Mấy hôm nay không hiểu vì sao Tổ Gia luôn cảm thấy bất an, Đại Bá đầu và các anh em lên kế hoạch cho việc tái xuất giang hồ, Tổ Gia lại không nói một lời.
Rêu rao danh hiệu “Đệ nhất tướng số Giang Hoài” tại nơi Quốc-Cộng phân chia, thổ phỉ hoành hành, quân Nhật lăm le như vùng giáp giới Hồ Nam và Hồ Bắc này liệu sẽ mang đến hậu quả ra sao, Tổ Gia trong lòng mờ mịt. Cửu gia Vương Á Tiều đã chết, Tăng Kính Võ gia nhập Cộng sản Đảng, Giang Phi Yến ở mãi tận Quảng Tây... Tổ Gia lòng đầy mông lung, ông lại nhớ đến Hoàng Pháp Dung.
Nếu Hoàng Pháp Dung ở đây, cô nương ấy có thể giúp Tổ Gia bày mưu tính kế, dù đúng hay sai cũng khiến ông cảm thấy nguôi lòng. Cô ấy tính cách ngổ ngáo, tuy luôn làm ông không vui nhưng lại dám nói lời chân thực, có thể khiến ông suy xét một vấn đề từ nhiều góc độ. Chính lúc này đây, Tổ Gia cần sự ngổ ngáo đó để mang lại sự tươi mới trong tư duy của ông. Còn những Bá đầu khác ai nấy đều kính cẩn, khép nép, ông nói một là một, hai là hai, không ai dám khuyên can hay tranh luận, khiến ông cảm thấy thật mỏi mệt.
Lúc này, cảm giác nhà tan cửa nát năm xưa lại ùa về, một nỗi cô đơn không tên tràn ngập cõi lòng, không ai có thể giúp đỡ, ông chỉ có thể dựa vào bản thân gắng sức tiến về phía trước. Tổ Gia đột nhiên nhớ lại lúc 8 tuổi, mẹ ông có mời một vị đạo nhân đến xem tướng cho ông, vị đạo nhân đó kết luận mấy câu: “Mệnh phạm Thiên sát cô tinh, số cô độc, cô độc đến nỗi xơ xác tiêu điều, trong vòng 10 dặm không nảy mầm, 8 dặm không thấy cỏ mọc. Một đời không có quý nhân phù trợ, dựa núi núi đổ, dựa sông sông cạn. Mệnh chủ trí dũng kiệt xuất, vận như rồng bị vây hãm, thọ chung 50, không con nối dõi. Lục thân nên ở xa.”
Những lời này đã khiến mẹ ông vô cùng lo lắng, vội hỏi: “Đại sư, có cách nào phá giải không?”
Vị đạo nhân đó lắc đầu.
Mẹ ông lại càng sợ hãi: “Nếu mệnh có thể bói được, lại không thể giải, Thánh nhân tạo ra Dịch có tác dụng gì cơ chứ?” Mẹ ông là nữ cử nhân cuối đời Thanh, từ nhỏ say mê đọc sách, có nghiên cứu về Kinh Dịch, do đó mới nêu câu hỏi lạ thường như vậy.
Đây cũng chính là câu hỏi của người đời, thậm chí là của lớp lớp người học Dịch không ngừng nêu ra trong suốt chiều dài của lịch sử: rốt cuộc con người có số mệnh hay không? Số mệnh có thể bói được không? Bói được rồi liệu có thể xoay chuyển không? Nếu không thể thì xưa kia thánh nhân sáng tạo ra Kinh Dịch để làm gì? Chỉ là để cho con cháu đời sau thêm buồn rầu, thêm phiền não thôi ư?
Vị đạo nhân đó thở dài, nói: “Cách phá giải, nói có thì không phải, nói không có cũng không đúng.”
Mẹ ông không hiểu: “Lời đại sư phải hiểu thế nào đây?”
Vị đạo nhân này hỏi lại: “Vậy cách phá giải mà phu nhân nói là chỉ cái gì?”
Mẹ ông suy nghĩ một lát, nói: “Ví dụ điều chỉnh phong thủy, vẽ bùa niệm chú, thay tên đổi họ, nhận cha mẹ nuôi, hoặc giao vận, cải vận, hoặc mời thầy làm phép, còn có thể mang đồ trang sức như ngọc bội, phật châu, bùa bình an, vv..”
Đạo nhân nghe xong ngửa mặt lên trời cười vang, chẳng nói đúng hay sai, chỉ hỏi lại bà: “Xin hỏi, phu nhân cho rằng những cách này có hiệu nghiệm không?”
“Tôi không biết, nhưng người ta thường làm như vậy.” mẹ Tổ Gia đáp lời.
Đạo nhân gật đầu, nói: “Đón cát tránh hung là bản tính của con người, ai chẳng muốn trường thọ, giàu sang phú quý, ai chẳng muốn tránh được tai họa, ai chẳng muốn lấy được chồng tốt, vợ hiền, ai chẳng muốn con cháu đầy đàn, trai gái hiếu thuận. Nhưng phu nhân thử nhìn thế gian này xem, vận mệnh của mỗi con người trước sau là không giống nhau, dù thừa nhận hay không, con người là có số mệnh. Do đó, thánh nhân sáng tạo ra Dịch, hy vọng người đời sau hiểu được vận mệnh của chính mình.”
“Đại sư nói rất đúng.” Mẹ Tổ Gia nói.
Vị đạo sĩ nói tiếp: “Sau khi hiểu được số mệnh của mình, con người luôn muốn thay đổi nó, xấu muốn biến thành tốt, tốt muốn biến tốt hơn, đây là lẽ thường tình của con người, không có gì đáng trách. Nhưng con người lại gửi gắm hy vọng vào phương pháp cải mệnh bàng môn tả đạo, phu nhân nghĩ kỹ xem...” Nói đến đây, vị đạo nhân bỗng cao giọng, “Nếu những cách làm như vẽ bùa niệm chú, điều chỉnh phong thủy, thay tên đổi họ... có thể khiến số mệnh thay đổi, vậy ăn mày trên phố, chúng ta thay tên đổi họ cho họ, liệu họ có thể trở nên giàu có không? Chắc chắn là không thể! Những người mắc bệnh nan y, chúng ta vẽ bùa làm phép, lập đạo tràng, có thể khiến họ không chết không? Tuyệt đối không thể! Chết vẫn cứ hoàn chết! Những thầy tướng số cả ngày rêu rao rằng đặt cái tên này để cải mệnh, dùng cách này để phát tài trường thọ, nếu thực sự làm được, họ đâu cần lê la trên phố bói toán kiếm tiền cực khổ như vậy, sao không chui vào góc, biến ra một đống tiền, sau đó sống vài trăm tuổi, ngồi hưởng vinh hoa phú quý?”
Mẹ ông nghe xong không thốt nên lời, cảm thấy như được giác ngộ.
Vị đạo nhân tiếp tục nói: “Phu nhân ham thích thi thư, tất phải biết việc thâm cung bí sử của thánh nhân. Tần Thủy Hoàng lôi kéo thuật sĩ trong thiên hạ, dùng mọi pháp thuật, ăn tất cả các loại tiên đơn cũng không thể kéo dài tuổi thọ nổi một ngày! Kinh Phòng đời Hán là người am hiểu Lục hào, bói trời bói đất, bói người bói việc vô cùng chính xác nhưng lại không thể tự mình thoát khỏi cái chết! Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc đắc thuật thiên địa tạo hóa, hô phong hoán vũ, đạt đến cảnh giới đỉnh cao nhưng cũng chẳng cứu vãn nổi nhà Hán khỏi cơ lụn bại! Thiệu Khang Tiết đời Tống, Hoàng cực kinh thế quán thông cổ kim, Mai hoa dịch số truyền thiên hạ, trước lúc lâm chung lại nói rằng không tin vào số mệnh! Lưu Bá Ôn đời Minh bói được năm trăm năm về trước, năm trăm năm về sau, biết rõ bản thân sẽ chết lại không có cách nào tránh được, ôm nỗi uất hận uống thuốc độc của Hổ Duy Dung, nếu ông ta có thể giải hạn, nên tự giải cho mình mới đúng!”
Mẹ Tổ Gia nghe đến nỗi rúng động tinh thần, suy nghĩ hồi lâu mới hỏi: “Nói như vậy, Kinh Dịch chỉ có thể bói được, lại không thể giải được ư?”
Vị đạo nhân thở dài một tiếng nói: “Đương nhiên có thể giải! Chỉ là thế nhân đa số bỏ gốc lấy ngọn, làm sai đi sự kỳ vọng ban đầu khi sáng tạo ra Dịch của bậc thánh hiền! Phu nhân hãy xem, 64 quẻ trong Kinh Dịch, quẻ nào cũng giảng về đạo lý làm người, tựu chung mang nghĩa Tích thiện tất dư niềm vui, tích bất thiện tất thừa tai họa. Phân tích chi tiết hơn, dưới tiền đề của ‘thiện’ lại giảng giải về phương pháp và đạo lý làm người cụ thể, ví dụ: quẻ Càn - quẻ thứ nhất trong 64 quẻ, đặt ra đạo lý làm người là phải ‘Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức’, khuyên răn làm người phải giống như trời, tự lực tự cường, liên tục không ngừng, chớ nên cam chịu, lười biếng; xem tiếp đến quẻ thứ hai là quẻ Khôn, quẻ này yêu cầu con người phải ‘Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật’, làm người phải giống như đất, có lòng bao dung, chớ nên đố kỵ, chớ nên dụng mánh khóe, nếu không sẽ gặt lấy quả ác; có người còn nói ‘Vật cực tắc phản, bĩ cực thái lai’, ‘Bĩ’ và ‘Thái’ lần lượt là hai quẻ trong 64 quẻ, chúng khuyên răn rằng làm người khi rơi xuống đáy vực, chớ nên nản trí ngã lòng, đánh mất lương tri, điên rồ cuồng dại, chỉ cần kiên trì nẻo thiện, mọi thứ rồi sẽ tốt lên…”
Mẹ Tổ Gia say sưa nghe, cảm thấy vị lão tiên sinh này nói rất có đạo lý! Bỗng nhiên lại thấy không đúng, vội hỏi: “Đại sư, theo kiến giải của ngài, chúng ta chỉ còn cách ngồi đợi sự an bài của số phận thôi sao, để rồi gặp tai họa, chỉ có thể nhẫn nhịn chịu đựng, thúc thủ vô sách ư?”
Vị đạo nhân lắc đầu, nói: “Kinh Dịch đã cho chúng ta đáp án rồi. Đây chính là sự ngu muội và nông cạn của thế nhân, ta nói bao nhiêu như vậy mà phu nhân vẫn chưa lĩnh ngộ...”
Mẹ Tổ Gia đỏ mặt: “Xin đại sư chỉ giáo rõ hơn!”
“Hành thiện, hành thiện, hành thiện!” vị đạo nhân nói liền ba tiếng.
Mẹ Tổ Gia giật mình: “Ồ, tôi hiểu rồi!”
Vị đạo nhân mỉm cười: “Nói hiểu thì hiểu, nói không hiểu thì không hiểu. Tôi tặng phu nhân một cuốn sách, phu nhân hãy nghiên cứu thật kỹ, phương pháp cứu con ở tất trong này!” Nói xong liền lấy ra một cuốn sách cũ đã ố vàng, tặng cho mẹ Tổ Gia.
Mẹ Tổ Gia đón lấy xem, cuốn sách có tên Liễu Phàm tứ huấn. Khi bà ngẩng đầu lên thì không thấy vị đạo nhân đó đâu nữa, bà thẫn thờ đi vào trong phòng, đọc và nghiên cứu cuốn sách một cách tỉ mỉ. Sau này, bà thường kể cho Tổ Gia nghe những nhân vật, câu chuyện trong cuốn sách này, nói đây là bảo bối thay đổi số mệnh.
Trong sách có câu chuyện như sau: Gia Khánh năm thứ 12, ở trấn Ngụy Đường, huyện Gia Thiện có một người tên là Viên Liễu Phàm, sau này ông trở thành nhà tư tưởng quan trọng của triều nhà Minh, hơn nữa còn là người chống lại số mệnh, một người hành thiện để thay đổi số phận. Cuộc đời ông minh chứng một cách thấu triệt chân đế “Tích thiện tất dư niềm vui, tích bất thiện tất thừa tai họa” trong Kinh Dịch.
Liễu Phàm mồ côi cha từ nhỏ, mẹ ông khuyên ông không nên theo đòi công danh làm gì mà cho học y thuật, và nói rằng học y thuật có thể kiếm tiền nuôi sống bản thân, cũng có thể cứu giúp người đời, hơn nữa y thuật đạt đến độ cao minh còn có thể trở thành danh y, đây cũng là tâm nguyện của cha ông khi trước.
Thế là Liễu Phàm bắt đầu học y thuật. Sau này, ông gặp một đại sư thuật số họ Khổng ở chùa Từ Vân, Khổng đại sư là truyền nhân của Thiệu Khang Tiết, đại sư dự trắc thời Tống. Khổng đại sư bói cho Liễu Phàm một quẻ và nói rằng ông không nên học y thuật, nên thi làm quan, chắc chắn sẽ thi đỗ, đồng thời bói cả thứ bậc của mỗi kỳ thi, hơn nữa còn xem cả đường sĩ hoạn, khi nào thì thăng chức, khi nào làm huyện trưởng, nhưng chỉ có thế sống đến năm 53 tuổi, qua đời tại nhà vào giờ Sửu ngày 14 tháng 8 năm đó, đồng thời mệnh không có con trai.
Sau này Liễu Phàm đi thi, quả đúng như lời Khổng đại sư từng nói, mỗi lời đều ứng nghiệm tuyệt đối. Thế là Liễu Phàm mất đi ý chí phấn đấu trong cuộc sống, ông cảm thấy cuộc đời mình đã được định trước, lo lắng nghĩ ngợi cũng chẳng có tác dụng gì, chẳng thà để trôi theo dòng nước, được chăng hay chớ, dù gì thì việc cần đến đều sẽ đến, khi phải chết vẫn là chết, số không con là không có con, lo nghĩ nhiều chẳng có tác dụng.
Sau này, khi Viên Liễu Phàm đến Nam Kinh học, đến Thê Hà Sơn bái kiến thiền sư Vân Cốc, ông đàm đạo với thiền sư về sự trói buộc của số mệnh con người, ông bi quan nói: “Số mệnh của con được Khổng đại sư đoán định rồi, khi nào sinh, khi nào tử, khi nào thành, khi nào bại đều đã định sẵn, chẳng thể thay đổi được. Vậy thì lo lắng nghĩ ngợi phỏng có ích gì chứ?”
Thiền sư Vân Cốc nghe xong liền khai hóa cho Liễu Phàm: “Nếu một người trái tim lúc nào cũng đầy ắp vọng tưởng, tà tâm, tất sẽ bị khí số âm dương trói buộc; đã bị khí số âm dương trói buộc rồi, sao có thể nói không có số mệnh đây? Tuy nói rằng số mệnh là chắc chắn có, nhưng chỉ có người bình thường mới để bị số mệnh trói buộc. Còn là người có thiện tâm, chẳng gì có thể trói buộc được họ.” Tóm lại, đã là con người thì đều phải chịu sự chế ước của khí âm dương ngũ hành, nhưng nếu một người làm nhiều việc thiện, tất có thể vượt ra ngoài sự trói buộc của số mệnh.
Liễu Phàm như ngộ ra ít nhiều: “Thưa, thật vậy sao?”
“Hãy cứ làm đi!” thiền sư Vân Cốc nói.
Thế là Viên Liễu Phàm lập đại nguyện thực hiện ba ngàn việc thiện. Nói là làm, mỗi khi làm được một việc thiện, ông đều ghi chép lại. Vợ ông không biết chữ thì khoanh một khoanh tròn lên cuốn Hoàng lịch. Cùng với tâm nguyện hành thiện, Liễu Phàm dần dần thoát khỏi sự ràng buộc của số mệnh, sau này bắt đầu xảy ra nhiều việc không còn khớp với lời tiên đoán của Khổng đại sư nữa: Khổng đại sư bói ông thi đỗ thứ ba, nhưng ông lại đỗ thủ khoa; bói ông không đỗ Cử nhân, nhưng kết quả thì ngược lại. Thế là Viên Liễu Phàm đã bắt đầu nắm trong tay số mệnh của mình.
Hoàn thành xong ba ngàn việc thiện, Liễu Phàm tiếp tục lập ba ngàn nữa. Thực hiện xong rồi, lại tiếp đến mười ngàn. Năm Kỷ Tỵ, vợ chồng Liễu Phàm sinh được một người con trai, ông vui mừng khôn xiết, đặt tên con là “Thiên Khởi”, sau này con ông lại thi đỗ Tiến sĩ. Nhờ hành thiện tích phúc, Viên Liễu Phàm vượt qua ải 53 tuổi một cách nhẹ nhàng.
Về già, ông đem kinh nghiệm hành thiện thay đổi số mệnh truyền cho con rằng: “Khổng tiên sinh bói mệnh của cha đến năm 53 tuổi sẽ gặp tai họa. Cha tuy không khấn trời cầu trường thọ, nhưng đến năm 53 tuổi lại chẳng hề bị bệnh tật gì. Nay cha đã 69 tuổi, thọ hơn 16 năm rồi.”
Liễu Phàm dùng chính những việc mình trải qua để minh chứng cho chân đế nhân sinh trên trong Kinh Dịch, đồng thời đưa ra luận thuyết, khuyên răn thế nhân chớ nên để số mệnh trói buộc tay chân, phải tự lực tự cường, phải nắm giữ số mệnh của bản thân.
Cuốn sách này được người đời sau chỉnh lý đặt tên là Liễu Phàm tứ huấn, răn dạy thế nhân rằng: số mệnh có thể nỗ lực thay đổi được. Cuốn sách mang nội hàm văn hóa và trí tuệ phương Đông sâu sắc, được mệnh danh là “Đông phương đệ nhất lịch chí kỳ thư”, từ khi ra đời nó rất được sùng bái, lưu truyền đến tận ngày nay.
Do đó, từ nhỏ mẹ Tổ Gia đã căn dặn ông rằng: “Nhất định phải làm người lương thiện!” Sau này, ông gia nhập phái Giang Tướng cũng là để thưởng thiện phạt ác, thay trời hành đạo. Nhưng bao nhiêu năm qua, Tổ Gia bỗng trở nên mông muội, ông không còn biết mình đang làm việc thiện hay việc ác nữa.