Tổ Gia nhấp một ngụm trà, tiếp tục nói: “Kỹ thuật này bắt nguồn từ thời Tiên Tần, phát triển mạnh vào thời Hán. Cuốn Táng thư của Quách Phác thời Đông Tấn chính là tác phẩm đầu tiên về phong thủy học. Các triều đại trong lịch sử đều có những người chuyên nghiên cứu về phong thủy, người có danh tiếng còn được vào triều phụ trách kiến trúc trong cung đình, thầy phong thủy thông thường thì hành nghề nơi thôn dã, phục vụ người dân. Sự phát triển của lý luận phong thủy có ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là thời kỳ phát triển phong thủy phái Hình thế. Phái Hình thế chú trọng đến phần ‘hình’ của sự vật, ví dụ như ngoại cảnh của công trình kiến trúc, hình trạng long mạch của núi, hướng chảy của sông ngòi... Sau này người ta phát hiện ra rằng, dù là kiến trúc có hình thế giống hệt nhau, nhưng nếu xây ở nơi khác nhau, ví dụ một ở bắc, một ở nam thì tốt xấu cũng khác nhau. Thế là phong thủy phái Lý khí được ra đời. Trường phái này ngoài việc quan sát ‘hình thế’, còn kết hợp với ngũ hành, bát quái, phương vị của nơi đó, điều này sẽ giải quyết được vấn đề ‘kiến trúc giống nhau nhưng xây trên phương vị khác nhau nên tốt xấu không giống nhau’. Tuy nhiên, hướng bắc ngũ hành thuộc Thủy, hướng nam thuộc Hỏa, tìm địa thế giống nhau ở hai phương rồi xây cùng một kiểu nhà, thậm chí cùng một kiến trúc, người vào ở khác nhau sẽ có hiệu quả tốt xấu khác nhau. Thế là phong thủy phái Mệnh lý ra đời, trường phái này ngoài việc khảo sát hình thế và khí ngũ hành, còn xem cả bát tự của người chủ, kết hợp khí ngũ hành của phong thủy với khí ngũ hành của con người để phân tích khảo chứng phong thủy và con người. Ví dụ một căn nhà xây hướng bắc, ở nơi vị trí cao, có Thủy vượng, nếu một người trong mệnh thiếu Thủy, vậy thì anh ta vào ở chẳng khác nào như cá gặp nước, vô cùng tốt; ngược lại, nếu một người có mệnh thiếu Hỏa mà vào ở là trái với nguyên tắc phong thủy, tất nhiên là rất xấu. Trường phái phong thủy xưa nay nhiều vô kể, nhưng để phân loại thì đều có thể quy vào ba trường phái lớn là Hình thế, Lý khí và Mệnh lý”
“Có lý! Có lý!” Chu Cẩn vỗ đùi khen hay.
“Nhưng mọi người có biết phong thủy tốt nhất là ở đâu không?” Tổ Gia mỉm cười hỏi.
“Ở đâu?” Mọi người đều tò mò.
Tổ Gia chỉ vào ngực, nói: “Phong thủy tốt nhất là tại tâm. Tâm đã tốt rồi, mọi việc đều gặp hung hóa cát! Đây chính là đạo lý tôi vừa nói: phong thủy hữu dụng mà cũng vô dụng!”
“Xin tiên sinh chỉ giáo cho!” mọi người nôn nóng đợi Tổ Gia giảng giải.
“Tôi kể cho mọi người một câu chuyện có thật. Vào thời nhà Minh, ở An Huy có một nhà buôn tên Vương Thiện, tổ tiên ba đời đều ăn chay niệm Phật, bản thân ông cũng thích hành thiện bố thí, buôn bán không bao giờ lừa già gạt trẻ, nên kinh doanh vô cùng phát đạt, nhưng duy có một điểm là gần bốn mươi tuổi mà vẫn chưa có con. Một hôm, ông mời một đạo trưởng đến xem bói, vị đạo trưởng xem bát tự rồi kinh ngạc nói: ‘Bát tự của tiên sinh tuy Tài tinh cường vượng, nhưng Nhật chủ căn khí không ổn định, cung tử nữ (con cái) còn gặp xung khắc, không những mệnh chủ về không con cái mà năm nay còn gặp họa mất mạng, là mệnh kiếm tiền nhiều nhưng không có phúc được hưởng, mệnh ngài kỵ Thủy, năm nay chớ nên buôn bán gần sông gần biển.’ Vương Thiện nghe xong cười ha hả nói: ‘Nếu số phải chết, tôi có tránh cũng không được, tôi một đời không làm việc xấu, cũng chẳng có điều gì đáng tiếc.’
Năm đó, Vương Thiện đi Tô Châu nhập hàng, đúng vào mùa mưa phùn, mưa mãi không ngớt, trên bến đò nước sông dâng cao, Vương Thiện đang băn khoăn nên qua sông hay không, lúc này bỗng thấy có tiếng người kêu cứu. Phóng tầm mắt ra xa, một người phụ nữ đang chới với dưới dòng nước chảy xiết, mọi người không ai dám xuống cứu, bản thân Vương Thiện cũng không biết bơi, ông bèn hô to: ‘Ai biết bơi, xuống cứu người, tôi thưởng cho 20 lạng bạc!’ Đám ngư dân nghe thấy đều nhảy cả xuống, thế là người phụ nữ được cứu.
Sau đó ông hỏi bà ta sao lại bị ngã xuống sông, bà ta trả lời là muốn tự tử, thì ra người này có chồng đi làm công ở ngoài, ở nhà nuôi được một con lợn, hôm qua đem lợn đi bán để lấy tiền trả cho địa chủ, nào ngờ bị người ta lừa trả cho bạc giả, sợ chồng trách mắng, bà ta nhất thời nghĩ quẩn liền nhảy sông tự tử. Vương Thiện mủi lòng thương, cho bà ta gấp đôi số tiền bán lợn. Sau khi về nhà, bà ta kể lại mọi việc cho chồng nghe. Người chồng nghe xong không những không tin mà còn lớn tiếng chửi mắng, cho rằng bà ta thông gian với Vương Thiện, nếu không ai lại đi cho không gấp đôi số bạc bán lợn, thiên hạ đâu có kẻ nào ngu ngốc đến vậy, sau đó nhất quyết lôi vợ đi tìm Vương Thiện để làm cho ra nhẽ.
Tối đó, Vương Thiện đang nghỉ trọ trong một khách điếm cách bờ sông không xa, trời mưa như trút, nước sông dâng cao, trong phong thủy học, người ngũ hành kỵ Thủy ở một nơi như thế là rất không tốt. Thế nhưng bản thân Vương Thiện không hề để tâm đến điều này, vẫn khêu đèn đọc sách trong phòng. Nghe thấy có người gõ cửa, Vượng Thiện hỏi là ai, người phụ nữ nói là người ban ngày bị ngã xuống sông được cứu lên, cảm kích đến tạ ơn. Vương Thiện nói: ‘Chỉ là việc nhỏ, nhắc đến làm chi? Bà đêm hôm đến đây, nam nữ thụ thụ bất thân, thành ý của bà tôi xin nhận, hãy mau trở về đi.’ Người chồng nghe vậy, mọi nghi hoặc trong lòng bỗng chốc tiêu tan, vội nói to: ‘Thưa ân nhân, tôi là chồng của bà ấy, hai vợ chồng chúng tôi đến xin cảm tạ ngài!’ Vương Thiên nghe vậy, vội ra mở cửa đón tiếp. Trong khoảnh khắc ông bước ra khỏi phòng thì bỗng rầm một tiếng, căn nhà cũ kỹ gặp mưa quá to, liền đổ sụp xuống. Vương Thiện nhờ một lòng hành thiện mà thoát khỏi tai ương một cách tài tình! Đây chính là đạo lý phong thủy không thể sánh với nhân tâm!”
“Hay, rất hay.” Hồng lão hổ nghe xong gật đầu mãi không thôi, “Nhân tâm, nhân tâm mới là quan trọng nhất. Thế gian có biết bao kẻ dốc tâm sức để điều chỉnh phong thủy, thay đổi đại vận, cuối cùng chỉ hoài công vô ích, há chẳng biết phong thủy tối thượng nằm ở trong tâm con người.”
“Hơn nữa, sau này Vương Thiện sinh được 11 người con trai, trong đó có hai người đỗ đạt, bản thân Vương Thiện sống thọ đến 98 tuổi mới cưỡi hạc quy tiên.” Tổ Gia bổ sung thêm.
Hồng lão hổ nghe xong, mắt ánh lên: “Đời chúng tôi làm thổ phỉ, không thể để đời sau lại làm thổ phỉ được. Tôi vốn do dự rằng có nên nhúng tay vào tấm bản đồ này hay không, nay xem ra không thể không làm, nếu quả thực có bản đồ long mạch, chúng ta nhất định phải giành lấy, không thể để quân xâm lược phá hoại phong thủy của Trung Hoa được.”
Lưu Tòng Vân nói: “Đúng vậy! Trước đây khi còn ở Xuyên Tây, một lão hòa thượng từng kể cho tôi nghe tại vùng lòng chảo Tarim ở Tân Cương có một cái huyệt lớn, đây chính là miệng chân long thổ khí, cứ đến dịp Thanh minh hằng năm đều nghe thấy hơi thở trong cái động đó. Năm xưa, Thịnh Thế Tài - Quân phiệt Tân Cương từng đến khảo sát nơi này, nghe nói một đội mấy trăm người đi vào mà không thấy trở ra. Biết đâu đó chính là một đường thông ra của long mạch được nhắc đến trong Liên Hoa dịch?”
Tổ Gia gật gù: “Tôi cũng từng nghe Bành chân nhân nói đến việc này. Bất luận thế nào, quân Nhật đã dốc bao nhiêu tâm sức vì việc này, chứng tỏ có mối liên hệ vô cùng quan trọng đến việc hoạch định chiến lược tổng thể của chúng, chỉ cần chúng ta lấy được bản đồ long mạch, việc sau đó sẽ dễ dàng rồi.”
“Lấy bằng cách nào?” Bách bộ xuyên dương
Vương Kế Khôn hỏi.
“Phàn Nhất Phi, một đồ đệ của tôi kể rằng ở Tế Nam, Sơn Đông, quân Nhật có lập một tổ chức đặc vụ có tên là Công quán Mai Hoa, cơ quan này phụ trách việc thu thập bản đồ các vùng trên cả nước, bản đồ của tất cả đội đuổi xác đều được chuyển về đây...” Tổ Gia nói.
Không đợi Tổ Gia nói hết câu, Thảo thượng phi Yến Lão Thất đứng bật dậy, hỏi: “Phàn Nhất Phi nào? Tái Hoạt Hầu ở Hà Nam ư?”
Tổ Gia không hiểu tại sao anh ta lại kích động như vậy, bèn gật đầu: “Nhưng nay anh ta không còn gọi là Tái Hoạt Hầu nữa, để che giấu tung tích, các anh em đặt cho anh ta một biệt hiệu mới là Tiểu Thời Thiên.”
Yến Lão Thất nói tiếp: “Nghe tin Phàn Nhất Phi làm Hán gian, người trong giới chúng tôi đều rất ngạc nhiên, anh ta làm Hán gian thật sao?”
Tổ Gia cười phá lên, nói: “Cũng là bị ép buộc thôi. Sau khi Hà Nam thất thủ, Phàn Nhất Phi bị bọn Nhật bắt và uy hiếp, nếu không chịu gia nhập Hội Tế thì bị sẽ lóc da, xẻ thịt. Bất đắc dĩ anh ta phải làm việc cho Nhật, đảm nhiệm việc chuyển bản vẽ vùng Tương Ngạc, cách đây không lâu bị tôi bắt được rồi thu nạp, bản lĩnh cũng khá.”
Yến Lão Thất gật đầu: “Hai năm trước, tôi và Phàn Nhất Phi chạm trán nhau tại Vũ Hán, khi đó chẳng ai quen ai, điều trùng hợp là cả hai đều muốn trộm tráp châu báu của tú bà một kỹ viện, người chỉ điểm nói rằng mụ tú bà này có mối quan hệ rất thân thiết với người của Cục Quân thống, làm tú bà đã nhiều năm, tiền bạc của cải nhiều vô kể. Một đêm, sau khi tôi vào phòng tú bà, khó khăn lắm mới mở được cái tráp, nào ngờ bên trong rỗng không, đúng lúc định bỏ đi, phát hiện rèm cửa lay động, một bóng đen phi thân khỏi cửa sổ. Tôi lập tức đuổi theo, kết quả phát hiện tên tiểu tử này thân thủ rất nhanh, thoạt nhìn là biết người trong giới. Chúng tôi đuổi nhau mấy vòng trên mái nhà, hắn chẳng thể cắt đuôi tôi được. Cuối cùng hắn mỉm cười nói: ‘Người anh em, đừng đuổi nữa, chúng ta mỗi người một nửa.’ Nói rồi đổ nửa số châu báu trong túi ra sân, tôi hỏi một câu: ‘Người anh em thuộc phái nào vậy?’ Hắn trả lời: 'Tái Hoạt Hầu Phàn Nhất Phi.’ Nói xong liền phi thân bỏ đi. Lúc này tên ma cô phát hiện liền hô hào, chúng tôi bèn bỏ chạy. Đúng lúc đó máy bay Nhật ầm ầm lao đến thả mấy quả bom, ầm một tiếng, lũ tú bà, kỹ nữ, ma cô đi đời nhà ma!”
“Ha ha ha,” Tổ Gia cười vang, “chẳng trách nhắc đến Phàn Nhất Phi, Yến Lão Thất lại phấn khích như vậy.”
“Tiểu tử này thân thủ không tồi, là một nhân tài.” Yến Lão Thất nói.
“Ừm, binh pháp nói ‘Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng’. Muốn biết bản đổ long mạch rốt cuộc như thế nào, cần phải thâm nhập vào nội bộ người Nhật mới được, bằng không chỉ có ngồi khoanh tay chịu chết.” Lưu Tòng Vân vuốt râu nói.
Tổ Gia mỉm cười: “Tôi có một kế, không biết liệu Tư lệnh có ủng hộ không?”
“Ngài cứ nói!” Hồng lão hổ nói.
“Hiện Phàn Nhất Phi đã gia nhập chúng tôi, nhưng bọn Nhật chưa hề hay biết, bởi lũ Hán gian đi cùng đều đã bị tôi giết cả rồi. Chi bằng để Phàn Nhất Phi trở lại địa giới Hà Nam, Sơn Đông, coi như là đào thoát. Anh ta khinh công giỏi, lại rất đáng tin cậy, để anh ta thâm nhập vào nội bộ cơ quan đặc vụ Nhật Bản, xem liệu có thể đánh cắp được bản đồ không?”
“Ừm, kế sách hay, chỉ có điều...” Lưu Tòng Vân nói, “Phàn Nhất Phi mới về phe chúng ta, có đáng tin hay không vẫn chưa thể biết chắc, ngộ nhỡ anh ta trở về chỗ bọn Nhật, rồi bị chúng đe dọa dụ dỗ, khai ra tình hình của chúng ta, há chẳng phải là họa sát thân ư?”
“Đây chính là điều tôi muốn xin ý kiến Tư lệnh,” Tổ Gia mỉm cười nói, “nếu ngài đồng ý cho mượn Yến Lão Thất, việc này nắm chắc đến sáu phần.”
“Ý ngài là sao?” Hồng lão hổ hỏi.
“Yến Thất gia là một trong Tứ đại Kim cương của Tư lệnh, tất là người trung nghĩa, để Yến Lão Thất cùng đi với Phàn Nhất Phi, có thể nhân dịp này thăm dò lòng trung thành của Phàn Nhất Phi. Chúng ta dùng kế này có thể một công đôi việc.” Tổ Gia hạ giọng nói.
Bọn Hồng lão hổ nghe kỹ từng lời, gật đầu liên tục: “Ừm, diệu kế.”
“Nhưng... nhưng phải phiền Yến Thất gia đích thân xuất trận, ngộ nhỡ có sơ xuất…”
“Ha ha, tiên sinh quá lo rồi, Yến Thất tôi chẳng phải là kẻ ham sống sợ chết, tôi cũng từng chém giết hàng trăm trận rồi.” Yến Lão Thất cười nói.
Thế là mấy người chụm đầu vạch kế hoạch tỉ mỉ, ngày hôm sau bắt đầu hành động...