Mười năm đã trôi qua kể từ lần đầu tiên tôi nhận được điềm báo về nỗi truân chuyên lớn nhất đời mình trong một giấc chiêm bao.
Tôi sẽ có thể kể lại chuyện ấy rành mạch hơn nếu xin quý vị hãy tưởng tượng rằng mình đang ngồi uống trà cùng chúng tôi trong ngôi nhà tranh nhỏ bé ở Cambridgeshire, vào mười năm về trước.
Đó là lúc chiều tà, và bên bàn có ba người chúng tôi, gồm có mẹ tôi, bản thân tôi, và người em gái của mẹ, bà Chance. Cả hai người họ đều là phụ nữ gốc Xcốt-len và đều là góa phụ. Ngoài điểm đó ra, tôi chẳng thể nhớ ra điểm chung nào khác giữa họ. Mẹ tôi đã sống cả đời ở Anh, và giọng nói của bà chẳng hề vương chút âm điệu Xcốt-len nào như tôi. Còn dì Chance chưa từng rời khỏi Xcốt-len cho đến khi đến sống cùng mẹ tôi để lo việc nhà sau khi chồng bà qua đời. Và khi dì ấy cất lời, thưa bạn, bạn sẽ nghe thấy đặc sệt giọng Xcốt-len, nếu như bạn từng nghe qua thứ giọng đó!
Hôm ấy, tình cờ có một vấn đề khá quan trọng đang được chúng tôi tranh luận. Ấy là việc: liệu tôi có nên thực hiện một chuyến đi bộ đường dài vào sáng hôm sau hay không.
Số là sáng hôm sau lại rơi vào hôm trước ngày sinh nhật của tôi; và mục đích của chuyến đi là để ứng tuyển vào vị trí người hầu ngựa tại một dinh thự lớn ở hạt liền kề hạt chúng tôi. Người ta đồn rằng chỗ đó sẽ trống người trong khoảng ba tuần nữa. Tôi thừa sức đảm nhận công việc ấy chẳng kém gì bất cứ ai khác. Trong những ngày gia đình còn khá giả, cha tôi từng là quản lý một trại huấn luyện ngựa, và ông đã cho tôi làm quen với lũ ngựa từ thủa còn là một cậu bé. Xin lỗi vì đã làm phiền quý vị với những chuyện vụn vặt này. Tất cả chúng đều sẽ ăn khớp với câu chuyện của tôi ở phần sau, như quý vị sẽ sớm nhận ra. Tội nghiệp mẹ tôi, bà phản đối ra mặt việc tôi rời nhà vào ngày mai.
"Con không thể nào đi bộ suốt quãng đường đó rồi lại đi bộ quay về trước tối mai đâu," bà nói. "Kết quả cuối cùng là con sẽ phải ngủ lại đâu đó ngoài nhà vào đúng ngày sinh nhật của mình. Francis à, từ khi cha con qua đời, chưa bao giờ con làm thế cả, mẹ không thích việc con làm thế bây giờ chút nào. Hãy đợi thêm một ngày nữa thôi, con trai ạ — chỉ một ngày thôi."
Phần tôi, tôi đã chán ngấy cảnh ngồi không rỗi việc, và tôi không tài nào chịu nổi ý nghĩ phải trì hoãn. Thậm chí chỉ một ngày thôi cũng có thể tạo ra khác biệt lớn. Người khác hoàn toàn có thể chớp lấy thời cơ và giành mất chỗ làm.
"Mẹ hãy nghĩ xem con đã phải nghỉ việc lâu thế nào rồi," tôi nói, "và đừng bắt con hoãn chuyến đi lại. Con sẽ không làm mẹ thất vọng đâu. Con sẽ quay về trước tối mai, dù có phải dốc đồng sáu xu cuối cùng để thuê xe đi nhờ."
Mẹ tôi lắc đầu. "Mẹ không thích thế, Francis — mẹ không thích chút nào!" Nào có lay chuyển được ý kiến của bà. Chúng tôi tranh cãi hết sức này đến sức khác, cho đến khi cả hai rơi vào ngõ cụt. Cuối cùng, chúng tôi đồng ý đưa vấn đề bất đồng giữa hai mẹ con ra nhờ người em gái của mẹ tôi là dì Chance phân xử.
Trong lúc chúng tôi đang cố gắng thuyết phục lẫn nhau, dì Chance ngồi im như thóc, vừa khuấy tách trà vừa mải suy nghĩ riêng. Khi chúng tôi cất lời nhờ cậy, dì ấy có vẻ như vừa bừng tỉnh. "Hai đứa đều phán xét dựa trên sự suy xét kém cỏi của ta ư?" dì nói, bằng giọng Xcốt-len đặc sệt của mình. Cả hai chúng tôi đều đáp là vâng. Nghe vậy, dì Chance liền dọn dẹp sạch cái bàn trà, rồi rút từ trong túi áo ra một bộ bài tây.
Xin quý vị đừng vội nghĩ rằng việc này được làm cho có lệ, nhằm mục đích giải trí cho hai mẹ con tôi. Dì Chance thực sự tin rằng dì có thể nhìn thấu tương lai bằng cách bói bài. Bản thân dì chẳng làm việc gì nếu không bói bài trước. Dì chẳng thể đưa ra bằng chứng nào rõ ràng hơn về sự quan tâm của mình đối với phúc lợi của tôi bằng việc làm đang thể hiện lúc này. Tôi không nói điều này với ý báng bổ; tôi chỉ nêu ra một sự thật thôi — chẳng hiểu bằng cách kỳ lạ nào mà những lá bài ấy lại quyện lẫn vào trong các niềm tin tôn giáo của dì. Thời nay, quý vị vẫn gặp những kẻ tin vào các linh hồn hiện hình qua bàn ghế. Dựa trên nguyên lý tương tự (nếu như có chút nguyên lý nào trong đó), dì Chance tin vào sự quan bài sắp đặt của bề trên thông qua những lá bài.
"Dù con đúng, hỡi Francie, hay mẹ con đúng — dù ngày mai con đi hay ở, mang lại điềm lành hay điềm gở — thì những lá bài sẽ nói lên tất cả. Tất cả chúng ta đều nằm trong bàn tay của Định mệnh. Những lá bài sẽ nói lên tất cả."
Nghe vậy, mẹ tôi quay phắt đầu đi, nét mặt thoáng vẻ khó chịu. Trong thâm tâm mẹ tôi, những quan niệm của chị gái về bài tây chẳng khác nào lời lăng mạ thần linh tột độ. Nhưng bà giữ kín suy nghĩ trong lòng. Phải thừa nhận rằng, dì Chance được hưởng khoản tiền lương hưu ba mươi bảng một năm từ người chồng quá cố. Đây là một đóng góp quan trọng cho chi tiêu gia đình chúng tôi, và những người họ hàng nghèo khó như chúng tôi buộc phải đối xử với dì ấy bằng một sự nể trọng nhất định. Về phần tôi, nếu người cha tội nghiệp của tôi chẳng làm được điều gì khác cho tôi trước khi lâm vào cảnh khốn đốn, thì ít nhất ông cũng cho tôi một nền giáo dục đàng hoàng, và giúp tôi vượt lên trên (tạ ơn Chúa) mọi thứ mê tín dị đoan. Dù vậy, dạo ấy những chuyện nhỏ nhặt cũng đủ làm tôi vui thích; và tôi đã chờ đợi để được bói vận mệnh một cách kiên nhẫn cứ như thể chính tôi cũng tin vào điều đó vậy!
Dì tôi bắt đầu màn phù phép bằng cách loại bỏ toàn bộ những quân bài có giá trị dưới bảy khỏi bộ bài. Dì xáo trộn phần còn lại bằng tay trái để lấy may; rồi đưa cho tôi cắt bài. "Bằng tay trái đấy, Francie. Nhớ lấy nhé! Hãy đặt niềm tin vào bề trên — nhưng đừng quên rằng vận may của con nằm ở tay trái!" Tiếp theo là màn tráo đổi bài dài dòng và vòng vo, giảm dần số lượng cho đến khi chỉ còn đúng mười lăm lá được bày biện gọn gàng trước mặt dì theo hình nửa vòng tròn. Lá bài nằm ở rìa ngoài cùng bên phải của vòng tròn, theo quy tắc trong những trường hợp này, chính là lá bài đại diện cho Tôi. Để cho phù hợp với hoàn cảnh của một gã hầu ngựa nghèo đang thất nghiệp, lá bài đó chính là — quân Già Rô.
"Ta nhặt quân Già Rô lên," dì tôi nói. "Ta đếm bảy lá bài từ phải sang trái, và ta thành kính cầu xin một phước lành cho những gì sắp diễn ra." Dì nhắm nghiền mắt như thể đang đọc lời cầu nguyện trước bữa ăn, và giơ lá bài thứ bảy lên cho tôi xem. Tôi gọi tên lá bài thứ bảy — quân Đầm Bích. Dì tôi vội vã mở bừng mắt, liếc nhìn tôi một cái đầy ẩn ý. "Quân Đầm Bích nghĩa là một người phụ nữ da ngăm. Chắc trong thâm tâm con đang nghĩ đến một người phụ nữ da ngăm phải không, Francie?"
Khi một người đàn ông đã thất nghiệp hơn ba tháng trời, tâm trí anh ta chẳng màng bận tâm đến chuyện nghĩ ngợi về phụ nữ — dù da sáng hay da ngăm. Tôi đang bận nghĩ về cái chỗ làm người hầu ngựa tại dinh thự lớn kia, và tôi cố gắng nói lên điều đó. Dì Chance nhất quyết không nghe. Dì tỏ vẻ coi thường lời giải thích của tôi. "Hừ! Lá bài đang nằm rành rành trong tay con kìa! Hôm nay con không nghĩ đến cô ta, thì ngày mai con cũng sẽ nghĩ đến. Nghĩ đến một người phụ nữ da ngăm thì có hại gì cơ chứ! Hồi trẻ ta cũng từng là một người phụ nữ da ngăm trước khi tóc ta điểm bạc. Im lặng nào, Francie, và theo dõi những lá bài đi."
Tôi chăm chú nhìn những lá bài theo lời dặn. Trên bàn vẫn còn lại bảy lá. Dì tôi rút hai lá từ một đầu hàng và hai lá từ đầu kia, rồi bảo tôi gọi tên hai lá bài nằm ở ngoài cùng trong số ba lá còn lại trên bàn. Tôi gọi tên quân Át Nhép và quân Mười Rô. Dì Chance ngước mắt lên trần nhà với vẻ biết ơn thành kính khiến sự kiên nhẫn của mẹ tôi bị thử thách tột cùng. Quân Át Nhép và quân Mười Rô, kết hợp lại với nhau, mang ý nghĩa — thứ nhất, tin vui (rõ ràng là tin về chỗ làm người hầu ngựa); thứ hai, một chuyến đi đang chờ đón tôi (ám chỉ rõ ràng chuyến đi vào ngày mai của tôi!); thứ ba và cuối cùng, một khoản tiền (có lẽ là tiền lương người hầu ngựa!) đang chờ đợi để lọt vào túi tôi. Sau khi phán đoán vận mệnh cho tôi bằng những lời lẽ đầy khích lệ ấy, dì từ chối không thực hiện thêm thí nghiệm nào nữa. "Chà, anh chàng ạ! Khơi gợi sự thử thách với bề trên bằng cách đòi hỏi ở những lá bài nhiều hơn những gì chúng vừa nói với chúng ta rõ là hành động liều lĩnh. Cứ đi đến dinh thự lớn đó vào ngày mai đi. Một người phụ nữ da ngăm sẽ đợi con ở cổng; và cô ta sẽ nhúng tay vào việc giúp con giành được vị trí hầu ngựa, kèm theo tất cả các khoản thưởng và bổng lộc đi kèm. Và biết đâu đấy, khi cái túi của con đầy tiền, con sẽ không quên người dì Chance này — người vẫn đang duy trì tình trạng góa bụa trong sạch của mình — với sự trợ giúp của bề trên — nhờ vào ba mươi bảng một năm chứ!"
Tôi hứa sẽ nhớ đến dì Chance (nhân tiện, người có cái tật là một kẻ cực kỳ ham tiền) vào cái dịp hạnh phúc tiếp theo khi những cái túi rỗng tuếch tội nghiệp của tôi cuối cùng cũng được lấp đầy. Xong xuôi, tôi nhìn mẹ tôi. Bà đã đồng ý lấy em gái mình làm người phân xử giữa hai mẹ con, và em gái bà đã phán quyết nghiêng về phía tôi. Bà không phản đối gì thêm nữa. Lặng lẽ, bà đứng dậy, ôm hôn tôi, thở dài não nề — rồi rời khỏi phòng. Dì Chance lắc đầu. "Ta e rằng, Francie, mẹ tội nghiệp của con chẳng có chút khái niệm mộ đạo nào về sự linh ứng của những lá bài cả!"
Trời vừa hửng sáng ngày hôm sau, tôi lên đường. Tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà tranh khi đẩy cửa khu vườn ra. Ở một ô cửa sổ là mẹ tôi, đang dùng khăn tay lau mắt. Ở ô cửa bên kia là dì Chance, giơ cao quân Đầm Bích như để khích lệ tôi lúc lên đường. Tôi vẫy tay chào cả hai người thay cho lời từ biệt, rồi rảo bước thật nhanh ra đường lớn. Lúc đó là ngày cuối cùng của tháng Hai. Xin quý vị hãy nhớ cho, gắn liền với điều này, rằng ngày mùng một tháng Ba chính là ngày sinh, và hai giờ sáng chính là giờ sinh của tôi.