Làm sao cho những lời rao giảng đỡ rẻ tiền hơn - Xem xét chiến lợi phẩm - Các công ty với hành động ngẫu nhiên vì lòng trắc ẩn? - Dự đoán và dự đoán trái khoáy
Chương này giúp ta tìm hiểu xem ta sẽ lâm vào tình trạng như thế nào khi người này hưởng lợi trong khi người khác gánh chịu thiệt thòi.
Vấn đề tồi tệ nhất của tính hiện đại nằm ở việc chuyển giao tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh từ bên này sang bên kia, trong đó một bên hưởng lợi còn bên kia gánh chịu thiệt hại (mà không biết), và quá trình chuyển giao độc ác đó càng thuận lợi hơn do luật pháp và đạo lý ngày càng tách ròi nhau. Tình trạng này vốn đã tồn tại từ lâu, nhưng giờ đây càng trở nên sâu sắc - tính hiện đại giỏi che giấu thực trạng này.
Lẽ dĩ nhiên, đó là vấn đề xung đột lợi ích giữa người ủy quyền và người đại diện.
Và dĩ nhiên, vấn đề xung đột lợi ích này có tính phi đối xứng.
Chúng ta đang chứng kiến sự thay đổi cơ bản. Cứ xem thử những xã hội cổ xưa hơn vẫn còn tồn tại. Điểm khác biệt quan trọng nhất giữa ta và họ là sự biến mất ý thức về chủ nghĩa anh hùng; sự kính trọng và quyền lực được chuyển sang những người đổ rủi ro thiệt hại cho người khác. Nói chính xác, chủ nghĩa anh hùng trái ngược với vấn đề xung đột lợi ích của người ủy quyền và người đại diện: vì quyền lợi của những người khác, người anh hùng thời xưa sẵn lòng chấp nhận gánh chịu thiệt thòi (liều mạng sống, hay chấp nhận thiệt hại về phía mình, hay nhẹ hơn, từ bỏ lợi ích riêng). Hiện nay đang xảy ra chuyện ngược lại: quyền lực dường như thuộc về những kẻ như các ông chủ ngân hàng, các giám đốc công ty (không phải các nghiệp chủ), và các chính khách, những kẻ đánh cắp quyền chọn miễn phí từ xã hội.
Và chủ nghĩa anh hùng không chỉ liên quan đến bạo loạn và chiến tranh. Ví dụ về điều này, thời thơ ấu tôi ấn tượng nhất với câu chuyện một bảo mẫu hy sinh mạng sống để cứu một em bé không bị xe ô tô tông phải. Tôi thấy không gì can trường hơn việc chết thay cho người khác.
Nói cách khác, điều đó gọi là sự hy sinh. Và từ “hy sinh” liên quan đến sự thiêng liêng, khác với sự trần tục.
Trong các xã hội truyền thống, người ta chỉ được kính trọng và đánh giá cao khi họ sẵn lòng đương đầu với thiệt hại vì quyền lợi của những người khác. Nghề nghiệp dũng cảm nhất và can trường nhất là những nghề cao quý nhất trong xã hội: hiệp sĩ, tướng lĩnh, chỉ huy. Thậm chí các ông trùm mafia cũng chấp nhận rằng cương vị của họ trong hệ thống tôn ti thứ bậc làm cho họ liên lụy nhiều nhất với rủi ro bị các đối thủ cạnh tranh và bị chính quyền trừng phạt nặng nhất. Điều này cũng áp dụng cho các vị thánh, những người từ bỏ cuộc sống và hiến dâng đời mình để phục vụ những người khác, để giúp đỡ kẻ yếu, những người khốn khổ và bị truất quyền.
Bảng 7 trình bày một Bảng Bộ Ba khác: có những người không dấn thân và không chấp nhận rủi ro về phần mình nhưng vẫn hưởng lợi từ những người khác; những người không hưởng lợi mà cũng chẳng gây hại cho người khác; và cuối cùng là những người hy sinh, gánh chịu thiệt hại vì quyền lợi của người khác.
BẢNG 7. ĐẠO ĐỨC VÀ TÍNH PHI ĐỐI XỨNG TRIỆT ĐỂ
| KHÔNG DẤN THÂN | DẤN THÂN VÀ CHẤP | DẤN THÂN VÀ CHẤP NHẬN RỦI RO VỀ PHẦN MÌNH VÌ QUYỀN LỢI CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÁC |
| [Nắm giữ quyền lợi, chuyển giao thiệt hại cho người khác, giành lấy quyền chọn ngầm ẩn bằng tổn thất của người khác] | [Chịu thiệt hại cá nhân, chấp nhận rủi ro cá nhân] | [Chấp nhận thiệt hại thay cho người khác, phục vụ giá trị chung] |
| Quan chức nhà nước | Công dân | Các vị thánh, hiệp sĩ, chiến binh, quân nhân |
| Những câu chuyện rẻ tiền | Hành động, không nói | Những câu chuyện cao quý |
| Các nhà tư vấn, những kẻ ngụy biện | Thương nhân, doanh nhân | Các nhà tiên tri, hiền triết (theo ý nghĩa tiền hiện đại) |
| Doanh nghiệp | Người làm nghề thủ công | Nghệ sĩ, một số người làm nghề thủ công |
| Các giám đốc công ty (với những bộ cánh bóng mượt) | Các nghiệp chủ | Nghiệp chủ / các nhà phát minh |
| Các nhà lý thuyết, những kẻ thao túng số liệu, các nghiên cứu quan sát | Các nhà thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và tại thực địa | Các nhà khoa học phi đảng phái |
| Nhà nước tập quyền | Nhà nước thành bang | Chính quyền thành phố |
| Các nhà biên tập | Các tác giả | Những tác giả vĩ đại |
| Những nhà báo chuyên “phân tích” và dự đoán | Những người đầu cơ | Những nhà báo chấp nhận rủi ro và vạch trần những vụ lừa đảo (các công ty, các chế độ quyền lực) |
| Các chính khách | Các nhà hoạt động xã hội / chính trị | Những người nổi loạn, bất đồng, các nhà cách mạng |
| Chủ ngân hàng | Các nhà giao dịch | (Họ không tham gia vào hoạt động thương mại tầm thường) |
| Giáo sư tiến sĩ fragilista Joseph Stiglitz | Tony Béo | Nero Tulip |
| Những người mua đi bán lại các hợp đồng tài chính rủi ro | Người nộp thuế (không hoàn toàn có tinh thần tự nguyện trong cuộc chơi, mà họ là nạn nhân) |
Tôi xin chiều theo cảm xúc của mình và bắt đầu bằng cột thứ ba bên phải, bao gồm những vị anh hùng và những người can đảm. Tính mạnh mẽ, thậm chí khả năng cải thiện nghịch cảnh của xã hội, phụ thuộc vào họ; nếu chúng ta tồn tại ở đây ngày hôm nay, đó là vì có những người vào một lúc nào đó đã thay ta gánh chịu rủi ro. Nhưng lòng dũng cảm và anh hùng không có nghĩa là chấp nhận rủi ro mù quáng, không nhất thiết là sự liều lĩnh. Có một thứ can đảm giả hiệu xuất phát từ sự mù quáng về rủi ro, trong đó người ta đánh giá quá thấp xác suất thất bại. Chúng ta có nhiều bằng chứng cho thấy chính những người này đã trở thành gà tây và phản ứng quá đáng trước rủi ro thật sự; chính xác là điều ngược với can đảm thực sự. Đối với những người khắc kỷ, sự thận trọng có cùng bản chất với lòng dũng cảm - dũng cảm chống lại thôi thúc bản năng (trong một câu cách ngôn của Publilius Syrus, thận trọng được xem là lòng can đảm của vị đại tướng).
Chủ nghĩa anh hùng đã tiến hóa qua nền văn minh từ chinh chiến trận mạc đến đấu trường tư tưởng. Thoạt đầu, vào thời tiền cổ đại, anh hùng Homeric là người bẩm sinh có lòng can đảm thể chất - vì mọi thứ đều là thể chất. về sau, đến thời cổ đại, đối với những người như hoàng đế Agiselaus xứ Sparta của Hy Lạp cổ đại, một cuộc đời thật sự hạnh phúc là cuộc đời được vinh dự chết trên chiến trường, hiếm có điều gì khác, hay có lẽ không còn điều gì khác. Nhưng đối với Agiselaus, lòng dũng cảm đã tiến hóa từ sự can đảm chiến đấu thành điều gì đó to tát hơn. Lòng dũng cảm thường được nhìn nhận trong hành động hy sinh quên mình, như khi người ta sẵn sàng xả thân vì lợi ích của những người khác, của tập thể, với tinh thần vị tha.
Cuối cùng, một hình thức mới của lòng dũng cảm đã ra đòi, lòng dũng cảm theo Plato môn đồ của Socrates, cũng chính là định nghĩa của con người hiện đại: dũng cảm đứng lên bảo vệ một ý tưởng, và tận hưởng cái chết trong trạng thái chấn động, đơn giản chỉ vì đặc quyền được hy sinh cho chân lý, hay giữ vững các giá trị, là niềm vinh dự cao quý nhất. Và không ai rạng danh trong lịch sử cho bằng hai nhà tư tưởng từng công khai và can trường hy sinh mạng sống vì lý tưởng của họ: hai nhà tư tưởng ở đông Địa Trung Hải, một người Hy Lạp và một người Xêmít.
Ta nên dừng lại một chút khi nghe ai đó định nghĩa hạnh phúc là một tình trạng kinh tế hay vật chất. Bạn có thể hình dung tôi cảm thấy muộn phiền đến mức nào khi nghe nói về “các giá trị tầng lớp trung lưu” phi anh hùng đang được tôn vinh, mà nhờ vào toàn cầu hóa và Internet, đã lan tràn đến bất kỳ nơi nào hãng hàng không British Air có thể dễ dàng bay tới, trân trọng cất giữ những chất gây nghiện thông thường của những tầng lớp được tôn sùng: “công việc nhọc nhằn” của một ngân hàng hay một công ty thuốc lá, việc đọc báo hàng ngày chăm chỉ, tuân thủ hầu hết nhưng không phải toàn bộ luật giao thông, tình trạng bị giam cầm trong cơ cấu tổ chức công ty, sự phụ thuộc vào ý kiến của sếp (với các hồ sơ lý lịch chất đầy trong phòng tổ chức nhân sự), sự tuân thủ luật pháp, dựa dẫm vào đầu tư thị trường cổ phiếu, các kỳ nghỉ ở vùng nhiệt đới, và một cuộc sống ngoại ô (với một khoản vay mua nhà trả góp) với một chú chó dễ thương và hương vị rượu vang tối thứ bảy. Những người đạt được chút thành công tham gia vào bộ sưu tập danh sách tỉ phú hàng năm, trong đó họ hy vọng trải qua chút thời gian trước khi doanh số bán phân bón của họ bị các đối thủ cạnh tranh từ Trung Quốc thách thức. Họ sẽ được gọi là anh hùng, chứ không phải may mắn. Ngoài ra, nếu thành công là ngẫu nhiên, thì hành động có ý thức của chủ nghĩa anh hùng không có tính ngẫu nhiên. Và tầng lớp trung lưu “đạo đức” có thể làm việc cho một công ty thuốc lá, và nhờ vào những lý lẽ ngụy biện để tự cho mình là đạo đức.
Tôi còn buồn phiền hơn về tương lai loài người khi tôi thấy một kẻ say mê khoa học ngồi sau một chiếc máy tính ở khu ngoại ô Washington DC., cách một tiệm cà phê Starbucks hay một cửa hàng mua sắm chỉ vài bước chân, có thể làm nổ tung cả một binh đoàn ở một nơi xa xôi như Pakistan, rồi sau đó đến phòng tập thể hình để “tập luyện” (hãy so sánh văn hóa của gã với văn hóa của các hiệp sĩ hay samurai). Sự hèn nhát được đẩy mạnh bằng công nghệ thảy đều có liên quan với nhau: xã hội trở nên mỏng manh bỏi các chính khách ẻo lả, những kẻ đại diện tinh ranh lo lắng trước kỳ bầu cử, và những phóng viên thêu dệt những câu chuyện, những kẻ gây ra thâm thủng ngân sách, và vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện sâu sắc do họ muốn trông có vẻ tốt đẹp trong ngắn hạn.
Có một điều cần làm rõ ở đây. Bảng 7 không ngụ ý rằng những người hoàn toàn dấn thân và chấp nhận rủi ro về phần mình trong cuộc chơi nhất thiết là đúng, hay việc xả thân vì lý tưởng làm cho họ nhất thiết tốt đẹp đối với những người còn lại: nhiều người ủng hộ những chính sách cứu thế không tưởng thậm chí còn gây ra đôi chút thiệt hại. Mà cũng không nhất thiết phải có một cái chết hoành tráng: nhiều người đấu tranh với cái xấu trong nỗi nhọc nhằn của cuộc sống hàng ngày mà trông không ra dáng anh hùng; họ phải chịu đựng thái độ vô ơn của xã hội nhiều hơn, khi những anh hùng giả hiệu thân thiện với giới truyền thông đang vươn cao thanh thế. Những người này sẽ không được các thế hệ tương lai dựng tượng.
Kẻ nửa người nửa ngợm không phải là kẻ không có quan điểm, mà là kẻ không dám đón nhận rủi ro để bảo vệ quan điểm của mình.
Sử gia vĩ đại Paul Veyne137 gần đây cho ta thấy một huyền thoại rằng các đấu sĩ cũng là lao động cưỡng bức. Hầu hết những người tình nguyện muốn có cơ hội trở thành anh hùng thông qua mạo hiểm tính mạng và chiến thắng, hoặc khi thất bại, họ chứng tỏ trước mọi người trên thế giới rằng họ có thể chết trong danh dự không chút sợ hãi; khi một đấu sĩ bại trận, đám đông sẽ quyết định liệu đấu sĩ đó nên được tha mạng hay bị đối thủ giết chết. Và khán giả không quan tâm thương xót những kẻ không tình nguyện, khi họ không xả thân trong trận đấu.
Bài học lớn nhất của tôi về lòng dũng cảm xuất phát từ cha tôi; hồi còn bé, tôi ngưỡng mộ ông vì học vấn uyên thâm của ông, nhưng không khiếp sợ vì sự uyên bác tự nó không làm nên con người. Ông có một bản ngã lớn lao và một nhân phẩm vĩ đại, và ông đòi hỏi phải được tôn trọng. Có lần ông bị một đội viên dân quân xúc phạm trong một vụ kiểm soát trên đường thời chiến tranh Libăng. Ông từ chối tuân thủ, và nổi giận với gã dân quân không tôn trọng ông. Và khi ông lái xe đi, gã đã bắn vào lưng ông. Viên đạn nằm trong ngực ông suốt phần đời còn lại nên ông phải mang theo một tấm phim X quang mỗi khi qua cổng sân bay. Điều này vạch ra một tiêu chuẩn rất cao cho tôi: nhân phẩm không có giá trị gì trừ khi bạn giành được nó, trừ khi bạn sẵn lòng trả giá để bảo vệ nó.
Bài học tôi học được từ văn hóa cổ xưa này là khái niệm megalopsychon (một thuật ngữ được nói tới trong đạo đức học của Aristotle), hay ý thức về “sự tôn nghiêm cao quý”, đã được thay thế bằng giá trị về “sự khiêm tốn nhún nhường” của Ki-tô giáo. Không có một từ tương đương trong các ngôn ngữ Romance (bao gồm tiếng Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Rumani và Tây Ban Nha); trong tiếng Ảrập, nó được gọi là Shhm - dịch chính xác ra là không nhỏ. Nếu bạn chấp nhận rủi ro và đương đầu với số phận một cách đầy phẩm giá, không một hành động nào của bạn có thể làm cho bạn trở trên tầm thường nhỏ bé; nếu bạn không dám chấp nhận rủi ro, không một hành động nào của bạn có thể giúp bạn trở thành vĩ đại, không hề có. Và khi bạn chấp nhận rủi ro, sự xúc phạm của những kẻ nửa người nửa ngợm (những kẻ nhỏ bé tầm thường, không dám chấp nhận chút rủi ro nào) sẽ chẳng khác gì tiếng sủa của những con vật không phải loài người: chó đâu có làm cho bạn cảm thấy bị xúc phạm.
Bây giờ ta sẽ tìm hiểu các yếu tố trong bảng 7 và đưa tính phi đối xứng cơ bản (giữa thiệt hại và lợi ích) vào chủ đề chính của chúng ta: đạo đức. Chỉ có các giáo sư trường kinh doanh và các fragilista tương tự mới tách biệt giữa tính mạnh mẽ và tăng trưởng; cũng hệt như vậy, ta không thể tách biệt giữa tính mỏng manh và đạo đức.
Có những người đạt được quyền chọn hay khả năng chọn lựa bằng tổn thất của những người khác. Và những người khác không hay biết gì về điều đó.
Ảnh hưởng của việc chuyển giao tính mỏng manh này ngày càng trở nên sâu sắc, vì tính hiện đại ngày càng đưa nhiều người hơn vào cột bên trái, mà ta có thể gọi là những vị anh hùng trái khoáy. Do tính hiện đại nên ngày càng có nhiều nghề nghiệp trở nên có khả năng cải thiện nghịch cảnh hơn nhưng lại gây ra tính mỏng manh cho những người khác; như công chức chính phủ, các nhà nghiên cứu học thuật, các nhà báo (thuộc loại không dám bóc trần những chuyện hoang đường), các cơ sở y khoa, ngành dược khổng lồ, và còn nhiều nữa. Ta giải quyết vấn đề bằng cách nào đây? Như thường lệ, với sự giúp đỡ vĩ đại của người xưa.
Bộ luật Hammurabi tồn tại qua gần 3.800 năm xác định nhu cầu tái lập trạng thái đối xứng của tính mỏng manh như sau:
Nếu một người dựng nhà rồi ngôi nhà sụp đổ và gây tử vong cho chủ nhà, người dựng nhà phải xử tội chết. Nếu gây tử vong cho con của chủ nhà, con của người dựng nhà phải xử tội chết. Nếu gây tử vong cho nô lệ của chủ nhà, người dựng nhà phải bồi thường một nô lệ khác có giá trị tương đương cho chủ nhà.
Xem ra người cổ đại 3.800 năm trước còn tiến bộ hơn chúng ta ngày nay. Toàn bộ ý tưởng ở đây là, người làm nhà am hiểu hơn nhiều so với bất kỳ một thanh tra an toàn nào, nhất là về những gì ẩn giấu trong nền móng căn nhà - làm cho nó trở thành nguyên tắc quản lý rủi ro tốt nhất từng có, vì sự sụp đổ không xảy ra ngay, nên nền móng căn nhà là nơi tốt nhất để che giấu rủi ro. Hammurabi và các cố vấn của ông am hiểu các xác suất nhỏ.
Bây giờ, rõ ràng mục tiêu ở đây không phải là trừng phạt sau khi sự việc xảy ra, mà là cứu lấy mạng sống bằng cách đặt ra ngay từ đầu những yếu tố răn đe để người ta không gây thiệt hại cho những người khác khi hành nghề.
Tính phi đối xứng này đặc biệt nghiêm trọng khi liên quan đến xác suất nhỏ của những biến cố hiếm hoi, nghĩa là những biến cố Thiên Nga Đen, vì đây là những biến cố bị hiểu sai nhất và dễ dàng che giấu mức độ rủi ro của chúng nhất.
Tony Béo có hai quy tắc kinh nghiệm.
Thứ nhất, không bao giờ bước lên máy bay nếu không có phi công trên khoang.
Thứ hai, bảo đảm phải có thêm một phi công nữa.
Quy tắc thứ nhất giải quyết tính phi đối xứng trong việc khen thưởng và trừng phạt, hay sự chuyển giao tính mỏng manh giữa các cá nhân. Ralph Nader138 có một quy tắc đơn giản: những người ủng hộ chiến tranh ít nhất phải có một người trong dòng tộc (con hay cháu) ra trận. Đối với người La Mã, các kỹ sư phải sống một thời gian bên dưới chiếc cầu họ xây dựng - điều này lẽ ra phải được yêu cầu đối với các kỹ sư tài chính ngày nay. Người Anh còn đi xa hơn và yêu cầu gia đình của các kỹ sư phải sống một thời gian bên dưới chiếc cầu họ xây dựng.
Đối với tôi, mỗi người khi đưa ra một quan điểm cần phải dấn thân và chấp nhận rủi ro thiệt hại gây ra ra do dựa vào quan điểm hay thông tin đó (không thể chấp nhận những kẻ đã gây ra việc xâm lược Iraq rồi thoát ra bình yên vô sự). Hơn nữa, bất kỳ ai thực hiện việc dự báo hay phân tích kinh tế cần phải có gì đó để mất từ những dự báo hay phân tích này, bởi vì những người khác sẽ dựa vào các dự báo đó (nhắc lại, các dự báo dẫn đến hành vi chấp nhận rủi ro; chúng độc hại đối với chúng ta hơn bất kỳ hình thức ô nhiễm nhân sinh nào khác).
Ta có thể suy ra muôn vàn suy nghiệm phụ từ các quy tắc của Tony Béo, đặc biệt để giảm bớt sự yếu kém của các hệ thống dự đoán. Bất kỳ dự đoán nào mà người dự đoán không dấn thân và không chấp nhận liên lụy rủi ro đều có thể gây nguy hiểm cho người khác, hệt như những nhà máy hạt nhân không người, không có kỹ sư ăn ngủ ngay trong nhà máy. Máy bay phải có phi công.
Quy tắc thứ hai là ta cần có dự trữ dự phòng, một biên độ an toàn, tránh tối ưu hóa, giảm bớt (hay thậm chí làm triệt tiêu) tính phi đối xứng trong sự nhạy cảm với rủi ro của ta.
Phần còn lại của chương này sẽ trình bày một vài hội chứng, và lẽ dĩ nhiên, kèm theo các biện pháp cứu chữa cổ đại.
QUYỀN CHỌN MIỄN PHÍ CỦA NHỮNG KẺ NÓI SUÔNG
Chúng ta kết thúc Tập I bằng lập luận rằng ta cần vinh danh các nghiệp chủ và những người chấp nhận rủi ro, dù “thất bại” hay không, đồng thời hạ bệ những kẻ gây rủi ro cho người khác như các học giả, những kẻ nói suông và các chính khách trừ khi họ dám chấp nhận rủi ro cá nhân. Vấn đề là xã hội hiện đang làm điều ngược lại, trao cho những kẻ nói suông một quyền chọn miễn phí.
Việc Tony Béo kiếm bộn tiền từ những kẻ tháo chạy trong cuộc khủng hoảng tài chính thoạt đầu nghe có vẻ khá bất nhã đối với Nero. Hưởng lợi từ vận rủi của những người khác - bất kể họ có thể đáng ghét đến mức nào - không phải là lối sống thanh lịch nhất trên đời. Nhưng Tony cũng chấp nhận rủi ro, và cũng bị thiệt hại cá nhân nếu kết quả ngược lại xảy ra. Tony Béo không có vấn đề xung đột lợi ích giữa người ủy quyền và người đại diện. Vì thế, điều này có thể chấp nhận được. Bỏi lẽ, thậm chí còn có một vấn đề tệ hại hơn gắn liền với tình huống ngược lại: những người chỉ nói suông, dự đoán, lý thuyết hóa.
Thật ra, việc đón nhận rủi ro đầu cơ không chỉ có thể chấp nhận được, mà còn có tính chất bắt buộc. Không được có ý kiến nếu không dám chấp nhận rủi ro của ý kiến đó; và lẽ dĩ nhiên, không chấp nhận rủi ro nếu không có hy vọng lợi nhuận. Nếu Tony Béo đưa ra nhận định nào đó, vì những lý do đạo đức, anh cảm thấy cần phải chấp nhận liên lụy rủi ro tương ứng với nhận định đó. Bạn phải làm theo ý kiến của mình nếu bạn đưa ra ý kiến đó. Bằng không, bạn không thật sự có ý kiến gì cả. Những người không gánh chịu thiệt hại vì ý kiến của mình cần được đánh dấu riêng bằng một vị trí đặc biệt trong xã hội, có lẽ phải nằm bên dưới vị trí của người dân bình thường. Những người phê bình cần có vị trí thấp hơn cả dân thường. Những người bình thường ít ra còn đối mặt với thiệt hại của những phát biểu của họ.
Đối lập với toàn bộ ý tưỏng về giới trí thức và giới phê bình như một thành phần không thể tách rời và được bảo vệ trong xã hội, tôi thấy thật là phi đạo lý khi nói suông mà không làm, không liên lụy rủi ro, không dấn thân và chấp nhận rủi ro trong cuộc chơi, không chịu hiểm nguy nào cả. Bạn bày tỏ ý kiến; ý kiến đó có thể gây tổn thương cho người khác (những người dựa vào ý kiến đó), thế mà bạn không chịu trách nhiệm gì cả. Như vậy có công bằng không?
Nhưng giờ là thời đại thông tin. Ảnh hưởng của sự chuyển giao tính mỏng manh chắc cũng từng có trong lịch sử, nhưng giờ đây nó sâu sắc hơn, trong sự kết nối của thời hiện đại và tính vô hình gần đây của chuỗi nhân quả. giới trí thức ngày nay có quyền lực hơn và nguy hiểm hơn nhiều so với trước kia. “Thế giới tri thức” dẫn đến sự tách rời giữa “biết” và “làm” (cùng trong một con người) và dẫn đến tính mỏng manh của xã hội. Như thế nào?
Thời xưa, đặc quyền đi kèm với nghĩa vụ - ngoại trừ một tầng lớp trí thức ít ỏi phục vụ thủ lĩnh hay nhà nước trong một số trường hợp. Bạn muốn là một lãnh chúa phong kiến, bạn sẽ là người đầu tiên phải chết. Bạn muốn chiến tranh? Bạn sẽ là người đầu tiên ra trận. Đừng quên điều đã ghi trong Hiến pháp Hoa Kỳ: tổng thống là tổng tư lệnh quân đội. Caesar, Alexander và Hannibal đều ra trận; theo Livy,139 140 Hannibal là người lâm trận đầu tiên và người ròi hàng ngũ cuối cùng trong những vùng chiến sự. George Washington cũng ra trận, chứ không như Ronald Reagan và George W. Bush, chơi trò chơi điện tử trong khi mạng sống những người khác đang lâm nguy. Thậm chí Napoleon cũng đích thân gánh chịu rủi ro; sự xuất hiện của ông trong cuộc chiến tương đương với việc bổ sung thêm 25.000 quân. Churchill thể hiện lòng can đảm thể chất ấn tượng. Họ dấn thân; họ tin tưởng. Thân phận địa vị phản ánh rủi ro thể chất.
Lưu ý rằng trong các xã hội truyền thống, ngay cả những người thất bại - nhưng đã chấp nhận rủi ro - cũng có thân phận cao hơn những người không chịu rủi ro.
Bây giờ một lần nữa, sự ngu si của các hệ thống dự đoán khiến tôi xúc động. So với trước đây, thời đại Khai sáng xem ra mang lại công lý xã hội nhiều hơn, nhưng cũng dẫn đến chuyển giao khả năng chọn lựa nhiều hơn bao giờ hết - một bước lùi rõ ràng. Tôi xin giải thích. Cái thứ tri thức chết tiệt này nhất thiết có nghĩa là những lời nói suông. Lời nói của các học giả, các nhà tư vấn, các nhà báo, khi liên quan đến việc dự báo, chỉ là nói suông, không có sự dấn thân và không có bằng chứng thực tế. Cũng như trong bất luận thứ gì liên quan đến những lời nói, người chiến thắng không phải là người nói đúng nhất mà là người ăn nói thu hút nhất, hay người có thể sản sinh ra những tài liệu nghe có vẻ hàn lâm nhất.
Chúng ta đã đề cập đến nhà triết học chính trị Raymond Aron” với tên tuổi kém phần thú vị, bất chấp khả năng dự đoán của ông, trong khi những người khác từng dự đoán sai về chủ nghĩa Stalin vẫn tồn tại tốt đẹp. Aron cũng mờ nhạt bất kể những nhận định tiên tri ông từng chiêm nghiệm và viết ra, bất kể cuộc đời như một viên kế toán thuế trong khi đối thủ của ông như Jean-Paul Sartre141 với phong cách sống khoa trương và gần như đủ mọi thứ sai lầm đồng thời còn chấp nhận để quân Đức chiếm đóng một cách cực kỳ hèn nhát. Kẻ hèn nhát Sartre dường như vẫn tỏa sáng, ấn tượng, và than ôi, sách của ông ta vẫn tồn tại (làm ơn đừng gọi ông ta là một Voltaire; ông ta không phải là Voltaire).
Tôi phát buồn nôn ở Davos khi nhìn thấy nhà báo fragilista Thomas Friedman, kẻ góp phần gây ra cuộc chiến tranh Iraq nhờ vào những bài báo đầy ảnh hưởng của ông ta. Ông ta không phải trả giá cho sai lầm đó. Lý do thật sự khiến tôi cảm thấy khó chịu có lẽ không chỉ bởi tôi nhìn thấy ai đó tôi cho là ghê tởm và có hại. Tôi chỉ khó chịu khi tôi thấy nhiều điều sai trái mà không làm được gì; nó liên quan đến sinh học. Đó là cảm giác có tội, lạy thần Baal, và có tội là điều tôi không thể chịu đựng nổi. Có một yếu tố quan trọng khác trong đạo lý của người Địa Trung Hải cổ đại: Factum tacendo, crimen facias acrius: Theo Publilius Syrus, người nào không ngăn chặn tội ác cũng là đồng lõa. (Tôi đã đề cập đến điều này theo phiên bản của mình trong phần mở đầu, và cần được lặp lại như sau: nếu bạn thấy lừa đảo mà không tố giác, bạn cũng là kẻ lừa đảo.)
Thomas Friedman chịu phần nào trách nhiệm trong cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, và chẳng những không bị trừng phạt mà còn tiếp tục viết bài cho trang ý kiến của tờ The New York Times, gây bối rối cho những người ngây thơ. Ông ta giành lấy lợi ích, những người khác gánh chịu thiệt hại. Một tác giả với những lập luận của mình có thể gây hại cho nhiều người hơn so với bất kỳ một tội ác hàng loạt nào. Tôi chọn ra ông ta ở đây vì cốt lõi vấn đề là ông ta đã thúc đẩy việc hiểu sai hiện tượng gây hại do can thiệp vào những hệ thống phức hợp. Ông ta quảng bá ý tưởng toàn cầu hóa “trái đất phẳng” mà không nhận ra rằng toàn cầu hóa dẫn đến tính mỏng manh, gây ra nhiều biến cố cực đoan như một tác dụng phụ, và đòi hỏi ta phải có dự trữ dự phòng để vận hành thỏa đáng. Và chính sai lầm này cũng áp dụng cho cuộc xâm lược Iraq: trong một hệ thống phức hợp như vậy, khả năng dự đoán các hệ lụy rất thấp, nên việc xâm lược là vô trách nhiệm về mặt nhận thức luận.
Các hệ thống tự nhiên và xưa cổ vận hành thông qua trừng phạt: không ai được hưởng một quyền chọn miễn phí vĩnh viễn. Xã hội cũng thế trên nhiều phương diện với những tác dụng dễ thấy. Nếu ai đó bịt mắt lái chiếc xe buýt của nhà trường và gây tai nạn, gã sẽ biến mất khỏi tập hợp gene di truyền theo kiểu cũ, hay nếu vì lý do nào đó gã không bị vong mạng, gã phải chịu trừng phạt để ngăn ngừa những tài xế khác không bao giờ lặp lại điều đó. Vấn đề nằm ở chỗ, nhà báo Thomas Friedman vẫn tiếp tục lái xe buýt. Không có hình phạt dành cho những kẻ đưa ra ý kiến gây hại cho xã hội. Và đây là một thông lệ thực hành tệ hại. Chính quyền Obama sau cuộc khủng hoảng năm 2008 tràn ngập những kẻ bịt mắt lái xe buýt. Thiệt hại do người can thiệp gây ra ngày càng nhiều hơn.
Lời nói thật nguy hiểm: Những người lý giải bao biện sau khi sự việc xảy ra luôn luôn ra vẻ thông thái hơn những người dự đoán, bởi họ chuyên nghề nói suông.
Do sự việc bị biến dạng trong quá trình hồi tưởng, lẽ dĩ nhiên những người không đoán biết trước biến cố xảy ra sẽ nhớ lại một vài ý nghĩ về kết quả xảy ra mà họ từng thoáng có trong quá khứ, và sẽ xoay xở để tự thuyết phục mình rằng mình đã dự đoán điều đó, trước khi bắt đầu thuyết phục những người khác. Sau mỗi biến cố xảy ra, sẽ có nhiều người lý giải sự việc hơn so với những người đã thực sự dự đoán được sự việc; đó là những kẻ bất chợt nảy ra ý tưởng trong lúc đi tắm mà không đi đến một kết luận logic, và bởi vì người ta tắm táp nhiều như thế, chẳng hạn như gần hai lần một ngày (nếu bạn tính cả việc tập thể hình hay những màn gần gũi người yêu), họ sẽ có một nguồn ý tưởng vô cùng phong phú. Họ sẽ không nhớ lại vô số ý tưởng từng bất chợt ra đời trong bồn tắm những khi họ đi tắm trong quá khứ, vốn là độ nhiễu, hay mâu thuẫn với biến cố quan sát thấy hiện tại - nhưng vì ký ức con người có xu hướng chỉ ghi nhớ những gì nhất quán, nên họ sẽ nhớ lại những gì họ từng thoáng nghĩ đến trong quá khứ mà nhất quán với nhận thức hiện tại.
Như vậy, những người đưa ra ý kiến sẽ trình bày những lời nói nhảm vớ vẩn một cách tự hào và chuyên nghiệp đến mức cuối cùng xem ra họ sẽ thắng trong cuộc tranh luận, vì họ là những người chuyên viết lách; rồi những kẻ ngốc gặp rắc rối do đọc những những lời nói nhảm này lại trông chờ vào đó như sự hướng dẫn trong tương lai, và lại tiếp tục gặp rắc rối nữa.
Quá khứ thì lung linh hư ảo bỏi các định kiến chọn lọc của bộ não và những hồi ức không ngừng thay đổi. Đặc điểm chính của kẻ ngốc là họ không bao giờ biết họ ngốc, vì đó là cách thức vận hành của bộ não chúng ta. (Đã thế, người ta lại còn bất ngờ bởi sự kiện sau đây: cuộc khủng hoảng fragilista bắt đầu vào năm 2007-2008 xảy ra gần như không ai dự đoán được.)
Tính phi đối xứng (khả năng cải thiện nghịch cảnh của những người diễn giải bao biện sau khi sự việc xảy ra): những người bao biện sau khi sự việc xảy ra có thể chọn lựa dữ liệu có lợi và đưa ra những ví dụ biện bạch cho ý kiến của họ và che giấu những dự đoán sai trong lòng lịch sử. Điều này giống như một quyền chọn miễn phí đối với họ nhưng chúng ta phải trả giá.
Vì có quyền chọn, nên các fragilista có khả năng cải thiện nghịch cảnh cá nhân: sự biến động có xu hướng mang lại lợi ích cho họ: càng biến động, ảo tưởng về sự thông thái của họ càng lớn.
Nhưng ta có thể dễ dàng tìm thấy bằng chứng về việc liệu người ta có phải là kẻ ngốc hay không bằng cách xem xét hành động và thành tích quá khứ của họ. Hành động thì đối xứng, không cho phép chọn lựa dữ liệu có lợi, và loại bỏ quyền chọn miễn phí. Khi bạn xem xét quá khứ hoạt động thực tế của ai đó, chứ không phải những ý tưởng họ biện bạch sau khi sự việc xảy ra, mọi việc trở nên rõ như ban ngày. Không còn quyền chọn nữa. Thực tế quá khứ không còn tính bất định, tính không chính xác, tính mơ hồ, và xu hướng đổ lỗi cho hoàn cảnh giúp cho người ta có vẻ thông thái hơn. Sai lầm thì phải trả giá, không còn miễn phí nữa, còn sự đúng đắn mang lại phần thưởng thật sự. Lẽ dĩ nhiên, ta còn có những cách kiểm tra khác để đánh giá những thành phần tệ hại trong cuộc sống: tìm hiểu quyết định của ai đó, thể hiện qua hoạt động đầu tư riêng của họ. Bạn sẽ thấy, nhiều người huênh hoang rằng họ đã đoán biết trước sự sụp đổ của hệ thống tài chính, thế mà trong danh mục đầu tư của họ vẫn có các công ty tài chính. Thật ra, đâu cần kiếm được “lợi nhuận” từ các biến cố như Tony và Nero để chứng tỏ mình không ngu ngốc: chỉ cần tránh bị thiệt hại bỏi những biến cố đó là đủ rồi.
Tôi muốn những người dự đoán phải mang những vết sẹo rõ ràng trên người khi họ dự đoán sai, chứ đừng đổ những sai lầm này cho xã hội.
Bạn không thể ngồi than vãn về thế giới. Bạn cần vươn lên đỉnh cao. Thế nên Tony quả là có lý khi nhất quyết yêu cầu Nero phải trang trọng xem xét các chiến lợi phẩm của mình, thể hiện trên bảng sao kê tài khoản ngân hàng; như ta nói, vấn đề không phải là giá trị tài chính, cũng chẳng phải sức mua, mà chỉ là giá trị biểu tượng. Chúng ta đã thấy trong chương 9, Julius Caesar chấp nhận chi phí đưa Vercingetorix đến La Mã để biểu dương chiến tích. Chiến thắng vô hình thì đâu có giá trị.
Verba volent, lòi nói gió bay. Chưa bao giờ những người nói mà không làm trở nên dễ nhận thấy và đóng vai trò to lớn hơn như trong thời hiện đại này. Đó là sản phẩm của chủ nghĩa hiện đại và sự phân công nhiệm vụ.
Tôi từng nói, sức mạnh của nước Mỹ vốn nằm ở những con người dám chấp nhận rủi ro và nuôi dưỡng rủi ro (loại bên phải, loại có tỷ lệ thất bại cao theo kiểu Thales, và có ‘quyền chọn trường’ trong ngôn ngữ tài chính). Thật đáng tiếc, chúng ta đang dần ròi xa mô hình này.
Hội chùng Stiglitz
Có một vấn đề thậm chí còn nghiêm trọng hơn vấn đề Thomas Friedman, có thể khái quát hóa để đại diện cho những kẻ xúi giục hành động nhưng hoàn toàn không chịu trách nhiệm giải trình về những lời nói của mình.
Hiện tượng này tôi gọi là hội chứng Stiglitz, theo tên của nhà kinh tế học hàn lâm thuộc loại “thông thái”, Joseph Stiglitz, như sau:
Hãy nhớ lại việc tìm kiếm tính mỏng manh trong chương 19, và nỗi ám ảnh của tôi với Fannie Mae. May thay, tôi là một người dấn thân và chấp nhận rủi ro của ý kiến của mình trong cuộc chơi, dù gánh chịu một chiến dịch bôi nhọ. Và năm 2008, chẳng lạ gì, Fannie Mae phá sản, gây tổn thất cho người nộp thuế nước Mỹ hàng trăm triệu đôla (và con số vẫn còn đang tính toán tiếp); hệ thống tài chính nói chung cũng nổ tung với những rủi ro tương tự. Toàn bộ hệ thống ngân hàng đều có những liên lụy rủi ro tương tự.
Nhưng cũng trong khoảng thời gian này, Joseph Stiglitz với hai đồng nghiệp, anh em nhà Orszag (Peter và Jonathan), cũng xem xét chính cái tổ chức Fannie Mae đó. Họ đánh giá trong một báo cáo rằng “trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ, rủi ro đối với chính phủ từ một vụ vỡ nợ GSE tiềm ẩn thực chất là bằng không.”142 Có thể cho rằng, họ chạy các phép mô phỏng trên máy tính nhưng không nhìn thấy điều hiển nhiên. Họ cũng nói rằng xác suất vỡ nợ được tìm thấy là “nhỏ đến mức thật khó tìm thấy.” Theo tôi, chính những phát biểu kiểu này, và chỉ có những phát biểu kiểu này (sự ngạo mạn trí thức và ảo tưởng am hiểu những biến cố hiếm hoi) mới dẫn đến tình trạng chồng chất liên lụy rủi ro với những biến cố hiếm hoi của nền kinh tế. Đây chính là vấn đề Thiên Nga Đen mà tôi đang đấu tranh chống lại. Đây cũng là Fukushima.
Và đỉnh điểm là vào năm 2010, Stiglitz lại viết một quyển sách theo kiểu tôi đã bảo mà, trong đó ông cho rằng mình đã “dự đoán được” cuộc khủng hoảng 2007-2008.
Hãy xem thử khả năng cải thiện nghịch cảnh khác thường mà xã hội đã trao cho Stiglitz và các đồng nghiệp. Hóa ra, Stiglitz chẳng những là người không dự đoán được biến cố (theo tiêu chuẩn của tôi) mà còn góp phần gây ra biến cố, gây ra sự chồng chất liên lụy với những rủi ro có xác suất nhỏ. Nhưng ông không nhận ra điều đó! Các học giả thường không nhớ các ý kiến của mình vì họ không liên lụy với rủi ro của những ý kiến đó.
Điểm quan trọng: nếu Stiglitz là một nhà kinh doanh đầu tư tiền riêng của mình vào ngành, ông ắt hẳn đã phá sản, kết thúc. Hay nếu trong môi trường tự nhiên, gene di truyền của ông ắt sẽ tuyệt chủng; những người hiểu sai về xác suất cuối cùng sẽ biến mất trong chuỗi ADN của chúng ta. Điều khiến tôi buồn nôn là chính phủ lại thuê một trong các đồng tác giả của ông.143
Tôi miễn cưỡng đặt tên cho hội chứng này theo tên của Stiglitz vì tôi thấy ông thông thái nhất trong các nhà kinh tế học, một trong nhiều nhà trí thức phát triển nhất về những thứ trên giấy - chỉ có điều, ông không có chút manh mối gì về tính mỏng manh của các hệ thống. Và Stiglitz tượng trưng cho sự hiểu lầm tai hại về xác suất nhỏ của ngành kinh tế học. Đó là một căn bệnh trầm kha, là lý do khiến các nhà kinh tế học lại tiếp tục làm chúng ta nổ tung.
Hội chứng Stiglitz tương ứng với việc chọn lựa dữ liệu có lợi một cách ghê tởm nhất vì thủ phạm không ý thức được những gì mình đang làm.
Đó là tình huống mà người ta chẳng những không nhận ra mối nguy mà còn góp phần gây ra mối nguy đồng thời tự thuyết phục mình và đôi khi thuyết phục cả những người khác về điều ngược lại, nghĩa là mình đã biết trước và cảnh báo trước. Nó tương ứng với sự kết hợp giữa những kỹ năng phân tích đáng kể, không nhìn thấy tính mỏng manh, hồi ức chọn lọc, và thiếu tinh thần dấn thân và chấp nhận rủi ro về phần mình trong cuộc chơi.
Hội chứng Stiglitz = Fragilista (với những ý định tốt) + Chọn lựa dữ
liệu có lợi sau khi sự việc đã xảy ra
Ở đây cũng có những bài học khác, liên quan đến tình trạng không có sự trừng phạt. Đây là ví dụ minh họa về hội chứng của những học giả chuyên viết lách và nói suông ở trạng thái nghiêm trọng nhất (trừ khi, như chúng ta sẽ thấy, họ dám dấn thân và có gì để mất trong cuộc chơi). Vì thế, nhiều học giả đề xuất điều gì đó trong một bài báo, rồi lại đề xuất điều ngược lại trong một bài báo khác mà không bị trừng phạt vì đã nói sai trong bài báo thứ nhất, bỏi vì người ta chỉ cần nhất quán trong phạm vi một bài báo mà thôi, chứ không cần nhất quán xuyên suốt sự nghiệp. Điều này cũng ổn thỏa, vì con người có thể tiến hóa theo thời gian và có thể mâu thuẫn với những niềm tin trước đây, nhưng sau đó “kết quả” trước đây sẽ được rút khỏi lưu hành và bị chìm khuất trước kết quả mới - với những quyển sách, những ấn bản mới lấn lướt ấn bản cũ. Tình trạng không có sự trừng phạt này làm họ trở nên có khả năng cải thiện nghịch cảnh bằng tổn thất của xã hội khi xã hội chấp nhận ‘tính tôn nghiêm” của các kết quả của họ. Hơn nữa, tôi không nghi ngờ gì tính trung thực của Stiglitz, hay một dạng trung thực yếu ớt: tôi tin ông thành thật nghĩ rằng ông đã dự đoán được khủng hoảng tài chính, vì thế cho phép tôi trình bày lại vấn đề: vấn đề về những người không gánh chịu thiệt hại là ở chỗ, họ có thể chọn lựa dữ liệu có lợi nhất từ những nhận định mà họ từng đưa ra trong quá khứ, phần lớn mâu thuẫn lẫn nhau, và cuối cùng khiến họ tin vào sự sáng suốt thông tuệ của họ trên đường đi tới Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos.
Có hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què do các lang băm và những người bán thuốc son đông mãi võ gây ra, nhưng họ phần nào biết điều đó và ẩn mình sau khi bị phát hiện. Thế nhưng, lại còn có một hình thức độc hại hơn của hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què do các chuyên gia gây ra, những người sử dụng thân phận địa vị của họ để sau đó huênh hoang rằng họ đã cảnh báo trước về mối nguy hại. Vì những người này không biết chính họ đã gây ra thiệt hại, họ lại cứu chữa thiệt hại bằng cách tiếp tục can thiệp và lại tiếp tục gây hại do can thiệp. Thế rồi mọi việc nổ tung.
Cuối cùng, biện pháp cứu chữa nhiều vấn đề đạo đức chính là cứu chữa hội chứng Stiglitz, mà tôi phát biểu như sau:
Đừng bao giờ hỏi xin ý kiến, dự báo, hay khuyến cáo của họ. Chỉ hỏi họ xem thử họ có hay không có những gì trong danh mục đầu tư của chính họ.
Bây giờ ta biết nhiều người về hưu ngây thơ đã gánh chịu thiệt hại do sự bất tài của các cơ quan xếp hạng tín dụng, mà còn tệ hơn cả sự bất tài. Nhiều khoản vay dưới chuẩn vốn là những thứ rác rưỏi độc hại vẫn được xếp hạng tín dụng “AAA”, nghĩa là có độ an toàn gần ngang với nợ chính phủ. Nhiều người ngây thơ rót tiền tiết kiệm vào đó, và Hơn nữa, các cơ quan điều tiết lại còn buộc các nhà quản lý danh mục đầu tư phải sử dụng báo cáo đánh giá của các cơ quan xếp hạng tín dụng này. Nhưng các cơ quan xếp hạng tín dụng được bảo vệ: họ trình bày quan điểm của họ dưới hình thức báo chí, song họ không có sứ mệnh cao quý của báo chí là phoi bày những vụ lừa đảo. Và họ hưởng lợi từ sự bảo vệ quyền tự do ngôn luận - theo Tu chính án thứ nhất, vốn thâm căn cố đế trong tập quán của người Mỹ. Đề xuất khiêm tốn của tôi: người ta có quyền nói bất kỳ điều gì họ muốn, nhưng danh mục đầu tư của họ nên phù hợp với những gì họ nói. Và lẽ dĩ nhiên, các cơ quan điều tiết không nên trở thành những fragilista thông qua đóng dấu chất lượng cho các phương pháp dự đoán của họ, nghĩa là đóng dấu cho thứ khoa học rác rưỏi.
Nhà tâm lý học Gerd Gigerenzer144 có một quy tắc suy nghiệm đơn giản. Đừng bao giờ hỏi bác sĩ xem ta nên làm gì. Hãy hỏi bác sĩ xem bác sĩ sẽ làm gì nếu ở vào địa vị của ta. Ta sẽ ngạc nhiên vì sự khác biệt.
Vấn đề về tần suất, hay làm thế nào để thua trong cuộc tranh luận Nên nhớ rằng Tony Béo chỉ thích “kiếm tiền” chứ không cần “chứng tỏ mình đúng”. Quan điểm này có một phương diện thống kê. Ta hãy quay lại với sự phân biệt giữa Thales và Aristotle trong một phút và xem xét sự tiến hóa từ quan điểm sau đây. Tần suất phán đoán đúng của một người nói chung không quan trọng trong thế giới thực tế, nhưng than ôi, để nhận ra điều đó, ta cần phải là một nhà thực hành, chứ không phải một kẻ nói suông. Trên lý thuyết, tần suất phán đoán đúng thì quan trọng, nhưng chỉ trên lý thuyết mà thôi. Thông thường, trong những tình huống mỏng manh, kết quả xảy ra hiếm khi có lợi (nhiều khi không có lợi hoàn toàn), còn trong những tình huống có khả năng cải thiện nghịch cảnh, kết quả xảy ra gần như không có thiệt hại. Điều này có nghĩa là trong những trường hợp mỏng manh, người ta kiếm tiền xu nhưng mất tiền tỉ; còn trong những trường hợp có khả năng cải thiện nghịch cảnh, người ta được bạc tỉ nhưng chỉ tốn bạc cắc. Vì thế, những người có khả năng cải thiện nghịch cảnh có thể thua trong một thời gian dài mà không sao cả, miễn là họ tình cờ đúng một lần; trong khi đối với người mỏng manh, chỉ một lần thua có thể tàn đời.
Cũng vì lẽ đó, nếu bạn đánh cược vào sự giảm giá của danh mục đầu tư của các tổ chức tài chính do tính mỏng manh của họ, bạn chỉ mất bạc cắc trong nhiều năm trước khi họ thật sự sụp đổ vào năm 2008, như Nero và Tony đã làm. (Một lần nữa, lưu ý rằng, đứng về phía bên kia của tính mỏng manh làm cho bạn trở nên có khả năng cải thiện nghịch cảnh.) Bạn có thể sai trong nhiều năm, chỉ đúng trong một khoảnh khắc, nhưng bạn vẫn thắng lớn, thành công rực rỡ hơn nhiều so với phía bên kia (thực tế, phía bên kia bị phá sản). Vì thế, bạn kiếm bộn tiền như Thales, vì đánh cược trên tính mỏng manh có nghĩa là có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Nhưng những người chỉ “dự đoán” sự kiện bằng lời nói đơn thuần sẽ bị các nhà báo cho là “sai lầm trong nhiều năm,” “hầu hết thời gian đều sai lầm” vv…
Nếu chúng ta kiểm đếm “đúng” hay “sai” của những người đưa ra ý kiến, tỷ lệ đúng sai không quan trọng, vì ta cần nhìn vào kết quả. Và vì điều này bất khả thi nên ta rơi vào tình thế khó xử.
Bây giờ, xem lại một lần nữa cách chúng ta nhìn nhận các nghiệp chủ. Họ thường sai lầm và va vấp với vô số lỗi lầm. Họ có hiệu ứng lõm. Nhưng điều quan trọng là kết quả đạt được khi họ thành công.
Tôi xin trình bày bằng cách khác. Việc ra quyết định trong đời thường là theo phong cách Thales, trong khi việc dự báo bằng lời là theo phong cách Aristotle. Như chúng ta thấy qua thảo luận trong chương 12, trong một quyết định, bên này sẽ có những hệ lụy to lớn hơn so với bên kia: ta không có bằng chứng rằng ai đó là khủng bố, nhưng ta vẫn kiểm tra xem họ có mang vũ khí không; ta không tin nước có độc nhưng ta vẫn tránh uống; điều gì đó nghe chừng vô lý khi người ta áp dụng logic Aristotle một cách hạn hẹp. Nói theo cách của Tony Béo: kẻ ngốc cố sao cho đúng, kẻ không ngốc cốt sao kiếm tiền, hay:
Kẻ ngốc tìm cách thắng trong cuộc tranh luận,
kẻ không ngốc tìm cách thắng cuộc và kiếm lợi.
Lại nói theo cách khác nữa: thua trong cuộc tranh luận kể cũng tốt.
Quyết định đúng đắn vì lập luận sai lầm
Nói khái quát, đối với Mẹ Thiên Nhiên, ý kiến hay dự đoán đều không quan trọng; tồn tại mới quan trọng.
Ở đây ta có một lập luận tiến hóa. Đó là lập luận ủng hộ doanh nghiệp tự do và một xã hội được dẫn dắt bởi những người hành động cá nhân, những người mà Adam Smith gọi là “những kẻ đầu tư mạo hiểm”, chứ không phải những người lập kế hoạch tập trung và các bộ máy quan liêu, nhưng đó xem ra cũng là lập luận bị đánh giá thấp nhất. Ta thấy các quan chức (bất kể quan chức nhà nước hay trong các công ty lớn) sống trong một hệ thống khen thưởng dựa vào những câu chuyện kể và ý kiến của những người khác với bản đánh giá công việc và xem xét của những người đồng cấp; hay nói cách khác, là sự quảng bá tiếp thị, theo kiểu Aristotle. Thế nhưng thế giới sinh học tiến hóa bởi những người sống sót, chứ không phải bởi những ý kiến theo kiểu “Tôi dự đoán” và “Tôi đã bảo mà.” Sự tiến hóa không chấp nhận kiểu ngụy biện xác nhận hay ngụy biện thành tích, vốn tồn tại cố hữu trong xã hội.
Thế giới kinh tế cũng vậy, nhưng các thể chế gây đảo lộn sự việc khi những kẻ ngốc ngày càng lớn mạnh; các thể chế cản trở sự tiến hóa bằng những vụ ứng cứu và quyền lực tập trung. Lưu ý rằng, trong dài hạn, tiến hóa xã hội và kinh tế diễn ra đầy kịch tính thông qua những diễn biến đột ngột, tình trạng gián đoạn và những cú nhảy.145
Trên đây, tôi có đề cập đến ý tưởng của Karl Popper về nhận thức luận tiến hóa; không phải là một người ra quyết định, ông có ảo tưởng rằng các ý tưởng cạnh tranh lẫn nhau, trong đó ý tưởng ít sai lầm nhất sẽ tồn tại vào một thời điểm bất kỳ. Ông bỏ sót nhận định rằng, không phải ý tưởng tồn tại, mà cái tồn tại chính là những người có ý tưởng đúng đắn, hay những xã hội có các quy tắc suy nghiệm đúng đắn, hay những quy tắc không biết sai hay đúng nhưng vẫn giúp con người làm điều đúng. Những người tuy có suy nghiệm sai, nhưng thiệt hại nhỏ bé trong trường hợp sai lầm xảy ra, sẽ tồn tại. Những hành vi bị xem là “phi lý” vẫn có thể tốt nếu nó vô hại.
Đơn cử một ví dụ cho thấy niềm tin sai lầm vẫn có ích để tồn tại. Theo bạn, điều gì nguy hiểm hơn: nhầm tưởng con gấu là tảng đá, hay nhầm tưởng tảng đá là con gấu? Con người khó mà mắc phải sai lầm thứ nhất; trực giác làm ta phản ứng quá đáng trước một xác suất nguy hại nhỏ nhất và rơi vào một kiểu nhận định sai lầm nhất định, loại thứ hai: những người phản ứng quá đáng khi thấy vật gì trông giống con gấu sẽ có lợi thế tồn tại hơn, còn những người mắc sai lầm ngược lại dễ dàng rời khỏi nguồn gene.
Sứ mệnh của chúng ta là làm sao cho những lời rao giảng đỡ rẻ tiền hơn.
NGƯỜI CỔ ĐẠI VÀ HỘI CHỨNG STIGLITZ
Ta thấy người cổ đại am hiểu khá tường tận hội chứng Stiglitz và những hội chứng liên quan. Thật ra, họ có những cơ chế khá tinh vi để đối phó với hầu hết các khía cạnh của vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện, bất kể là cá nhân hay tập thể (tác dụng tránh né trách nhiệm của việc ẩn nấp sau tập thể). Trên đây, tôi có nhắc tới người La Mã buộc các kỹ sư phải trải qua thời gian bên dưới chiếc cầu họ xây dựng. Hẳn họ sẽ buộc Stiglitz và Orszag phải ngủ bên dưới chiếc cầu Fannie Mae và rời khỏi nguồn gene (để họ không còn hại ta được nữa).
Người La Mã thậm chí còn có các quy tắc suy nghiệm hiệu lực hơn trong những tình huống mà gần như không ai ngày nay nghĩ tới, giúp giải quyết các vấn đề trong lý thuyết trò chơi. Các binh lính La Mã buộc phải ký một sacramentum chấp nhận trừng phạt trong trường hợp thất bại - đó là một loại khế ước giữa các binh lính và quân đội nêu rõ cam kết trong cả thuận lợi lẫn khó khăn.
Giả sử bạn và tôi đứng trước một con báo nhỏ hay một động vật hoang dã trong rừng. Hai ta có thể hạ được nó bằng cách hợp lực với nhau, nhưng từng người riêng lẻ đều yếu hơn nó. Bây giờ, nếu bạn bỏ chạy, bạn chỉ cần chạy nhanh hơn tôi, chứ không cần nhanh hơn con thú. Vì thế, sẽ tối ưu cho người nào có thể chạy nhanh nhất, nghĩa là người hèn nhát nhất; chỉ cần làm người hèn nhát và để mặc cho người kia bỏ mạng.
Người La Mã xóa bỏ động cơ khiến binh lính làm kẻ hèn nhát và gây thiệt hại cho người khác nhờ vào một quá trình gọi là mười người giết một (decimation). Nếu một đoàn quân thua trận và có nghi ngờ về sự hèn nhát, 10 phần trăm binh lính và chỉ huy sẽ bị xử tội chết, thường là bốc thăm ngẫu nhiên. Từ “decimation”, vốn có nghĩa là loại bỏ một trong mười người, đã thay đổi ý nghĩa trong ngôn ngữ hiện đại. Một phần mười là con số diệu kỳ: xử tội chết nhiều hơn 10 phần trăm sẽ làm suy yếu quân đội; còn nếu xử quá ít thì hèn nhát sẽ trở thành chiến lược chi phối.
Và cơ chế này hẳn phải có tác dụng tốt trong việc ngăn chặn sự hèn nhát, vì nó không thường xuyên được thi hành.
Người Anh áp dụng một phiên bản khác của cơ chế này. Đô đốc John Byng bị đưa ra tòa án quân sự và bị xử tử hình vì tội “không làm hết trách nhiệm” để ngăn Minorca rơi vào tay người Pháp sau trận chiến Minorca năm 1757.
Đốt thuyền
Lợi dụng vấn đề xung đột lợi ích trong thâm tâm mỗi người có thể giúp vượt qua tính đối xứng: không cho các binh lính có quyền chọn và xem họ có thể đạt được khả năng cải thiện nghịch cảnh như thế nào.
Ngày 29 tháng 4 năm 711, quân đội của vị chỉ huy Ảrập Tarek băng qua eo biển Gibraltar từ Morocco đến Tây Ban Nha với một đội quân nhỏ (tên Gibraltar xuất phát từ tiếng Ảrập Jabal Tarek, có nghĩa là “đỉnh Tarek”). Sau khi cập bến, Tarek cho đốt thuyền. Rồi ông có một bài diễn văn nổi tiếng mà mỗi học sinh thời đi học của tôi đều thuộc nằm lòng: “Sau lưng các bạn là biển cả, trước mặt các bạn là quân thù đông đảo hơn. Tất cả những gì các bạn có là thanh gươm và lòng can đảm.”
Tarek và đội quân nhỏ của ông đã kiểm soát được Tây Ban Nha. Quy tắc kinh nghiệm này xem ra đã được thực thi xuyên suốt lịch sử, từ Cortés ở Mexico 800 năm sau cho đến Agathocles xứ Syracuse 800 năm trước; trớ trêu thay, Agathocles xuôi về phương nam, theo hướng ngược với Tarek, khi ông chiến đấu với người Carthage và đổ bộ vào châu Phi.
Đừng bao giờ dồn kẻ thù vào chân tường.
Thơ ca có thể giết bạn như thế nào
Thử hỏi một người biết nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Ảrập xem ai là nhà tho hay nhất - bằng bất kỳ ngôn ngữ nào - và thật lạ lùng, anh ta sẽ trả lòi là Almutanabbi, người sống khoảng 1.000 năm trước đây; tho của ông nguyên thủy có sức lôi cuốn độc giả (thính giả) mà chỉ có sức lôi cuốn của Pushkin đối với những người nói tiếng Nga mới có thể sánh bằng. Vấn đề nằm ở chỗ, Almutanabbi biết điều đó; tên ông có nghĩa là “người biết mình là một nhà tiên tri”, qua đó cho thấy bản ngã vô cùng to lớn của ông. Như một chút khoa trương, một trong những bài tho của ông cho ta biết rằng tho ông huyền diệu đến mức “người mù cũng có thể đọc được” và “người điếc cũng có thể nghe được”. Almutanabbi là trường hợp hiếm hoi về một nhà tho dấn thân và chấp nhận rủi ro trong cuộc chơi, xả thân vì những vần tho của mình.
Vì trong cùng bài tho tự cao tự đại đó, Almutanabbi khoe khoang qua những vần điệu ngôn ngữ diệu kỳ ngoạn mục rằng ông sẽ khẳng định lời nói của mình bằng hành động, chứ không chỉ là một nhà tho hay nhất mà ta có thể hình dung, và tôi tin chắc vào điều này; ông biết “con ngựa, bóng đêm, hoang mạc, ngòi bút, trang sách”, và nhờ vào lòng can đảm của mình, sư tử cũng tôn trọng ông.
Thế nhưng bài tho làm ông mất mạng. Vì Almutanabbi xúc phạm một bộ tộc hoang mạc trong một bài tho nên họ săn lùng ông. Họ tìm thấy ông khi ông đang đi trên đường. Vì họ đông hơn nên ông làm một điều hợp lý là bỏ chạy, chẳng có gì phải hổ thẹn; chỉ có điều, một trong những người đồng hành bắt đầu trích dẫn tho ông “con ngựa, bóng đêm…”
ngay sau lưng ông. Ông quay lại và đương đầu với bộ lạc cho đến chết. Rồi một nghìn năm sau, Almutanabbi vẫn là nhà thơ mất mạng chỉ để tránh nỗi nhục tháo chạy, và khi ta ngâm thơ ông, ta biết đó là những vần thơ thực thụ.
Thần tượng thời thơ ấu của tôi là nhà phiêu lưu kiêm nhà văn người Pháp André Malraux.146 Tác phẩm của ông thấm đẫm hành động dấn thân và chấp nhận rủi ro: Malraux là một kẻ bỏ học nửa chừng, nhưng đọc rất nhiều và trở thành người phiêu bạt ở châu Á vào tuổi đôi mươi. Ông là một phi công năng động trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha và về sau là thành viên tích cực của phong trào kháng chiến hoạt động ngầm thời Chiến tranh thế giới thứ II. Ông hóa ra là một người hay nói ngoa, tán tụng một cách không cần thiết về những cuộc gặp gỡ với những người vĩ đại và các chính khách. Ông chỉ không thể chịu nổi ý tưởng một nhà văn là một nhà trí thức. Nhưng không như Hemingway, người chủ yếu say mê xây dựng hình tượng, ông là người hoạt động thực tế. Và ông không bao giờ tham gia vào những câu chuyện nhỏ nhặt - người viết tiểu sử ông kể rằng, trong khi những nhà văn khác thảo luận về bản quyền và nhuận bút, ông thường lái câu chuyện sang thần học (nghe đâu ông từng nói thế kỷ 21 sẽ rất mộ đạo hoặc không phải thế). Một trong những ngày buồn nhất đời tôi là khi ông qua đời.
Không nhốt quán giữa lời nói và hành động của các nhà nghiên cùu Hệ thống không trao cho các nhà nghiên cứu động cơ để trở thành một người như Maulraux. Hume vĩ đại với tinh thần hoài nghi nghe nói từng từ bỏ cảm giác lo lắng hoài nghi của mình trong lĩnh vực triết học, rồi đi dự tiệc với bạn bè ở Edinburgh (dù vậy, ý tưởng tiệc tùng của ông cũng khá là… Edinburgh). Triết gia Myles Burnyeat147 gọi đây là “vấn đề không nhất quán”, nhất là với những kẻ hoài nghi, nghĩa là hoài nghi trong lĩnh vực này nhưng không hoài nghi trong lĩnh vực khác. Ông đơn cử ví dụ về một triết gia cảm thấy lúng túng với tính xác thực của thời gian, nhưng lại xin một khoản trợ cấp nghiên cứu về vấn đề triết học của thời gian trong kỳ nghỉ nghiên cứu năm sau, mà không hoài nghi gì về tính xác thực của năm sau. Đối với Burnyeat, các triết gia thường có tình trạng “không nhất quán giữa những suy xét đơn giản đời thường của họ với kết quả triết lý của chính họ.” Thật đáng tiếc, thưa giáo sư tiến sĩ Burnyeat; tôi đồng ý rằng triết học là lĩnh vực duy nhất (cũng như toán học thuần túy) không cần liên hệ với thực tế. Nhưng khi đó, hãy biến nó thành một trò chơi trong nhà và đặt cho nó một cái tên khác…
Tương tự, Gerd Gigerenzer tường thuật sự vi phạm nghiêm trọng hơn của Harry Markowitz,148 người khỏi xướng một phương pháp gọi là “chọn lọc danh mục đầu tư” và nhận giải thưởng Riskbank của Thụy Điển (giải “Nobel” kinh tế học), cũng như những fragilista khác như Merton và Stiglitz. Tôi dành một phần cuộc đời trưỏng thành của mình để gọi đây là chủ nghĩa lừa bịp, vì nó không có giá trị gì ngoài sự xác nhận học thuật và gây ra những vụ nổ tung (như sẽ giải thích trong phần phụ lục). Thế nhưng giáo sư tiến sĩ fragilista Markowitz không sử dụng phương pháp của mình cho danh mục đầu tư của riêng ông; ông sử dụng những phương pháp luận tinh vi hơn của những người lái taxi, gần giống như phương pháp luận mà tôi và Mandelbrot từng đề xuất.
Tôi tin rằng, buộc các nhà nghiên cứu phải ăn những gì họ xào nấu ra bất kể khi nào có thể, sẽ giúp ta giải quyết một vấn đề nghiêm trọng trong khoa học. Hãy thử quy tắc kinh nghiệm đơn giản này - liệu những nhà nghiên cứu khoa học với những ý tưỏng có thể áp dụng cho đời sống thực tế có thật sự áp dụng những ý tưỏng đó vào cuộc sống thường nhật của họ không? Nếu có, hãy nhìn nhận họ một cách nghiêm túc. Bằng không, hãy lờ họ đi. (Nếu nhà khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực toán học thuần túy hay thần học, hay dạy thơ, thì không có vấn đề gì. Nhưng nếu họ đang nghiên cứu trong các lĩnh vực ứng dụng, hãy cắm ngay biển báo nguy hiểm.)
Điều này đưa ta đến với sự giả mạo kiểu Triffat so với Seneca, hay người nói suông so với người hành động. Tôi áp dụng phương pháp “đừng xem những gì các học giả viết mà hãy nhìn kỹ những gì họ làm” khi tôi gặp một nhà nghiên cứu về hạnh phúc từng cho rằng bất kể số tiền nào người ta kiếm được vượt qua ngưỡng 50.000 đôla sẽ không mang lại thêm chút hạnh phúc nào - khi đó gã đang kiếm được hơn gấp đôi số tiền đó ở một trường đại học, nên theo thước đo của gã, gã an toàn. Lập luận được xem xét thông qua “các thực nghiệm” của gã đăng trong “những bài báo được trích dẫn nhiều” (nghĩa là được trích dẫn bỏi các học giả khác) xem ra thuyết phục trên lý thuyết - cho dù tôi không đặc biệt say mê khái niệm “hạnh phúc” hay tính phàm tục của cách lý giải hiện đại về “mưu cầu hạnh phúc.” Vì thế, như một kẻ khờ, tôi tin gã. Nhưng khoảng một năm sau, tôi nghe nói gã đặc biệt khao khát tiền bạc và dành thời gian đi diễn thuyết các nơi để kiếm tiền. Với tôi, điều đó đủ làm bằng chứng hơn nghìn lời trích dẫn.
Chủ nghĩa xã hội sâm banh
Ta có một ví dụ hiển nhiên khác về lời nói và hành động không đi đôi với nhau. Đôi khi, tình trạng không nhất quán giữa lời nói và lối sống của người ta có thể vô cùng rõ ràng và thuyết phục: hãy xem thử những người muốn người khác áp dụng lối sống này nhưng chính mình lại sống cách khác.
Đừng bao giờ lắng nghe những người cánh tả không từ bỏ của cải vật chất của mình để sống đúng theo lối sống mà họ muốn những người khác áp dụng. Cái mà người Pháp gọi là “cánh tả xa hoa”, la gauche caviar, hay người Anglo-Saxons gọi là chủ nghĩa xã hội sâm banh, là những người cổ xúy chủ nghĩa xã hội, thậm chí đôi khi kêu gọi cả chủ nghĩa cộng sản, hay một hệ thống chính trị nào đó với những giới hạn chi tiêu cá nhân, trong khi chính họ lại sống một lối sống xa hoa hưởng thụ quá đáng, thường dựa vào tài sản thừa kế, mà không nhận ra sự mâu thuẫn khi họ muốn người khác tránh lối sống như thế.
Tôi còn chứng kiến những trường hợp tệ hại hơn. Một khách hàng trước đây của tôi, một gã giàu sụ với một sứ mệnh xã hội, cố gắng thuyết phục tôi viết séc ủng hộ một ứng viên tranh cử với cương lĩnh tranh cử là sẽ đánh thuế cao hơn. Tôi từ chối trên cơ sở đạo lý. Nhưng tôi nghĩ, gã này là một anh hùng, vì nếu ứng viên đó thắng cử, tiền thuế của chính gã sẽ tăng lên đáng kể. Một năm sau, tôi phát hiện ra gã bị điều tra vì liên quan đến âm mưu trốn thuế rất lớn. Gã muốn chắc chắn rằng những người khác sẽ phải đóng thuế nhiều hơn.
Tôi có một tình bạn phát triển qua nhiều năm với nhà hoạt động xã hội Ralph Nader và chứng kiến những tính cách ngược lại. Ngoài lòng can đảm cá nhân đáng kinh ngạc và sự bàng quan trước những chiến dịch bôi nhọ, anh tuyệt đối không có chút gì bất nhất giữa lời nói và lối sống của mình, không hề. Hệt như những vị thánh dấn thân và dành trọn tâm hồn cho xã hội. Anh là một vị thánh giữa đời thường.
Dành trọn tâm hồn cho cuộc chơi
Có những người thoát khỏi chuyện nói suông của giới nhà báo và quan chức: những người không những dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi, mà còn phải trả giá nếu sai lầm. Họ đặt cả tâm hồn vào cuộc chơi.
Ta hãy xem các nhà tiên tri. Tiên tri là cam kết về niềm tin, không gì khác hơn. Nhà tiên tri không phải là người đầu tiên nghĩ ra ý tưởng, mà là người đầu tiên tin vào ý tưởng đó, và theo đuổi nó đến cùng.
Chương 20 đã thảo luận về công việc tiên tri được thực hiện đúng đắn thông qua phương pháp phản đề và việc tìm kiếm tính mỏng manh. Nhưng nếu tinh thần dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình là điểm khác biệt giữa những nhà tư tưởng đích thực và những kẻ bao biện sau khi sự việc xảy ra, vẫn cần thêm một bước nữa để tiến tới đẳng cấp tiên tri. Đó là vấn đề cam kết, mà các nhà hiền triết gọi là cam kết đức tin (doxastic commitment), một kiểu cam kết tin tưởng mà Tony Béo và Nero cần có để biến thành hành động (trái với Stiglitz); Doxa trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “niềm tin”, khác với “tri thức” (nhận thức); để hiểu nó liên quan đến sự cam kết vượt lên trên những lòi nói thông thường như thế nào, chỉ cần biết rằng trong giáo hội chính thống Hy Lạp, nó có nghĩa là sự ca ngợi Chúa Trời.
Thật tình cờ, khái niệm này cũng áp dụng cho mọi loại ý tưởng và lý thuyết: người chủ chốt đứng sau một lý thuyết, người được gọi là nhà tư tưởng, là người tin vào lý thuyết đó như một đức tin, cam kết chắc chắn đưa nó đến kết luận tự nhiên; và không nhất thiết là người đầu tiên đề cập tới nó bên ly rượu vang tráng miệng hay trong một chú thích cuối trang.
Chỉ những người có niềm tin đích thực suy cho cùng mới tránh được tự mâu thuẫn với chính mình và không trở thành kẻ diễn giải bao biện sau khi sự việc xảy ra.
QUYỀN CHỌN, KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH VÀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Thị trường cổ phiếu là nơi diễn ra sự chuyển giao khả năng cải thiện nghịch cảnh trên quy mô công nghiệp to lớn nhất trong lịch sử, do một hình thức dấn thân và chấp nhận rủi ro phi đối xứng độc hại trong cuộc chơi. Ở đây, tôi không nói về việc đầu tư, mà nói về hệ thống đầu tư trọn gói vào cổ phần của các công ty “đại chúng” hiện nay với các nhà quản lý được phép đánh bạc với hệ thống, và dĩ nhiên cũng giành được nhiều thanh thế hơn so với những người gánh chịu rủi ro thực sự, các nghiệp chủ.
Một biểu hiện rành rành của vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện là như sau. Có sự khác biệt giữa người giám đốc điều hành một công ty mà ông ta không sở hữu và người chủ tự điều hành doanh nghiệp của mình, trong đó người tự làm chủ không cần báo cáo số liệu cho ai ngoài chính mình. Các giám đốc công ty có động cơ theo đuổi quyền lợi riêng; điều mà công chúng không hoàn toàn am hiểu, vì họ có ảo tưởng là các giám đốc có động cơ phù hợp với quyền lợi của họ. Bằng cách nào đó, các giám đốc này được hưởng quyền chọn miễn phí từ những người tiết kiệm và các nhà đầu tư ngây thơ. Ở đây, tôi quan ngại về những giám đốc doanh nghiệp vốn không phải là chủ sở hữu.
Khi tôi đang viết những dòng chữ này, thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ đã làm thua lỗ hơn 3 nghìn tỉ đôla đầu tư của những người về hưu trong chục năm qua so với việc đầu tư vào thị trường tiền tệ chính phủ (nói như thế là còn rộng lượng, chứ chênh lệch thực tế thậm chí còn cao hơn), trong khi giám đốc những công ty niêm yết trên thị trường cổ phiếu trở nên giàu thêm khoảng 400 tỉ đôla nhờ vào tính phi đối xứng của quyền chọn cổ phiếu. Họ kiếm chác từ những người tiết kiệm khốn khổ. Thậm chí còn tàn nhẫn hơn là số phận của ngành ngân hàng: các ngân hàng thua lỗ hơn bao giờ hết trong lịch sử hoạt động của ngành, nhưng các giám đốc được trả lương thưởng hàng tỉ đôla - người nộp thuế gánh chịu thiệt hại, các giám đốc ngân hàng hưởng lợi. Và các chính sách sửa sai đang gây tổn thương cho người dân vô tội trong khi các giám đốc ngân hàng đang nhấm nháp rượu vang mùa hè Rosé de Provence trên du thuyền ở St. Tropez.
Tính phi đối xứng hiện hữu rõ ràng: sự biến động làm lợi cho các giám đốc vì họ luôn ở vào vị thế được lợi. Vấn đề quan trọng (than ôi, hầu hết mọi người thường không nhận thấy) nằm ở chỗ, họ luôn có lợi trước sự biến động: càng biến thiên, giá trị của tính phi đối xứng càng lớn. Vì thế, họ có khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Để xem thử sự chuyển giao khả năng cải thiện nghịch cảnh vận hành như thế nào, ta hãy xem hai bối cảnh, trong đó giá trị bình quân của thị trường là như nhau nhưng xảy ra theo hai lộ trình khác nhau.
Lộ trình thứ nhất: Thị trường tăng 50 phần trăm, rồi giảm xuống nên xóa sạch mọi lợi tức.
Lộ trình thứ hai: Thị trường hoàn toàn không thay đổi.
Rõ ràng lộ trình thứ nhất, biến động nhiều hơn, sẽ có lợi hơn cho các giám đốc, vì họ có thể bán các quyền chọn mua cổ phiếu để lấy tiền mặt. Như vậy, thị trường càng biến động càng tốt với họ.
Và lẽ dĩ nhiên, xã hội, ở đây là những người về hưu, sẽ có kết quả trái ngược hoàn toàn vì họ đầu tư vào các nhà ngân hàng và giám đốc điều hành. Những người về hưu có xu hướng hưởng lợi ít hơn so với bị thiệt hại. Xã hội trả giá cho thua lỗ của các ngân hàng, nhưng không hưởng lợi từ họ. Nếu bạn không thấy sự chuyển giao khả năng cải thiện nghịch cảnh này giống như sự ăn cắp, thì chắc chắn bạn có vấn đề rồi.
Tệ hơn, hệ thống này được gọi là “dựa vào động cơ khuyến khích” và được cho là tương ứng với chủ nghĩa tư bản, cho rằng quyền lợi của các giám đốc phù hợp với quyền lợi của các cổ đông. Động cơ gì? Chỉ có lợi ích và thiệt hại, chứ chẳng có động cơ gì.
Quyền chọn miễn phí Robert Rubin
Robert Rubin, nguyên Bộ trưởng Tài chính Mỹ, nhận tiền thưởng 120 triệu đôla từ Citibank trong khoảng một thập niên. Rủi ro gánh chịu bởi ngân hàng thì ngầm ẩn nhưng số liệu có vẻ tốt đẹp… cho đến khi không còn tốt đẹp nữa (nỗi ngạc nhiên của gà tây). Citibank sụp đổ, nhưng gã vẫn giữ tiền - những người nộp thuế chúng ta phải trả giá vì chính phủ tiếp quản các khoản thua lỗ của ngân hàng và giúp họ vực dậy. Kiểu kết quả thưởng phạt này rất phổ biến, hàng nghìn giám đốc khác cũng thế.
Câu chuyện cũng hệt như thế khi một kiến trúc sư che giấu rủi ro dưới tầng hầm với nguy cơ sụp đổ chưa bộc lộ ngay và nhận những tấm séc thanh toán lớn đồng thời được bảo vệ bỏi sự phức tạp của hệ thống luật pháp.
Nhiều người đề xuất thực thi “điều khoản hoàn tiền” như một biện pháp giải quyết, bao gồm việc buộc người ta phải hoàn trả những khoản tiền thưởng quá khứ nếu sau này xảy ra thất bại. Điều đó được thực hiện như sau: các giám đốc không thể nhận tiền thưởng ngay tức thời mà chỉ được nhận sau ba hay năm năm nếu không có thua lỗ. Nhưng điều này không giải quyết được vấn đề: các giám đốc vẫn có lợi ròng, chứ không bị thiệt hại ròng. Chẳng có lúc nào của cải vật chất ròng của riêng họ bị đe dọa. Vì thế, hệ thống vẫn có khả năng chọn lựa cao và chuyển giao tính mỏng manh.
Điều này cũng áp dụng cho các nhà quản lý quỹ lương hưu. Họ cũng không bị thiệt hại.
Nhưng các chủ ngân hàng thời xưa từng phụ thuộc vào luật Hammurabi. Truyền thống ở Catalonia là chặt đầu chủ ngân hàng trước ngân hàng của họ (chủ ngân hàng có xu hướng bỏ trốn trước khi thua lỗ bộc lộ ra, nhưng đó là số phận của ít nhất một ông chủ ngân hàng, Francesco Castello vào năm 1360). Thời hiện đại, chỉ có mafia mới thi hành kiểu chiến lược này để xóa bỏ quyền chọn miễn phí. Năm 1980, “chủ ngân hàng Vatican” Roberto Calvi, giám đốc ngân hàng Banco Ambrosiano bị phá sản, phải tị nạn ở Luân Đôn. Ở đó, người ta cho là ông đã tự sát - cứ như thể nước Ý không còn là mảnh đất lành cho những hành động kịch tính như tự kết liễu đời mình. Số phận tương tự cũng xảy ra cho nhà tiên phong Las Vegas Bugsy Sieggel, người điều hành một sòng bạc không có lợi nhuận do mafia đầu tư.
Và ở những nước như Brazil, thậm chí ngày nay, các chủ ngân hàng hàng đầu phải có nghĩa vụ vô điều kiện trong phạm vi tài sản riêng của họ.
Adam Smith nào?
Nhiều thành viên cánh hữu kết giao với các công ty lớn thường dẫn lời Adam Smith, vị thần hộ mệnh nổi tiếng của “chủ nghĩa tư bản”, nhưng không đọc tác phẩm của ông, họ trích dẫn một từ mà ông chẳng bao giờ nói ra, sử dụng ý tưởng của ông về sự chọn lọc vị kỷ, những ý tưởng mà gần như chắc chắn ông không xác nhận theo kiểu như họ đang trình bày.149
Trong tập IV tác phẩm Sự thịnh vượng của các quốc gia (The Wealth of Nations), Smith cực kỳ thận trọng với ý tưởng trao cho ai những kết quả thuận lợi mà không có kết quả bất lợi, và nghi ngờ về trách nhiệm hữu hạn của các công ty cổ phần (tiền thân của các công ty trách nhiệm hữu hạn hiện đại). Ông không có ý tưởng về sự chuyển giao khả năng cải thiện nghịch cảnh, nhưng ông đã đến rất gần khái niệm này. Và ông nhận thấy vấn đề trục trặc gắn liền với việc quản lý doanh nghiệp thuộc sở hữu của những người khác, tình trạng thiếu phi công trên máy bay:
Tuy nhiên, ta không thể kỳ vọng các giám đốc công ty, những người quản lý tài sản của người khác chứ không phải của mình, sẽ trông coi công ty với sự thận trọng lo lắng hệt như sự thận trọng lo lắng của các giám đốc kiêm chủ sở hữu trông coi tài sản của chính họ.
Hơn nữa, Smith thậm chí còn nghi ngờ kết quả kinh tế của họ khi ông viết: “Các công ty cổ phần hoạt động ngoại thương hiếm khi có thể duy trì sức cạnh tranh so với các công ty tư nhân.”
Tôi xin làm rõ luận điểm này: hệ thống “chủ nghĩa tư bản” hay bất kể hệ thống kinh tế nào bạn cần có sẽ là hệ thống có số lượng những người nằm trong cột bên trái của Bảng Bộ Ba ở mức tối thiểu. Không ai nhận ra rằng trục trặc chính của hệ thống Xô viết là nó đưa những người phụ trách đời sống kinh tế vào cột bên trái, chuyên gây ra tính mỏng manh.
KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH VÀ ĐẠO ĐỨC CÔNG TY (LỚN)
Bạn có để ý rằng trong khi các công ty lớn bán cho bạn những thứ nước giải khát rác rưởi, các cơ sở sản xuất thủ công bán cho bạn phô mai và rượu vang? Và có sự chuyển giao khả năng cải thiện nghịch cảnh từ những cơ sở sản xuất nhỏ sang những công ty lớn, cho đến khi những công ty lớn phá sản.
Vấn đề của thế giới thương mại nằm ở chỗ, nó chỉ vận hành bằng cách tăng cường (thuận đề), chứ không tiết chế (phản đề): các công ty dược không thể kiếm lời nếu bạn tránh ăn đường; các nhà sản xuất máy tập thể hình không thể có lợi nhuận nếu bạn quyết định nâng những tảng đá và đi bộ trên địa hình gập ghềnh (mà không có điện thoại di động); nhà môi giới chứng khoán không thể hưởng lợi từ quyết định hạn chế đầu tư của bạn trong phạm vi những gì bạn am hiểu tường tận, ví dụ như đầu tư vào nhà hàng của người em họ hay tòa nhà chung cư trong khu vực bạn ở; tất cả những công ty này phải mang lại “sự tăng trưởng về doanh thu” để thỏa mãn thước đo của nhà phân tích có bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh nhưng tư duy chậm chạp ngồi ở New York. Lẽ dĩ nhiên, cuối cùng họ sẽ tự hủy hoại, nhưng đó lại là chuyện khác.
Bây giờ ta hãy xem những công ty như Coke hay Pepsi, mà tôi cho rằng vẫn còn tồn tại vì độc giả đã rót tiền vào những dòng kinh doanh này, thật đáng tiếc. Họ đang kinh doanh những gì? Bán cho bạn nước đường hay những chất thay đường, rót vào cơ thể bạn những thứ gây xáo trộn hệ thống phát tín hiệu sinh học, gây ra bệnh tiểu đường và làm giàu cho những kẻ buôn bán thuốc trị bệnh tiểu đường. Các công ty lón chắc chắn không thể kiếm tiền nếu bán cho bạn nước máy và không thể sản xuất rượu vang (rượu vang xem ra là lập luận tốt nhất ủng hộ nền kinh tế với các cơ sở sản xuất thủ công). Nhưng họ tô điểm cho sản phẩm của mình bằng bộ máy tiếp thị khổng lồ, với những hình ảnh đánh lừa khách hàng và những khẩu hiệu như “125 năm mang lại hạnh phúc” hay đại loại thế. Tôi không hiểu tại sao những lập luận mà chúng ta vẫn sử dụng để phản đối các công ty thuốc lá lại không áp dụng - trong chừng mực nào đó - cho tất cả những công ty lón đang ra sức bán cho ta những thứ có thể làm ta phát ốm.
Sử gia Niall Ferguson và tôi từng tranh luận với chủ tịch Pepsi-Cola như một phần của một sự kiện ở Thư viện công New York. Đó là một bài học tuyệt vời về khả năng cải thiện nghịch cảnh, vì Niall và tôi đều không quan tâm xem bà là ai (tôi thậm chí không buồn biết tên bà). Các tác giả vốn có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Cả hai chúng tôi đều hoàn toàn không chuẩn bị trước (thậm chí không có một mẩu giấy nào) và bà xuất hiện với một đội ngũ nhân viên trợ lý mà dựa vào tập hồ sơ dày cộp của họ, có lẽ họ đã tìm hiểu về chúng tôi cho đến cả cỡ giày (tôi thấy trong phòng diễn giả một viên trợ lý xem xét kỹ một tài liệu với bức ảnh xấu xí của chính tôi từ thời trước khi tập nâng tạ, trước khi tôi bị ám ảnh về xương cốt). Chúng tôi có thể nói bất kỳ điều gì mình muốn mà hoàn toàn không bị trừng phạt, trong khi bà phải tuân theo đường lối của tổ chức, vì sợ rằng các nhà phân tích chứng khoán có thể công bố một báo cáo tệ hại khiến cho giá cổ phiếu công ty giảm 2,30 đôla trước khi có tiền thưởng cuối năm. Chẳng những thế, kinh nghiệm của tôi về các giám đốc công ty, như thể hiện qua sự thèm khát tiêu tốn hàng nghìn giò trong những cuộc họp đơn điệu hay đọc những bản ghi nhớ tệ hại, là họ không thể thông minh sáng suốt được. Họ không phải là những nhà nghiệp chủ, mà chỉ là những kịch sĩ bóng mượt (các trường kinh doanh giống như những trường sân khấu). Những ngườĩ thông minh hay tự do sẽ nổ tung trong những cơ chế như vậy. Vì thế, ngay lập tức Niall nhận ra nhược điểm của bà và tấn công vào đó: khẩu hiệu của bà là góp phần tạo ra việc làm thông qua tuyển dụng 600.000 nhân viên. Ngay lập tức ông vạch trần sự tuyên truyền của bà bằng lập luận phản biện - thật ra là lập luận của Marx và Engels - rằng những công ty có ban bệ hành chính lớn đã kiểm soát nhà nước bằng cách trở thành “những đơn vị tuyển dụng lớn”, và có thể bòn rút lợi ích bằng tổn thất của những doanh nghiệp nhỏ. Vì thế, một công ty có 600.000 nhân viên có thể hủy hoại sức mạnh của dân chúng mà không bị trừng phạt, và hưởng lợi từ sự bảo hộ ứng cứu ngầm (hệt như các công ty ô tô của Mỹ), trong khi những cơ sở thủ công như tiệm cắt tóc và thợ giày không được miễn trừng phạt như vậy.
Tôi chợt nhận ra một quy luật: các công ty nhỏ và cơ sở thủ công có xu hướng bán cho ta những sản phẩm lành mạnh, những sản phẩm xem ra cần thiết một cách tự nhiên và tự phát; còn những công ty lớn, trong đó có các công ty dược khổng lồ, có xu hướng sản xuất ra những thứ gây hại trên quy mô bán sỉ, lấy tiền của ta, rồi lại còn miệng chửi tay đấm, lũng đoạn nhà nước nhò vào lực lượng vận động hành lang. Hơn nữa, bất kỳ thứ gì đòi hỏi phải có hoạt động tiếp thị xem ra đều có những tác dụng phụ. Bạn chắc chắn cần có bộ máy quảng cáo để thuyết phục mọi người rằng Coke mang lại “hạnh phúc”.
Lẽ dĩ nhiên, có những ngoại lệ: những công ty mang tâm hồn của người thợ thủ công, thậm chí có những công ty mang tâm hồn của người nghệ sĩ. Rohan Silva150 từng nhận xét rằng Steve Jobs muốn bên trong các sản phẩm Apple vẫn phải thu hút về mặt thẩm mỹ cho dù khách hàng không nhìn thấy. Điều này chỉ có một người thợ thủ công thực thụ mới có thể làm được - những người thợ mộc với niềm tự hào cá nhân cảm thấy giả mạo khi chế tác bên trong chiếc tủ khác với bên ngoài. Một lần nữa, đây là một dạng dư thừa dự trữ, với kết quả về thẩm mỹ và đạo đức. Nhưng Steve Jobs là một trong những ngoại lệ hiếm hoi trong hệ thống công ty toàn cầu được đề cập rất nhiều và được cho là hiệu quả nhưng bị hiểu lầm hoàn toàn.
Ngành nghề thủ công, tiếp thị và cung cấp rẻ nhốt
Một đặc điểm khác của nghề thủ công. Trong những sản phẩm tôi đặc biệt ưa thích, không có một sản phẩm nào mà tôi khám phá ra nhờ hoạt động quảng cáo và tiếp thị: phô mai, rượu vang, thịt, trứng, cà chua, rau húng quế, táo, các nhà hàng, tiệm cắt tóc, nghệ thuật, sách vở, khách sạn, giày, áo sơ mi, kính mắt, quần (cha tôi và tôi đã sử dụng qua ba thế hệ thợ may người Armenia ở Beirut), quả ô liu, dầu ô liu, vv… Điều này cũng áp dụng cho các thành phố, viện bảo tàng, nghệ thuật, tiểu thuyết, âm nhạc, tranh ảnh, tượng (tôi từng có lúc bị ám ảnh bởi những đồ tạo tác cổ xưa và tượng đầu người La Mã). Những sản phẩm này cũng có thể đã được “tiếp thị” theo một ý nghĩa nào đó, thông qua làm cho người ta ý thức được sự tồn tại của chúng, nhưng đó không phải là cách tôi tìm đến để sử dụng chúng - sự truyền khẩu là một bộ lọc tự nhiên hiệu nghiệm. Thật ra, đó là bộ lọc duy nhất.
Cơ chế cung cấp hàng hóa rẻ nhất ứng với một quy cách sản phẩm cho trước lan tỏa trong bất luận thứ gì bạn nhìn thấy trên các kệ hàng. Các công ty khi bán cho bạn thứ mà họ gọi là phô mai, có động cơ để cung cấp cho bạn miếng cao su sản xuất rẻ nhất chứa những thành phần phù hợp mà vẫn được gọi là phô mai, và bài tập về nhà của họ là nghiên cứu xem làm sao đánh lừa khẩu vị của bạn. Thật ra, không phải chỉ là động cơ: ngay từ cơ cấu thiết kế, họ đã cực kỳ giỏi trong việc cung cấp sản phẩm khả dĩ rẻ nhất phù hợp với các quy cách của họ. Điều này cũng xảy ra với việc kinh doanh sách vở chẳng hạn: các nhà xuất bản và các tác giả muốn lôi kéo sự chú ý của bạn và đặt vào tay bạn những sản phẩm báo chí dễ lụi tàn nhất mà vẫn được gọi là sách. Đó là tối ưu hóa, thông qua tối đa hóa (hình ảnh và đóng gói) hay tối thiểu hóa (chi phí và công sức).
Tôi vừa nói về hoạt động tiếp thị của các công ty thức uống nhẹ, gây bối rối tột độ cho khách hàng. Bất kỳ thứ gì cần phải tiếp thị rầm rộ nhất thiết sẽ là một sản phẩm thứ cấp hay xấu xa. Và thật là vô đạo đức khi mô tả nó dưới ánh đèn lấp lánh đẹp đẽ hơn so với thực tế. Người ta có thể làm cho người khác nhận thức về sự hiện diện của một sản phẩm, ví dụ như một chiếc thắt lưng múa bụng, nhưng tôi tự hỏi tại sao người ta không nhận ra rằng, theo định nghĩa, những gì cần được tiếp thị nhất định sẽ là hàng thứ cấp, nếu không, người ta đâu cần đến quảng cáo làm gì.
Tiếp thị là những phương tiện xấu, và tôi dựa vào bản năng tự nhiên và sinh thái của mình. Giả sử bạn tình cờ gặp ai đó trên một chuyến tàu. Bạn sẽ làm gì nếu gã bắt đầu khoác lác về những thành tựu của gã, kể cho bạn nghe gã tuyệt vòi, giàu có, cao to, ấn tượng, khéo léo, nổi tiếng, vạm vỡ, có trình độ, hiệu quả, và giỏi giang trên giường như thế nào, cùng những đặc điểm khác? Chắc chắn bạn sẽ tháo chạy (hay giới thiệu ông ta với một kẻ ba hoa chán ngán khác để thoát khỏi cả hai). Rõ ràng sẽ hay hơn nhiều nếu những người khác (ai đó không phải mẹ hắn) nói những điều tốt đẹp về hắn, và thật là dễ thương nếu hắn hành động với một chút khiêm tốn cá nhân nào đó.
Quả thật, chuyện này không cường điệu chút nào. Khi đang viết quyển sách này, tôi tình cờ nghe được trên một chuyến bay của hãng hàng không British Air một quý ông đang giải thích với cô tiếp viên hàng không trong một cuộc chuyện trò chưa đến hai giây (khi cô hỏi gã thích uống cà phê với sữa hay đường) rằng gã đoạt giải Nobel Y học “và sinh lý học” đồng thời là chủ tịch của một học viện quân chủ. Cô tiếp viên không biết giải Nobel là gì, nhưng lịch sự, nên gã không ngừng nhắc lại “giải Nobel”, hy vọng sẽ đánh thức tình trạng thiếu hiểu biết của cô. Tôi xoay người lại và nhận ra gã, và gã đột ngột xìu xuống. Tục ngữ có câu, trăm voi không được bát nước xáo. Và việc tiếp thị vượt quá mức truyền đạt thông tin là không bảo đảm.
Ta đồng ý rằng những người thích khoe khoang khoác lác thường khiến ta chán ngán. Còn các công ty thì sao? Tại sao ta không phát chán bỏi những công ty đang tự quảng cáo rằng họ tuyệt vời như thế nào? Ta có ba cấp độ vi phạm:
Cấp độ thứ nhất, vi phạm nhẹ: những công ty tự quảng bá một cách trơ trẽn, như anh chàng trên chuyến bay British Air, và chỉ làm hại chính họ. Cấp độ thứ hai, vi phạm nghiêm trọng hơn: những công ty ra sức phô diễn bản thân dưới ánh đèn lấp lánh đẹp đẽ nhất, che giấu khuyết tật sản phẩm - vẫn vô hại, vì ta có xu hướng dự kiến điều này và dựa vào nhận định của những người sử dụng sản phẩm. Cấp độ thứ ba, thậm chí còn nghiêm trọng hơn nữa: những công ty ra sức trình bày sai sản phẩm họ bán bằng cách lợi dụng các định kiến nhận thức của ta, sự liên tưỏng vô thức của ta, và đó là lén lút. Ví dụ, người ta có thể làm điều này bằng cách trưng bày một bức tranh thi vị vẽ cảnh hoàng hôn với một chàng cao bồi phì phèo thuốc lá và khiến ta liên tưỏng giữa những khoảnh khắc lãng mạn với một sản phẩm nào đó mà về mặt logic chẳng có chút liên quan gì. Bạn tìm kiếm phút giây lãng mạn và cái bạn nhận được là ung thư.
Xem ra hệ thống công ty thúc đẩy các doanh nghiệp hăng say lao vào cấp độ thứ ba. Cốt lõi của vấn đề chủ nghĩa tư bản - một lần nữa, làm ơn đừng viện dẫn Adam Smith - nằm ở những đơn vị không phải là thể nhân. Các công ty không có đạo đức tự nhiên; họ chỉ tuân theo bảng cân đối kế toán. Vấn đề nằm ở chỗ, sứ mệnh duy nhất của họ là thỏa mãn một thước đo nào đó được áp đặt bởi các nhà phân tích chứng khoán, mà bản thân những người này cũng có xu hướng lừa bịp.
Là công ty (niêm yết đại chúng) thì đâu có biết xấu hổ. Chỉ có con người chúng ta bị ràng buộc bởi sự ức chế thể chất tự nhiên nào đó.
Là công ty thì đâu có biết thương hại.
Là công ty thì đâu có ý thức danh dự, trong khi, than ôi, các tài liệu tiếp thị lại đề cập đến “niềm tự hào”.
Là công ty thì đâu có lòng độ lượng. Chỉ có thể chấp nhận những hành động vị kỷ. Thử hình dung điều gì sẽ xảy ra khi một công ty quyết định đơn phương từ bỏ các khoản phải thu, chỉ vì lòng tử tế. Thế mà xã hội vận hành nhờ vào những hành động rộng lượng ngẫu nhiên giữa con người với nhau, thậm chí đôi khi giữa những người xa lạ.
Tất cả những khiếm khuyết này là hệ lụy của tình trạng không có sự dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi, văn hóa hay sinh học; tính phi đối xứng gây hại cho người khác để mang lại lợi ích cho mình.
Giờ đây, các hệ thống này sẽ có xu hướng nổ tung. Và quả thật như thế. Như người ta nói, bạn không thể đánh lừa quá nhiều người trong một thời gian quá dài. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, do xung đột lợi ích giữa người ủy quyền và người đại diện nên sự nổ tung này không quan trọng đối với các giám đốc công ty, họ chỉ trung thành với dòng tiền riêng của mình. Họ sẽ không bị thiệt hại bỏi những thất bại về sau; họ vẫn giữ tiền thưởng, vì hiện nay lương thưởng quản lý không bao giờ có giá trị âm.
Tóm lại, các công ty có tính mỏng manh trong dài hạn đến mức cuối cùng họ sẽ sụp đổ dưới sức nặng của vấn đề xung đột lợi ích giữa người ủy quyền và người đại diện, trong khi các giám đốc vơ vét lương thưởng và bòn rút đến tận xương tủy người nộp thuế. Họ sẽ sụp đổ sớm hơn nếu không có những cỗ máy vận động hành lang: họ sẽ lũng đoạn nhà nước để giúp họ bom nước đường vào thực quản của bạn. Ở Hoa Kỳ, các công ty lớn kiểm soát một số đại biểu Quốc hội. Tất cả những gì họ làm là trì hoãn tang lễ của các công ty bằng tổn thất của chúng ta.151
Lawrence xù Ảrập hay Meyer Lansky
Cuối cùng, nếu bạn có bao giờ phải chọn lựa giữa lời hứa của một kẻ cướp và một công chức, hãy chọn kẻ cướp. Lúc nào cũng thế. Các thể chế thì đâu có ý thức tự trọng, nhưng cá nhân thì có.
Thời Chiến tranh thế giới I, T. E. Lawrence, biệt danh là Lawrence xứ Ảrập, thỏa thuận với các bộ lạc hoang mạc Ảrập để giúp quân Anh chống lại Đế chế Ottoman. Đổi lại, ông hứa sẽ mang đến cho họ một nhà nước Ảrập. Vì các bộ lạc không am hiểu nên họ thực hiện đúng cam kết của mình trong thỏa thuận. Nhưng hóa ra, chính phủ Anh và Pháp đã có một thỏa thuận bí mật, Hiệp định Sykes-Picot chia đôi khu vực cho hai nước. Sau chiến tranh, Lawrence trở về Anh, nghe nói rơi vào tâm trạng thất vọng, nhưng lẽ dĩ nhiên, cũng không có gì nhiều hơn. Nhưng ông để lại cho chúng ta một bài học: đừng bao giờ tin lời những người không được tự do.
Mặt khác, tài sản lớn lao nhất của một kẻ cướp là “lời nói là vàng”. Người ta nói, “một cái bắt tay của tên cướp nổi tiếng Meyer Lansky còn đáng giá hơn những hợp đồng chặt chẽ nhất mà một đoàn luật sư có thể soạn thảo.” Trên thực tế, gã ghi nhớ các tài sản và nghĩa vụ nợ của giới mafia Sicily và là tài khoản ngân hàng của họ, mà không cần đến hồ sơ sổ sách. Chỉ cần danh dự của gã.
Hồi còn là một nhà giao dịch, tôi không bao giờ tin vào những giao dịch với “đại diện” của các tổ chức đầu tư; các nhà giao dịch chứng khoán tầng trệt gắn bó với các cam kết của mình, và trong suốt thời gian hoạt động hơn hai thập niên, tôi chưa bao giờ thấy một nhà giao dịch tự làm chủ nào không làm đúng theo cam kết của họ.
Chỉ có ý thức danh dự mới có thể dẫn đến quan hệ. Bất kỳ quan hệ nào.
Tiếp theo
Chúng ta đã thấy, do hiểu sai về khả năng cải thiện nghịch cảnh (và tính phi đối xứng hay mối quan hệ có dạng lồi), có những người sử dụng quyền chọn ngầm ẩn và gây hại cho tập thể mà không ai nhận ra. Ta cũng thấy giải pháp là buộc phải có sự dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi. Tiếp theo, ta sẽ xem xét một dạng khác của khả năng chọn lựa: người ta có thể sắp đặt chọn lựa thời cơ hay dữ liệu thuận lợi cho các nguyên tắc đạo đức để phù hợp với hành động của họ như thế nào. Hay họ lạm dụng chức vụ quyền hạn nhà nước làm phương tiện để thỏa mãn lòng tham cá nhân như thế nào.