khác, ta sẽ không tránh khỏi tập trung vào những điểm khác biệt nhỏ nhặt. Cũng hệt như khi một người Libăng gặp một người Syria, họ tập trung vào những khác biệt nhỏ nhặt trong thổ ngữ Levant riêng của họ, nhưng khi người Libăng gặp người Ý, họ tập trung vào những điểm tương đồng.
Có thể có một phương pháp tiếp cận bằng cảm tính giúp phân loại các sự việc. Thứ nhất, nút bật-tắt điện. Bất kể những gì có một nút “tắt” hay “mở” mà tôi cần tắt đi trước khi bị tiếp viên hàng không nhắc nhở, nhất thiết sẽ được xếp vào loại thứ nhất (nhưng không đối nghịch với những thứ khác tuy không có công tắc tắt mở nhưng vẫn có xu hướng cuồng hiện đại). Với những đối tượng này, tôi tập trung chú ý vào sự thay đổi, đi kèm chứng cuồng hiện đại. Nhưng ta hãy xem sự khác nhau giữa một mặt hàng thủ công (loại thứ hai) với một mặt hàng công nghiệp. Trong một món hàng thủ công có chất chứa tình yêu của người làm ra nó, và có xu hướng thỏa mãn - chúng ta không có ấn tượng phi hoàn hảo triền miên như đối với những mặt hàng điện tử.
Hóa ra, bất kể những gì có tính công nghệ cũng tình cờ có tính mỏng manh. Những món hàng do người thợ thủ công làm ra ít gây tâm lý cả thèm chóng chán hơn. Và chúng có xu hướng cải thiện nghịch cảnh - đôi giày làm bằng tay của tôi phải mất vài tháng mới trở nên thoải mái. Nhưng những món hàng có nút tắt mở xem ra không có khả năng cải thiện nghịch cảnh đền bù như vậy.
Nhưng than ôi, có những thứ mà ta ước gì chúng mỏng manh hơn một chút; điều này đưa ta đến với lĩnh vực kiến trúc.
KIẾN TRÚC VÀ CHỨNG CUỒNG HIỆN ĐẠI KHÔNG THỂ CỨU VÃN
Có một cuộc chiến tranh sinh tồn giữa các kiến trúc sư, những người xây dựng một hình thức cuồng hiện đại sâu sắc. Vấn đề với các kiểu kiến trúc hiện đại - và chức năng - nằm ở chỗ: nó không đủ mỏng manh để đổ vỡ về mặt vật chất, nên những tòa nhà cứ tồn tại dai dẳng chỉ để tra tấn cảm quan của chúng ta - bạn không thể thực hiện sức mạnh tiên tri của bạn bằng cách dựa vào tính mỏng manh của chúng.
Thật tình cờ, quy hoạch đô thị giúp minh họa cho thuộc tính quan trọng của cái gọi là ảnh hưởng tập quyền từ trên xuống dưới: cơ chế tập quyền từ trên xuống dưới thường không thể cứu vãn, nên sai lầm có thể tồn tại dai dẳng, trong khi cơ chế tản quyền từ dưới lên trên có tính chất dần dần từng chút một, với sự sáng tạo và phá hủy trong suốt quá trình, cho dù mối quan hệ có thể cho là có hệ số góc dương.
Hơn nữa, những sự việc phát triển một cách tự nhiên, bất kể là các thành phố hay những ngôi nhà riêng lẻ, thường có chất lượng tuân theo một kiểu mẫu lặp. Cũng như mọi thứ còn tồn tại, tất cả các tổ chức hữu cơ, như lá phổi của ta hay cây cối, đều tăng trưởng dưới một hình thức tự điều khiển nhưng thuần hóa. Kiểu mẫu lặp (fractal) là gì? Hãy nhớ lại ý tưởng của Mandelbrot trong chương 4: “kiểu mẫu lặp” bao gồm sự nhấp nhô không đều, nhưng cũng bao gồm một hình thức tự tương đồng trong các sự việc (Mandelbrot thích gọi là “tự đồng dạng lặp” [selfaffinity]), chẳng hạn như cây chia thành nhiều nhánh; nhánh trông hệt như một cây nhỏ, và những nhánh nhỏ dần trông hệt như một dạng điều chỉnh nhẹ của tổng thể nhưng vẫn dễ nhận ra. Các kiểu mẫu lặp này bao gồm nhiều chi tiết dựa vào một số ít quy tắc lặp lại diễn biến mẫu. Kiểu mẫu lặp đòi hỏi phải có một vài chỗ nhấp nhô không đều, nhưng có một phương pháp nhất định cho sự đột phá của nó. Mọi thứ trong tự nhiên đều có tính lặp: không đều và phong phú về chi tiết, nhưng theo một kiểu mẫu nhất định. So ra, tính đều đặn thuộc về nhóm hình học Euclide mà ta học ở trường, những hình thù đơn giản hóa, mất đi sự phân lớp phong phú.
Than ôi, kiến trúc hiện đại thì đồng đều đơn điệu, thậm chí khi nó cố gắng cho có vẻ giàu tưởng tượng. Những gì áp đặt từ trên xuống dưới thường không có tính đột phá (nghĩa là không theo kiểu mẫu lặp) và cảm giác thiếu sinh khí.
Đôi khi quan điểm hiện đại có thể rẽ sang một bước ngoặt tự nhiên chủ nghĩa, rồi dừng lại giữa đường. Các công trình kiến trúc của Gaudi ở Barcelona, từ khoảng đầu thế kỷ 20, được gợi hứng từ kiến trúc tự nhiên và phong phú (theo phong cách thế kỷ 17 [Baroque] và kiểu kiến trúc Tây Ban Nha từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 16 [Moorish]). Tôi đã xoay xở để đến tham quan một căn hộ cho thuê được kiểm soát giá cho thuê (rent- controlled apartment): có cảm giác hệt như một hang động cải tiến với những chi tiết phong phú nhấp nhô. Tôi cảm thấy tin rằng tôi đã từng ở đó từ kiếp trước. Thật ngược đời, sự phong phú trong các chi tiết lại dẫn đến sự bình yên trong tâm hồn. Thế nhưng ý tưởng của Gaudi chẳng đi đến đâu, ngoại trừ việc thúc đẩy quan điểm hiện đại trong các phiên bản phi tự nhiên và ấu trĩ: các cấu trúc hiện đại về sau trở nên đồng đều và hoàn toàn bị tước mất tính nhấp nhô theo kiểu mẫu lặp.
Tôi thích viết lách trước cây cối, và nếu có thể, trong những khu vườn hoang sơ với những cây dương xỉ. Nhưng những bức tường trắng xóa với những góc cạnh sắc nhọn và góc hình học Euclide làm tôi căng thẳng. Và một khi đã được xây dựng, ta chẳng còn cách gì thoát khỏi chúng. Hầu hết mọi thứ được xây dựng từ Chiến tranh thế giới II đều có sự đồng đều phi tự nhiên trong đó.
Đối với nhiều người, những công trình kiến trúc này còn tệ hơn sự tệ hại về thẩm mỹ. Nhiều người Rumani tỏ ra cay đắng vì nhà độc tài Nicolae Ceausescu đã phá hủy những ngôi làng truyền thống để thay thế bằng những tòa nhà cao tầng hiện đại. Chứng cuồng hiện đại và nền độc tài là sự kết hợp tàn phá. Ở Pháp, nhiều người đổ lỗi cho các công trình hiện đại của các dự án nhà ở là do sự lộn xộn của dân nhập cư. Như nhà báo Christopher Caldwell từng viết về điều kiện sống phi tự nhiên: “Le Corbusieer gọi những ngôi nhà là ‘những cỗ máy để sống.’ Các dự án nhà ở của Pháp, như ta biết hiện nay, đã trở thành những cỗ máy để người ta sống trong sự cách biệt và xa lánh.”
Nhà hoạt động đô thị New York Jane Jacobs107 đưa ra một quan điểm hào hùng chống lại chứng cuồng hiện đại trong kiến trúc và quy hoạch đô thị, vì giấc mơ hiện đại được Robert Moses108 tiến hành, người muốn cải tiến New York bằng cách san bằng các tòa nhà chung cư, xây dựng những con đường và xa lộ rộng lớn, phạm tội chống lại trật tự tự nhiên còn tệ hơn so với Haussman,109 mà như ta thấy trong chương 7, đã phá hủy toàn bộ các khu dân cư thế kỷ 19 của Paris để có chỗ cho “đại lộ Grand”. Jacobs phản đối những toàn nhà cao tầng vì chúng làm méo mó cuộc sống đô thị, vốn dĩ được thực hiện ở cấp độ đường phố. Hơn nữa, sự bất đồng của bà đối với Robert Moses liên quan đến đường xa lộ, vì những cỗ máy giao thông này sẽ hút kiệt sức sống của thành phố - theo bà, thành phố là dành cho người đi bộ. Một lần nữa, ta có sự phân chia giữa vật thể sống và một cỗ máy: đối với bà, thành phố là một vật thể sống; đối với Moses, thành phố là một cỗ máy cần được cải tiến. Quả thật, Moses đã có kế hoạch phá hủy vùng West Village; chính nhờ vào kiến nghị và sự chống đối kiên quyết của bà mà khu dân cư - vùng đẹp nhất ở Manhattan - mới còn tồn tại gần như nguyên vẹn. Nhưng ta cũng có thể cho Moses chút công trạng, vì không phải mọi dự án của ông đều hóa ra là đáng ghê tởm - một số dự án có lợi, như các công viên và bãi biển hiện nay tầng lớp trung lưu có tiếp cận nhờ vào đường xa lộ.
Hãy nhớ lại phần thảo luận về các thuộc tính của đô thị - chúng không chỉ trở nên lớn hơn, bỏi vì vấn đề sẽ trở nên trừu tượng hơn khi gia tăng quy mô, và trừu tượng không phải là thứ mà bản chất con người có thể quản lý một cách thỏa đáng. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho đòi sống đô thị: các khu dân cư là những ngôi làng cần được giữ gìn nguyên vẹn.
Gần đây tôi vừa bị tắc đường ở Luân Đôn, nghe nói ở đó vận tốc đi lại bằng với vận tốc của một thế kỷ rưỡi trước đây, nếu không muốn nói là chậm hơn. Tôi phải mất gần hai giờ để đi từ đầu này đến đầu kia của Luân Đôn. Khi tôi đã cạn kiệt đề tài nói chuyện với người tài xế (gốc Ba Lan), tôi tự hỏi, biết đâu Haussman không sai lầm, và biết đâu Luân Đôn sẽ khấm khá hơn chăng nếu như nước Anh cũng có một Haussman đập bỏ các khu dân cư và xây dựng những trục đường lớn tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông. Cho đến khi tôi chợt vỡ lẽ, thật ra, nếu giao thông ở Luân Đôn nhiều đến thế, so với các thành phố khác, đó là vì người ta muốn ở đó, và họ chấp nhận tốn kém để được ở đó. hơn một phần ba dân Luân Đôn là người sinh ra ở nước ngoài, và ngoài dân nhập cư, hầu hết những người giàu có trên hành tinh này đều chọn chốn dừng chân của họ ở trung tâm Luân Đôn. Xem ra, không có những đại lộ rộng lớn và không có một nhà nước tập quyền là một phần nét hấp dẫn của nơi này. Chẳng ai muốn dừng chân ở Brasilia (thủ đô của Brazil từ năm 1960), một thành phố hoàn hảo từ trên xuống dưới được xây dựng từ con số không trên bản đồ.
Tôi cũng kiểm tra và thấy rằng hầu hết những khu dân cư đắt đỏ nhất Paris ngày nay (như khu quận 6 hay ĩle Saint-Louis) là những khu may mắn được những người cách tân thế kỷ 19 chừa lại.
Cuối cùng, lập luận hay nhất chống lại thiết kế mục đích luận là như sau. Thậm chí sau khi đã được xây dựng, các công trình kiến trúc vẫn cứ phát sinh những đột biến, cứ như thể chúng cần tiến hóa từ từ và được tiếp quản bỏi môi trường năng động: chúng thay đổi màu sắc, hình thù, những cánh cửa sổ, và tính cách. Trong quyển sách How Buildings Learn, Stewart Brand chứng minh bằng hình ảnh các tòa nhà đã thay đổi thế nào theo thời gian, như thể chúng cần biến hóa thành những hình thù không thể nhận ra - những tòa nhà kỳ lạ, khi được dựng lên, vẫn không mất đi khả năng chọn lựa thay đổi trong tương lai.
Biến tường thành cửa sổ
Chủ nghĩa hoài nghi về quan điểm kiến trúc hiện đại mà tôi đang trình bày chẳng phải tuyệt đối. Trong khi hầu hết kiến trúc hiện đại mang lại cho ta sự căng thẳng phi tự nhiên, một số vẫn có sự cải thiện nhất định. Ví dụ, những cánh cửa sổ suốt từ trần lên đến sàn trong một môi trường thôn dã giúp ta gần gũi với thiên nhiên - ở đây một lần nữa, công nghệ làm cho chính nó trở nên vô hình (theo nghĩa đen). Trong quá khứ, kích thước cửa sổ được quyết định bởi sự cân nhắc về nhiệt độ, vì thời đó việc cách nhiệt rất khó khăn - hoi ấm thoát ra khá nhanh từ những cánh cửa sổ. Vật liệu xây dựng ngày nay giúp ta giải quyết được những vấn đề ràng buộc này. Hơn nữa, nhiều công trình kiến trúc Pháp là sự phản ứng trước thuế đánh vào cửa sổ và cửa ra vào ban hành sau Cách mạng Pháp, nên nhiều tòa nhà có số lượng cửa sổ rất ít.
Hệt như những đôi giày ôm lấy bàn chân giúp ta cảm nhận được địa hình, công nghệ hiện đại cho phép nhiều người trong chúng ta đảo ngược xu hướng của nền văn minh đi từ nhà bằng cây lá đến nhà bê tông, nghĩa là từ kiểu mẫu lặp đến hình học Euclide, theo cách diễn đạt của Oswald Spengler.110 Chúng ta hiện đang quay lại từ nhà bê tông trơn láng cho đến những công trình tự nhiên với kiểu mẫu lặp phong phú. Benoit Mandelbrot từng ngồi viết trước một khung cửa sổ nhìn ra hàng cây: ông khắc họa nét thẩm mỹ kiểu mẫu lặp nhiều đến mức phương án khác sẽ không thể chấp nhận được. Giờ đây, công nghệ hiện đại cho phép ta hòa vào thiên nhiên, và thay vì một cánh cửa sổ nhỏ, toàn bộ bức tường có thể trở nên trong suốt, giáp với những vùng đất rậm rạp và sum suê cây cối.
Đổi sang hệ đo lường mét
Một ví dụ về chứng cuồng hiện đại của các nhà nước: chiến dịch đổi sang hệ đo lường mét, nghĩa là sử dụng hệ mét thay cho các hệ thống “cổ xưa” trên cơ sở hiệu quả, và cho rằng điều đó “có ý nghĩa.” Logic của chiến dịch này dường như không chê vào đâu được (cho đến khi người ta thay nó bằng một logic tốt hơn, đỡ ngây ngô hơn, lẽ dĩ nhiên, và đó là điều mà tôi sẽ cố gắng làm ở đây). Ta hãy xem xét sự khác biệt giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm trong nỗ lực này.
Warwick Cairns, tương tự như Jane Jacobs, đã tranh đấu trong các phiên tòa để các nhà nông ở Anh tiếp tục bán chuối theo đơn vị đo lường pound, và những vấn đề tương tự khi họ chống lại việc sử dụng đơn vị đo lường kilôgam “hợp lý” hơn. Ý tưởng sử dụng hệ mét (kg và lít) ra đời từ cuộc Cách mạng Pháp, như một phần của tâm trạng không tưởng, còn bao gồm việc đổi tên các tháng mùa đông thành Nivôse, Pluviôse, Ventôse, mô tả thời tiết, thời gian theo số thập phân, tuần lễ có mười ngày, và các vấn đề duy lý ngây ngô tương tự. May thay, dự án thay đổi đơn vị đo lường thời gian đã thất bại. Tuy nhiên, sau những thất bại lặp lại, hệ mét đã được áp dụng ở Pháp nhưng hệ thống đo lường cũ vẫn tồn tại dai dẳng ở Hoa Kỳ và Anh. Cây bút người Pháp Edmond About111 từng đến Hy Lạp năm 1832, hàng chục năm sau khi đất nước này độc lập, đã kể lại, người nông dân phải vật lộn với hệ mét như thế nào vì nó hoàn toàn phi tự nhiên đối với họ, và thay vì thế, họ vẫn trung thành với các tiêu chuẩn Ottoman. (Tương tự, việc “hiện đại hóa” bảng chữ cái Ảrập từ chuỗi Xêmít dễ nhớ, nghe như những chữ ABJAD, HAWWAZ, thành chuỗi logic A-B-T-TH đã tạo ra một thế hệ những người nói tiếng Ảrập mà không có khả năng đọc bảng chữ cái.)
Nhưng ít ai nhận ra rằng các đơn vị đo lường ra đời một cách tự nhiên có logic của chúng: chúng ta sử dụng hệ feet, miles, pounds, inches, furlongs, stones (ở Anh) vì những đại lượng đo lường này cho ta cảm nhận trực giác rõ rệt và ta có thể sử dụng chúng mà gần như không cần gắng sức nhận biết - và mọi nền văn hóa xem ra đều có những đại lượng đo lường tương tự, có sự tương ứng vật chất với đời sống hàng ngày. Một mét dường như không tương xứng với một vật thể nào, trong khi một foot thì tương ứng với chiều dài một bàn chân. Tôi có thể hình dung ra ý nghĩa của chiều dài “30 feet” mà không cần cố gắng gì nhiều. Một mile, từ tiếng Latinh milia passum, có nghĩa là 1.000 nhịp bước. Tương tự, một stone (14 pounds) tương ứng với… một tảng đá (khoảng 6 kg). Một inch (hay pouce) tương đương với chiều dài một ngón tay cái. Một furlong là khoảng cách mà ta có thể chạy nước rút trong một nhịp thở. Một pound, từ libra (đơn vị đo lường thời La Mã cổ đại) là trọng lượng bạn có thể mang trên tay (khoảng 0,45 kg). Nhớ lại câu chuyện Thales trong chương 12 rằng chúng ta sử dụng đơn vị thekel hay shekel: các đơn vị này có nghĩa là “trọng lượng” trong ngôn ngữ Canaan-Xêmít, nhưng có ý nghĩa vật chất, tương tự như pound. Chắc chắn chẳng phải ngẫu nhiên mà các đơn vị đo lường này xuất hiện trong môi trường cổ đại - và chính hệ thống chữ số cũng xuất phát từ sự tương ứng với 10 ngón tay.
Khi tôi đang viết những dòng này, có lẽ một quan chức Liên minh châu Âu nào đó, kiểu người ăn 200 gam thịt nấu chín với 200 xăng-ti-lít rượu vang đỏ mỗi ngày trong bữa tối (lượng tối ưu cho sức khỏe của ông) đang lên kế hoạch đẩy mạnh “tính hiệu quả” của hệ mét trong các nước thành viên.
BIẾN KHOA HỌC THÀNH NGHỀ LÀM BÁO
Như vậy, ta có thể sử dụng tiêu chí về tính mỏng manh và tính mạnh mẽ để xử lý thông tin; trong bối cảnh này, đối tượng mỏng manh, như công nghệ, là đối tượng không thể vượt qua thử thách của thời gian. Do đó, suy nghiệm sàng lọc tốt nhất có trong việc xem xét tuổi thọ của sách vở và các bài báo khoa học. Những quyển sách chỉ mới tồn tại trong một năm thường không đáng đọc (xác suất có chất lượng để “sống sót” rất thấp), bất kể chúng được quảng cáo và gây chấn động cỡ nào. Vì thế, tôi tuân theo hiệu ứng Lindy như sự hướng dẫn trong việc tuyển chọn sách đọc: những quyển sách đã tồn tại qua 10 năm sẽ còn tồn tại thêm 10 năm nữa; những quyển sách đã tồn tại qua hai thiên niên kỷ sẽ tiếp tục tồn tại thêm một thời gian kha khá nữa, và cứ thế. Nhiều người thấu hiểu quan điểm này nhưng không áp dụng cho các công trình học thuật, mà phần lớn thực tế hiện đại xem ra không khác gì với nghề báo chí (ngoại trừ một vài trường hợp sáng tạo nguyên gốc). Vì nhằm tìm kiếm sự chú ý, các nghiên cứu hàn lâm có thể dễ dàng phụ thuộc vào hiệu ứng Lindy: cứ thử nghĩ tới hàng trăm nghìn bài báo học thuật mà chỉ là độ nhiễu hay những dữ liệu vô nghĩa, bất chấp chúng đã được quảng cáo thổi phồng như thế nào vào lúc xuất bản.
Trong việc xác định xem thử một kết quả khoa học hay một “phát minh” mới liệu có phải là một cú đột phá hay chăng, nghĩa là không phải dữ liệu vô nghĩa, vấn đề nằm ở chỗ, ta cần thấy mọi khía cạnh của ý tưởng - và luôn luôn có sự mù mờ mà chỉ có thời gian mới có thể xua tan. Cũng hệt như nhiều người đang trông chờ vào nỗ lực nghiên cứu điều trị ung thư, điều tôi bái phục là như sau. Đã có lúc người ta vô cùng phấn khích trước công trình của Judah Folkman, mà như ta thấy trong chương 15, tin rằng ta có thể chữa lành ung thư thông qua làm tắc nguồn cung máu (các khối u đòi hỏi phải có dưỡng chất và có xu hướng tạo ra những mạch máu mới, được gọi là sự hình thành mạch mới (neovascularization)}. Ý tưởng nghe không chê vào đâu được trên lý thuyết, nhưng khoảng một thập niên rưỡi sau, xem ra kết quả duy nhất đáng kể ta nhận được hoàn toàn không phải trong điều trị ung thư, mà trong việc điều trị bệnh thoái hóa điểm vàng.112
Tương tự, những kết quả dường như không thú vị, không được lưu ý tới, nhiều năm sau có thể hóa ra là những cú đột phá.
Vì thế, thời gian có tác dụng như một công cụ làm sạch độ nhiễu bằng cách vứt vào thùng rác tất cả những gì đã được tán tụng quá đáng. Một vài tổ chức thậm chí còn biến xuất phẩm khoa học này thành một trò giải trí rẻ tiền thu hút nhiều khán giả, trong đó họ xếp hạng “mười bài báo nóng sốt nhất” về ung thư trực tràng chẳng hạn, hay một chuyên ngành phụ nào đó.
Nếu ta thay thế các kết quả khoa học bằng các nhà khoa học, ta cũng thường nhận được sự quảng cáo thổi phồng mang tính cuồng hiện đại như vậy. Có một căn bệnh là trao giải thưởng cho một nhà khoa học đầy hứa hẹn “dưới 40 tuổi”, một căn bệnh lây lan trong mọi lĩnh vực kinh tế học, toán học, tài chính vv… Toán học thì hoi đặc biệt vì giá trị của các kết quả có thể nhận thấy ngay tức thời - vì thế tôi không phê phán. Nhưng trong những lĩnh vực mà tôi quen thuộc như văn học, tài chính và kinh tế, tôi dám chắc rằng giải thưởng dành cho những người dưới 40 là chỉ báo ngược tốt nhất về giá trị (cũng hệt như niềm tin đã được kiểm chứng của các nhà giao dịch rằng những công ty được quảng cáo thổi phồng về tiềm năng phát triển và được gọi là những công ty “tốt nhất” trên trang bìa các tạp chí hay trong những quyển sách như Từ tốt đến vĩ đại (Good to Great) là những công ty có hoạt động dưới chuẩn và ta có thể kiếm được lợi nhuận béo bở nhờ bán khống cổ phiếu của họ). Ảnh hưởng tệ hại nhất của những giải thưởng này là sự trừng phạt những ai không được giải thưởng và hạ thấp giá trị của ngành bằng việc biến ngành thành một cuộc cạnh tranh thể thao.
Nếu ta có một giải thưởng, giải thưởng đó nên trao cho những tác phẩm “hon một trăm năm”: phải mất gần 140 năm để xác nhận giá trị đóng góp của Jules Regnault,113 người khám phá ra khả năng chọn lựa và biểu diễn nó bằng toán học - cùng với những gì mà ta gọi là hòn đá luyện đan. Công trình của ông không có nhiều tiếng tăm trong suốt thời gian đó.
Bây giờ, nếu bạn muốn tin vào nhận định của tôi về việc khoa học có thể có độ nhiễu đến mức nào, hãy lấy bất kỳ quyển sách giáo khoa căn bản nào bạn đọc hồi phổ thông hay đại học mà hồi đó bạn thích - trong bất kỳ ngành nào. Mở ra một chương ngẫu nhiên, và xem thử ý tưởng của nó có còn phù hợp hay không. Dám chắc là nó có thể chán ngắt, nhưng vẫn phù hợp - hay không chán, và vẫn phù hợp. Nó có thể là Đại hiến chương Magna Carta năm 1215 (lịch sử nước Anh), cuộc chiến xứ Gaul của Caesar (lịch sử La Mã), thuyết trình lịch sử về trường phái khắc kỷ (triết học), dẫn nhập về cơ học lượng tử (vật lý), hay cây phả hệ của chó mèo (sinh học).
Bây giờ, hãy xem thử tài liệu của một hội nghị ngẫu nhiên về một đề tài có liên quan mới diễn ra năm năm trước đây. Dám chắc là nó sẽ không khác gì với một bài báo cũ từ năm năm trước, thậm chí còn kém thú vị hơn. Vì thế, về mặt thống kê, việc tham dự các hội nghị đột phá có thể lãng phí thời gian cũng hệt như một một tấm vé số tầm thường, với một xác suất trúng số nhỏ bé. Xác suất để một bài báo vẫn phù hợp và thú vị sau năm năm không lớn hơn 1/10.000. Đó chính là tính mỏng manh của khoa học!
Ngay cả một cuộc chuyện trò với thầy giáo phổ thông hay giảng viên của một trường đại học không tên tuổi lắm xem ra cũng còn giá trị hơn so với một bài báo học thuật mới nhất, đỡ bị chứng cuồng hiện đại làm hỏng hơn. Những cuộc chuyện trò hay nhất của tôi về triết học là với các thầy giáo trường trung học Pháp, những người yêu thích đề tài này nhưng không quan tâm theo đuổi sự nghiệp viết báo trong lĩnh vực này (ở Pháp, họ dạy triết học vào năm cuối cấp phổ thông). Những kẻ nghiệp dư trong bất kỳ ngành nào là những người thú vị nhất, nếu bạn có thể liên hệ với họ. Không như những tay chơi tài tử, những người hoạt động chuyên nghiệp biết bán rẻ tài năng mình trong những trường hợp nào.
Lẽ dĩ nhiên, bạn có thể đủ may mắn để tìm thấy một viên kim cương đâu đó, nhưng nói chung, chuyện trò với một học giả cũng hệt như chuyện trò với mấy người thợ sửa ống nước, tệ nhất, như trò chuyện với một người giữ cửa tán dóc những chuyện tầm phào nhất: chuyện tầm phào về những người không thú vị (các học giả khác), những chuyện phiếm. Nói đúng ra, việc trao đổi với các nhà khoa học hàng đầu đôi khi có thể vô cùng lôi cuốn, kiến thức của họ và việc ngao du qua các đề tài đối với họ không tốn chút công sức gì vì toàn bộ các cấu phần nhỏ của lĩnh vực đều đan xen vào nhau. Nhưng những người đó hiện nay vô cùng hiếm hoi trên hành tinh này.
Tôi hoàn tất phần này với giai thoại sau đây. Một trong các sinh viên của tôi (chuyên về mọi đề tài trong kinh tế học) hỏi tôi về nguyên tắc chọn lựa xem người ta nên đọc những gì. “Càng ít càng tốt từ những tác phẩm trong vòng 20 năm trở lại đây, ngoại trừ những sách lịch sử không nói về 50 năm gần đây,” tôi buột miệng với một chút kích động vì tôi ghét những câu hỏi như “quyển sách hay nhất ông từng đọc,” hay “mười quyển sách hay nhất là gì”, vì cứ sau mỗi mùa hè, “mười quyển sách hay nhất tôi từng đọc” lại thay đổi. Đồng thời, tôi cũng quảng cáo cho quyển sách gần đây của Daniel Kahneman, vì chủ yếu nó trình bày những nghiên cứu của ông từ 35 đến 40 năm trước đây, với sự sàng lọc và hiện đại hóa. Lời khuyên của tôi dường như phi thực tế, nhưng sau một thời gian, anh bạn sinh viên xây dựng một văn hóa đọc trong những tác phẩm kinh điển như Adam Smith, Karl Marx, và Hayek, mà anh tin rằng anh sẽ trích dẫn vào tuổi 80. Anh bảo tôi rằng sau khi “giải độc”, anh nhận ra tất cả những gì các bạn khác làm là kịp thời đọc những tài liệu mà ngay lập tức sẽ trở nên lỗi thời.
NHỮNG GÌ SẼ ĐỔ VỠ
Năm 2010, tạp chí The Economist mời tôi tham dự một trắc nghiệm tưởng tượng về thế giới vào năm 2036. Vì họ ý thức được sự dè dặt của tôi về những người dự báo, nên dự định của họ là mang lại “cân bằng” phê phán, sử dụng tôi làm đối trọng với vô số nhà dự báo có óc tưởng tượng phong phú, và trông chờ vào sự đả kích kịch liệt, nóng nảy và miệt thị như thường lệ của tôi.
Khá bất ngờ cho họ khi sau hai giờ đồng hồ đi bộ chậm rãi, tôi viết ra một loạt dự báo trong một bài và gửi cho họ. Thoạt đầu, có lẽ họ nghĩ rằng tôi trêu đùa họ, hay có ai đó nhận nhầm thư điện tử và đóng giả tôi. Phác thảo cơ sở lý luận về tính mỏng manh và phi đối xứng (hiệu ứng lồi trước các sai lầm), tôi giải thích rằng tôi dự kiến tương lai sẽ tràn ngập những kệ sách kín tường, những thiết bị như điện thoại, hàng thủ công, đại loại thế, vận dụng quan niệm cho rằng hầu hết những công nghệ hiện đã tồn tại được 25 năm sẽ còn tồn tại thêm 25 năm nữa - tôi nhắc lại, hầu hết chứ không phải tất cả.114 Nhưng những gì mỏng manh sẽ biến mất, hay suy yếu đi. Vậy thì cái gì mỏng manh? Những gì to lớn, tối ưu hóa, dựa dẫm quá đáng vào công nghệ, dựa dẫm quá đáng vào cái gọi là phương pháp khoa học thay vì những quy tắc kinh nghiệm đã được thời gian kiểm chứng. Những công ty lớn hiện nay sẽ ra đi, vì họ luôn luôn suy yếu bởi chính những gì họ cho là sức mạnh của họ: quy mô, vốn là kẻ thù của các công ty vì nó gây ra tính mỏng manh bất cân xứng trước các biến cố Thiên Nga Đen. Các thành bang và các công ty nhỏ có thể còn tồn tại, hay thậm chí sẽ thịnh vượng. Nhà nước tập quyền, ngân hàng trung ương luôn in thêm tiền, những thứ gọi là các bộ phận kinh tế, có thể vẫn tồn tại trên danh nghĩa, nhưng sức mạnh của họ sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Nói cách khác, những gì ta thấy ở cột bên trái trong Bảng Bộ Ba sẽ ra đi - than ôi, chúng sẽ được thay thế bởi những thứ mỏng manh khác.
CÁC NHÀ TIÊN TRI VÀ HIỆN TẠI
Bằng việc đưa ra những lời cảnh báo dựa vào tính dễ bị tổn thương - nghĩa là những lời tiên tri phản đề - ta đang tiến gần hơn với vai trò ban đầu của nhà tiên tri: cảnh báo, chứ không nhất thiết là dự đoán, và dự đoán các thảm họa nếu người ta không lắng nghe.
Vai trò kinh điển của nhà tiên tri, chí ít theo ý nghĩa vùng Levant, không phải là nhìn về tương lai, mà đúng ra là nói về hiện tại. Nhà tiên tri khuyên người ta nên làm gì, hay đúng hơn và xác đáng hơn, theo tôi, khuyên họ không nên làm gì. Theo các truyền thống tôn giáo độc thần (monotheistic) như Do Thái giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo, vai trò chính của các nhà tiên tri là bảo vệ đạo giáo trước kẻ thù tín ngưỡng đa thần giáo, có thể mang lại tai họa cho những con chiên lạc lối. Nhà tiên tri là người duy nhất giao tiếp với Chúa, hay chí ít có thể đọc được tư tưởng của Người, và điều then chốt là đưa ra sự cảnh báo với thần dân của Người. Nby trong tiếng Xêmít, giống như Nevi hay nebi (tiếng Hebrew gốc), phát âm hoi giống tiếng Aramaic (nabi’y) và tiếng Ảrập (nabi), cơ bản có nghĩa là người liên hệ với Chúa, trình bày tư tưởng của Chúa - nab’ trong tiếng Ảrập có nghĩa là “tin tức” (từ nguyên Xêmít trong tiếng Acadia là nabu, có nghĩa là “gọi”). Dịch sang tiếng Hy Lạp, pro-phetes, có nghĩa là “người phát ngôn”, và được giữ lại trong thế giới Hồi giáo như vai trò kép của Nhà tiên tri Mohammed, là vai trò của người đưa tin (rasoul) - có sự khác biệt đẳng cấp giữa vai trò của người phát ngôn (nabí) và người đưa tin (rasoul). Công việc dự báo đơn thuần tương đối giới hạn trong các nhà tiên tri (seers), hay những người thực hiện việc bói toán như các “chiêm tinh gia,” không được kinh Koran và kinh Cựu ước thừa nhận. Một lần nữa, người Canaan thời cổ đại quá lộn xộn trong các tín ngưỡng tôn giáo và các cách tiếp cận khác nhau để xử lý tương lai, và nhà tiên tri chính xác là người chỉ tiếp xúc với Chúa, chứ không phải với tương lai như những người theo đạo thờ thần Baal.
Mà công việc của nhà tiên tri Levant cũng không phải là một nghề nghiệp chuyên môn đáng mơ ước. Như tôi đã nói từ đầu chương này, người ta cũng không hoàn toàn chấp nhận họ: Jesus, khi đề cập đến số phận của Elijah (người cảnh báo chống lại thần Baal, nhưng sau đó trớ trêu thay phải tìm sự khuây khỏa ở Sidon, chính là nơi thần Baal được tôn thờ), từng nhận xét rằng Bụt chùa nhà không thiêng. Và sứ mệnh tiên tri không nhất thiết có tính chất tự nguyện. Thử nhìn lại cuộc đời của nhà tiên tri Jeremiah trĩu nặng những lời thở than ai oán, khi những lời cảnh báo không dễ chịu của ông về sự tàn phá và giam cầm (và nguyên nhân của nó) không giúp cho ông được ưa chuộng và ông trở thành biểu tượng nhân cách hóa của khái niệm “giết sứ giả” và thành ngữ veritas odium parit - sự thật mất lòng. Jeremiah bị đánh đập, trừng phạt, ngược đãi, và là nạn nhân của vô số mưu đồ, liên quan đến chính những người anh em của ông. Các tài liệu ngụy tạo và tưởng tượng còn cho ông bị ném đá đến chết ở Ai Cập.
Xa hơn về phía bắc Xêmít, theo truyền thống Hy Lạp, ta cũng thấy sự chú trọng vào các thông điệp, những lời cảnh báo về hiện tại, và sự trừng phạt tương tự giáng xuống những ai có thể hiểu những điều mà những người khác không hiểu. Ví dụ, Cassandra có tài tiên tri, cùng với lời nguyền là người ta sẽ không tin nàng, khi những con rắn thần làm sạch tai nàng nên nàng có thể nghe những thông điệp đặc biệt. Tiresias trở nên mù lòa và bị biến thành phụ nữ vì phoi bày bí mật của các vị thần - nhưng, như một niềm an ủi, Athena liếm tai chàng nên chàng có thể hiểu được những điều bí mật trong tiếng hót của loài chim.
Hãy nhớ lại trong chương 2 rằng chúng ta thường không thể học hỏi từ hành vi quá khứ. Vấn đề không học hỏi từ hành vi quá khứ - thiếu tư duy bậc hai - là như sau. Nếu những người truyền đạt những thông điệp có giá trị trong dài hạn từng bị ngược đãi trong quá khứ, ta dự kiến rằng sẽ có một cơ chế điều chỉnh, qua đó con người khôn ngoan cuối cùng sẽ học hỏi từ kinh nghiệm quá khứ, nên những người truyền đạt những thông điệp mới sẽ được chào đón bằng sự cảm thông hơn. Nhưng chẳng có điều gì đại loại như thế xảy ra cả.
Vấn đề không học hỏi từ hành vi quá khứ không chỉ áp dụng cho hoạt động tiên tri, mà còn áp dụng cho các hoạt động khác của con người: nếu bạn tin rằng những gì sắp có tác dụng và sắp phát triển tốt sẽ là một ý tưởng mới mà những người khác không nghĩ ra, những gì ta thường gọi là “phát minh”, thì bạn sẽ kỳ vọng mọi người sẽ đón nhận nó bằng ánh mắt trong sáng hơn dành cho những ý tưởng mới mà không cần tham khảo nhận thức của những người khác. Nhưng họ không làm như thế: những gì tưởng chừng là “nguyên gốc” thật ra có xu hướng được lập mô hình dựa trên những gì đã từng mới mẻ một thời nhưng không còn mới nữa; thế nên đối với nhiều nhà khoa học, trở thành một Einstein có nghĩa là giải một bài toán tương tự như bài toán Einstein đã giải, trong khi thời đó Einstein không giải một bài toán tiêu chuẩn nào cả. Chính cái ý tưởng trở thành một Einstein trong vật lý không còn là ý tưởng nguyên gốc và mới mẻ nữa. Tôi từng thấy sai lầm tương tự trong lĩnh vực quản lý rủi ro; đó là sai lầm của những nhà khoa học ra sức trở thành mới mẻ theo một phương thức tiêu chuẩn. Trong quản lý rủi ro, người ta chỉ xem xét những loại rủi ro từng gây tổn thương cho họ trong quá khứ (ứng với sự chú trọng vào “bằng chứng” của họ), mà không nhận ra rằng, trong quá khứ trước nữa, trước khi các biến cố này diễn ra, những sự kiện làm tổn thương họ nghiêm trọng hoàn toàn chưa từng xảy ra, vượt mọi tiêu chuẩn. Và nỗ lực cá nhân của tôi nhằm đưa họ thoát khỏi lối mòn để xem xét đến những yếu tố bậc hai này đã thất bại - cũng như nỗ lực làm cho họ nhận thức ý tưởng về tính mỏng manh.
CON CHÓ CỦA EMPEDOCLES
Trong chuyên luận về đạo lý Magna Moralia của Aristotle, có một câu chuyện dường như không xác thực về Empedocles, nhà hiền triết thời trước Socrate; người ta hỏi ông tại sao con chó luôn thích ngủ trên cùng một ô gạch. Ông đáp, ắt phải có sự tương đồng giữa con chó và ô gạch đó. (Thật ra câu chuyện xem ra thậm chí còn không xác thực hơn, vì tôi không biết liệu Magna Moralia có thật sự do chính Aristotle viết hay không.)
Ta hãy xem sự tương đồng giữa con chó và ô gạch. Một sự tương đồng tự nhiên, sinh học, có thể giải thích hay không thể giải thích, được xác nhận bỏi tần suất lặp lại nhiều lần, chỉ xem xét lịch sử câu chuyện, chứ không dựa trên sự giải thích duy lý.
Điều này đưa tôi đến với kết luận của bài tập tiên tri.
Tôi phỏng đoán rằng những công nghệ nhân sinh như viết và đọc hiện đang tồn tại cũng hệt như ô gạch đối với con chó, sự hòa hợp giữa những người bạn tự nhiên, vì chúng tương ứng với điều gì đó sâu thẳm trong tự nhiên của chúng ta.
Mỗi khi tôi nghe ai đó đang cố gắng so sánh giữa sách in và sách điện tử, hay giữa một vật cổ xưa và một công nghệ, thì lại có những “ý kiến” đột ngột được đưa ra, cứ như thể thực tế phụ thuộc vào ý kiến và việc tường thuật của ta. Có những bí mật của thế giới chúng ta mà chỉ có thực tế mới trả lời, và không một ý kiến hay phân tích nào có thể nắm bắt được trọn vẹn.
Lẽ dĩ nhiên, thuộc tính bí mật này chỉ bộc lộ qua thời gian mà thôi.
Những gì không có ý nghĩa
Ta hãy xem xét sâu xa hơn ý tưởng con chó của Empedocles: Nếu bạn cho điều gì đó là vô nghĩa (chẳng hạn như tôn giáo - nếu bạn là một người vô thần - hay một thói quen nào đó của tuổi già thường bị cho là phi lý); nếu điều đó vẫn tồn tại qua một thời gian rất dài, thì dù có lý hay phi lý, bạn có thể dự kiến nó sẽ tồn tại lâu hơn, và sống lâu hơn những người hô hào sự diệt vong của nó.