Trong phòng khách, Phùng Tư Viễn đích thân rót đầy tách trà cho Tổ Gia, rồi sau đó lễ phép nói: “Tiên sinh đợi một lát, Đới Tướng quân đến ngay bây giờ.”
“Phùng Phó quan chớ khách sáo. Được dốc sức vì Đới Tướng quân, bỉ nhân thấy vô cùng vinh hạnh.”
Chừng nửa canh giờ sau, Đới Lạp đến.
Tổ Gia đứng dậy nghênh đón, đây là lần đầu tiên ông gặp Đới Lạp bằng xương bằng thịt! Gặp kẻ thù không đội trời chung, Tổ Gia cố gắng che giấu lửa giận đang ngùn ngụt trong lòng, nhưng hình ảnh Vương Á Tiều vẫn cứ chập chờn trước mắt.
“Ngưỡng mộ đại danh tiên sinh đã lâu, nay mới gặp mặt, quả là tiên phong đạo cốt!” Đới Lạp bắt tay Tổ Gia nói.
“Đới Tướng quân thần vũ anh minh, uy danh bốn biển, được gặp Tướng quân, bỉ nhân vô cùng vinh hạnh!” Tổ Gia phụ họa.
“Mời ngồi!” Đới Lạp nói với cung cách khách sáo.
Sau khi hai người ngồi xuống, Đới Lạp bỗng cất tiếng hỏi trước: “Nghe nói tiên sinh thường qua lại với Vương Á Tiều?”
Tổ Gia đã lường trước tình huống này, Giang Phi Yến cũng dặn đi dặn lại rằng ông cố đừng để thất lễ. Tổ Gia bình tĩnh đáp: “Chẳng dám nhận là có qua lại, chỉ là Diêm vương cho đòi, tiểu quỷ không dám không đến, Vương A Tiều hay Đới Tướng quân cũng vậy, đều là tấm thân máu thịt, là người tất sợ cái chết, đó là đạo lý hiển nhiên, do đó thánh nhân sáng tạo ra Chu dịch, nhằm dạy cách đón cát tránh hung. Vương Á Tiều khi còn sống cũng từng mời bỉ nhân đến xem cát hung...”
Câu trả lời này vừa khéo léo tránh được cái bẫy của Đới Lạp, vừa nghe có vẻ rất chân thực.
Đới Lạp mỉm cười, nói: “Lời của tiên sinh rất đúng. Đây giống như chức phận của thầy thuốc là trị bệnh cứu người, bất luận là người tốt hay xấu, trong mắt thầy thuốc chỉ là bệnh nhân, đã là bệnh nhân thì phải điều trị. Người xưa nói: ‘Người học Y, chữa bệnh; người học Dịch, trị mệnh.’ Dịch học, Y học vốn cùng một nhà, Đông y và Thuật số đều tuân theo nguyên lý âm dương, đều tuân theo sự chế hóa xung khắc của ngũ hành. Do đó người xưa mới nói: ‘Không làm tướng giỏi, thì làm thầy thuốc’, không thể xuất tướng nhập sĩ trị quốc an bang vì triều đình, thì quay về làm thầy thuốc hoặc thầy tướng số, chuyên tâm phục vụ bách tính. Phẩm chất Dịch học của tiên sinh quả là cao thượng!”
Tổ Gia trong bụng thầm nhận xét: Đới Lạp đúng là Đới Lạp, bất luận tài ăn nói hay học vấn, đều trội hơi một bậc so với bọn đặc vụ thông thường.
Tổ Gia cũng mỉm cười: “Đới Tướng quân am hiểu Dịch lý, quán thông cổ kim, bội phục, bội phục.”
Đới Lạp nhấp một ngụm trà, nói: “Lần này mời tiên sinh đến đây, là có việc quốc sự muốn hỏi.”
Tổ Gia nói: “Có hỏi tất có đáp, bỉ nhân sẽ dốc hết sức.”
Đới Lạp gật đầu: “Quân Nhật xâm lược nước ta, Trung Hoa gặp nguy, kể từ khi Tôn Trung Sơn lập quốc, đây là lần đầu tiên Trung Hoa ta gặp kiếp nạn lớn như vậy, Nam Kinh thất thủ, phút chốc mấy trăm ngàn người chết, ủy viên trưởng rất đau lòng. Tiên sinh hãy đứng từ góc độ đại nghĩa dân tộc, xem xem trong cuộc chiến Trung - Nhật này, liệu ta có thể giành thắng lợi không? Nếu thắng thì thắng vào thời điểm nào?”
Tổ Gia gật đầu, nói: “Tấm lòng thành ái quốc của Đới Tướng quân thật khiến người ta kính trọng. Xem vận nước cần phải dụng đến phép kỳ môn, đặc biệt là chiến tranh giữa quốc gia này với quốc gia kia, càng phải dụng thuật kỳ môn vũ trụ. Bỉ nhân học sơ tài thiển, đối với phép này không được tinh thông cho lắm, chỉ có thể dựa vào phép thiên tượng, mạn phép múa rìu qua mắt thợ vây.”
“Tiên sinh quá khiêm tốn rồi, xin mời.”
“Tôi xem trong Cửu tinh*, Chủ tinh mờ tối, sao Phá Quân hung ác, dữ tợn, đó đều chủ về việc xấu. Nhưng hai sao Văn Khúc và Vũ Khúc củng chiếu*, đây là tượng tốt. Quân Nhật xâm chiếm Trung Hoa, sao Cự Môn mở, sao Tham Lang khởi, hai năm đấu tất sẽ chiếm thế thượng phong, nhưng một khi qua hai năm đầu này, quân Nhật tất sẽ đến hồi hạ phong. Nhật Bản là quốc đảo nhỏ bé, đánh thẳng một mạch vào nội địa Trung Hoa ta tất sẽ sa lầy vào chiến cuộc, lâu ngày sẽ bị quân ta giằng co mệt nhọc, đến lúc đó quân ta phản công, tất sẽ đuổi được loài lang sói ra khỏi đất nước! Duy có một điểm...”
Cửu tinh bao gồm các sao: Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật.
Thuật ngữ tử vi.
“Điểm gì?” Đới Lạp sốt sắng hỏi.
“Trung Hoa kháng chiến, vạn người phải đồng tâm, nếu Quốc quân chỉ nghĩ đến tiễu Cộng, tức là làm trái đạo trời, tất sẽ chuốc lấy thất bại. Hai tướng Trương, Dương trong Sự biến Tây An* chính là điểm báo.”
Sự biến Tây An là cuộc binh biến bắt giữ Tưởng Giới Thạch tại Tây An do Trương Học Lương và Dương Hổ Thành thực hiện, nhằm gây áp lực buộc Tưởng hợp tác với Cộng sản Đảng chống Nhật vào ngày 12 tháng 12 năm 1936.
“Lời của tiên sinh rất đúng!” Đới Lạp gật gù, “chỉ là một nước, há có thể hai vua? Phỉ Cộng quá ngạo mạn...”
Tổ Gia mỉm cười: “Có được lòng dân là giành được thiên hạ, Đới Tướng quân không thể không biết điều này.”
“Vậy thì... cuộc chiến này phải mất bao nhiêu năm mới giành thắng lợi?” Đới Lạp hỏi dồn.
“Ngắn thì năm năm, dài thì mười năm.”
“Lâu vậy sao?” Đới Lạp sửng sốt nói, liền sau đó lại nghĩ, “Nhưng... cũng đành vậy.”
Đến đây, Đới Lạp đã bị Tổ Gia dẫn dắt hoàn toàn. Người mời thầy tướng số đến xem cho mình thường như vậy, những thứ mà bản thân rõ ràng đã phán đoán ra thì lại thiếu tự tin, nhất định phải nghe chính miệng thầy tướng số nói ra mới cảm thấy yên tâm, xét từ góc độ này, thầy tướng số cũng giống như bác sĩ tâm lý.
Kỳ thực, việc dự đoán kết quả kháng Nhật trên toàn quốc lúc bấy giờ không nằm ngoài hai trường hợp: một là Nhật Bản chiến thắng, Trung Hoa mất nước; trường hợp còn lại là Trung Hoa tất thắng, nhưng thời gian thì không xác định, có thuyết tốc thắng, có thuyết kéo dài. Tóm lại số người nghiêng về thuyết giành thắng lợi chiếm đa số, một nước lớn thế mạnh há có thể thua quân giặc lùn nhỏ bé sao!
Lời dự đoán này cũng bao trùm lên cả hệ thống đặc vụ Quân thống. Phùng Tư Viễn có lúc phong nguyệt gió trăng cùng Giang Phi Yến xong, cũng rôm rả bàn luận việc này. Giang Phi Yến tỉ mỉ ghi nhớ, rồi đem kể hết lại cho Tổ Gia nghe. Tổ Gia mới có thể phán trên trời dưới đất, làm cho Đới Lạp trong lòng rất khâm phục, còn về lời dự đoán: “Ngắn thì năm năm, dài thì mười năm” là Tổ Gia tự dự đoán, vì ông cũng không biết rốt cuộc phải chiến đấu bao lâu, nhưng là người Trung Quốc, ông tin chắc rằng: Trung Quốc sẽ không bại vong.
Đới Lạp hỏi xong việc công thì bắt đầu hỏi đến việc riêng, trước khi hỏi đưa mắt ra hiệu cho Phùng Tư Viễn. Phùng Tư Viễn biết ý lui ra.
“Từ lâu nghe danh tiên sinh tinh thông thiết bản thần số, chỉ cần xem bát tự, tốt xấu thoạt nhìn là biết ngay, đây là bát tự của tại hạ...” Đới Lạp đưa bát tự của mình ra.
Rốt cuộc Tổ Gia cũng đợi được thời cơ này.
Sau khi suy ngẫm một lát, Tổ Gia nói: “Nếu luận theo pháp thông thường, thì bát tự của Đới Tướng quân thiếu Thủy, trong mệnh, Thủy là đệ nhất Dụng thần!* Do đó, gặp được Thủy là tốt, bất luận là bố cục phong thủy hay là đặt tên, đều phải có Thủy.”
Thuật ngữ tử vi, tướng số.
Đới Lạp nghe xong gật đầu lia lịa, bản thân hắn cũng hiểu bát tự, biết rằng bát tự của mình thiếu Thủy, do đó một hơi nêu ra mấy chục cái tên có mang Thủy đặt cho mình.
“Nhưng...” Tổ Gia chợt chuyển đề tài.
“Nhưng gì cơ?” Đới Lạp vội hỏi.
“Nhưng đây chỉ là luận điệu hoang đường!”
“Luận điệu hoang đường?” Đới Lạp ngạc nhiên đến độ suýt đứng bật dậy.
“Thông thường bát tự được chia thành tám chữ, nhưng có một số bố cục đặc biệt, không thể luận theo thuyết ngũ hành cân bằng. Vì vậy nếu ngũ hành trong bát tự đều vượng, khi mà vượng đến độ không thể khống chế được thì phải tiết bớt thế vượng của nó, bằng không cứ lấy ngũ hành tương phản mà khống chế, trái lại sẽ kích thích thế phản ngược, đây gọi là ít khó địch nổi nhiều, mãnh hổ địch quần nan, người xưa cũng luận thuật rất nhiều về điều này. Bát tự của Đới Tướng quân là Hỏa vượng, nếu luận theo thông thường, nên bổ sung Thủy, dùng Thủy để chế phục Hỏa, duy trì ngũ hành cân bằng, nhưng xét một cách tỉ mỉ, trong bát tự của Tướng quân, thiên can Bính Hỏa là Nhật chủ*, lại gặp địa chi Tỵ Hỏa, Đinh Hỏa trên Niên can, Thời can* và Tỷ kiếp* trợ giúp lẫn nhau, Nguyệt can* Ất Mộc lại sinh Hỏa, Mộc Hỏa thông minh, lửa lớn phừng phừng, thế vượng không gì cản nổi! Do đó, tuyệt đối không thể dùng Thủy!”
Chỉ ngày sinh.
Tức thiên can của năm sinh và giờ sinh.
Thuật ngữ tử vi, tướng số.
Thiên can của tháng sinh.
Vậy dùng cái gì?” Đới Lạp sợ toát mồ hôi hột.
“Dùng Thổ!” Tổ Gia nói như đinh đóng cột.
“Tiên sinh nói rõ xem.” Đới Lạp biết mình đã thất lễ, liền lập tức bình tĩnh trở lại.
“Hỏa sinh Thổ, Thổ có thể tiết hao vượng khí của Hỏa, lại không giống như Thủy kích thích thế phản ngược của Hỏa.” Tổ Gia nói.
Đới Lạp gật gật đầu: “Đúng, có lý.”
Lý luận này của Tổ Gia bắt nguồn từ quy luật ngũ hành sinh khắc chế hóa, sau này ông cũng thường giảng giải lý luận này cho anh em Đường khẩu nghe.
Ngũ hành bao gồm: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, là quy ước trừu tượng của người xưa về mọi sự vật trên thế giới. Trong Thượng thư, thiên Hồng Phạm có chép: “Ngũ hành: một là nước, hai là lửa, ba là gỗ, bốn là kim loại, năm là đất (nói về tính chất). Nước thấm xuống dưới, lửa bốc lên trên, gỗ có cong có thẳng, đồ kim khí tùy tay người thợ mà đổi hình, đất để trồng cấy.”
Ngũ hành là nền tảng của mọi thuật tướng số, người xưa cho rằng thiên địa vạn vật đều có ngũ hành, mọi sự cát hung họa phúc đều do sự vận động và tương tác của ngũ hành mà thành, nắm được nguyên lý ngũ hành rồi, sự thần bí của thuật dự trắc cũng sẽ dễ dàng lý giải.
Khi mới học, có lúc đám tay chân hỏi: trời tròn đất vuông, hồng trần vạn vật, trên thế giới này ngoài kim loại, gỗ, nước, lửa và đất ra, còn có biết bao nhiêu sự vật, ví dụ thủ lợn, áo dài, áo khoác, máy quay đĩa, chó, mèo, đại tiện..., chỉ dùng ngũ hành sao có thể bao hàm được tất cả đây?
Tổ Gia mỉm cười nói: “Nếu coi Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ chỉ là như kim loại, gỗ, nước, lửa và đất, thì đã đánh giá thấp trí tuệ của các bậc tiên hiền xưa. Phàm là khái niệm, đều có nội hàm và ngoại diên của nó; Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là sự biểu đạt trừu tượng của ngũ hành, khái quát vạn vật, trong cuộc sống của chúng ta, những vật ta thấy ở khắp mọi nơi đều có thể quy vào ngũ hành.”
Kim: phàm vật chất có tính chất cứng, có khí xơ xác tiêu điều đều gọi là Kim, không chỉ bao gồm vàng, còn là tất cả kim loại và nguyên tố chất cứng như bạc, đồng, sắt, nhôm, thép, đá quý, trân châu, mã não, ngọc phỉ thúy... Đồng bạc, tiền đồng, dao mổ lợn, súng lục, đại bác, xương cốt, vòng ngọc... những sự vật trông thấy hằng ngày này, ngũ hành đều thuộc Kim.
Mộc: những vật chất có cong có thẳng, hướng lên trên, có tính cổ xưa, nhân ái, đều thuộc Mộc như: cây cối, hoa cỏ, đồ vật làm từ gỗ, lược gỗ, lông tóc, thuốc lá...
Thủy: sự vật có tính di động, có khí linh hoạt đều thuộc Thủy như: biển, sông ngòi, hồ nước, nước uống, các loại hoa quả, tôm cá...
Hỏa: những vật chất nhiệt nóng hoặc khí ấm áp đều thuộc Hỏa như: lửa, lò luyện thép, lò gạch, mặt trời, bóng đèn điện, diêm, pháo nổ...
Thổ: phàm là những vật chất có tính thu liễm, đôn hậu, giản dị, chất phác đều thuộc Thổ như: núi, đất đai, tường thành, sa mạc, phòng ốc, đường sá, cát, đồ gốm, bùn...
Tổ Gia dạy chúng tôi quy luật ngũ hành tương sinh là: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Thế nào là Thủy sinh Mộc? Thực vật muốn sinh trưởng được thì không thể thiếu nước; người nông dân trồng hoa màu, hoa màu muốn tốt tươi thì phải tưới tắm; các bà các cô thích trồng hoa cây cảnh đều biết tầm quan trọng của việc tưới nước đúng giờ... Đây là những sự việc quá đỗi bình thường, nhưng đều hàm chứa nguyên lý Thủy sinh Mộc.
Vì sao Mộc lại sinh Hỏa? Gỗ có thể đốt cháy, người xưa đều dùng củi để sưởi ấm, nấu ăn, mặt khác người thượng cổ cũng lấy lửa bằng cách dùng hai thanh gỗ cọ sát vào nhau; thời cổ đại, dường như gỗ là vật liêu duy nhất sinh ra lửa. Nguyên lý Mộc sinh Hỏa không cần nói cũng hiểu.
Vì sao Hỏa sinh Thổ? Cây cỏ đốt cháy hết thì sinh ra tro than, cuối cùng dần dần tan ra thành bùn đất. Người vùng núi đốt rừng làm rẫy chính là vận dụng nguyên lý này.
Vì sao Thổ sinh Kim? Đó là bởi khoáng sản kim loại, ngọc, phỉ thúy đều được khai thác từ lòng đất.
Bốn nguyên lý trên đây, đám tay chân đều dễ dàng hiểu được, duy có nguyên lý Kim sinh Thủy, Tổ Gia lại không giảng, ông nói vui rằng: ai có thể lý giải được vì sao Kim sinh Thủy, ta sẵn sàng nhường vị trí của ta cho người đó.
Thế là đám tay chân bàn tán rôm rả, có người nói vật chất có tính kim vốn là tính hàn, nên có khí chất lạnh, do đó Kim sinh Thủy; cũng có người nói đem kim loại nung chảy có thể được dòng gang thép nóng chảy; người thì nói trong bát quái, quẻ Càn đại diện cho trời, ngũ hành thuộc Kim, nước mưa từ trên trời rơi xuống, do đó Kim sinh Thủy.
Tổ Gia lắc đầu, bảo rằng tất cả đều sai.
Về ngũ hành tương khắc, Tổ Gia giảng giải cho chúng tôi càng sinh động hơn, ông có thể đem những hiện tượng bình thường nhất để giảng giải cho chúng tôi hiểu những đạo lý vô cùng cao thâm. Nguyên tắc căn bản của ngũ hành tương khắc là: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
Vì sao Kim khắc Mộc? Một cái cây nhỏ tốt tươi, một chiếc rìu bổ xuống, rồi thêm vài nhát nữa liền đứt đoạn đổ gục xuống. Rìu được làm từ kim loại, đây chính là Kim khắc Mộc.
Vì sao Mộc khắc Thổ? Một mảnh đất vuông vức, một cọc gỗ được đóng xuống, lập tức đất nứt toác ra. Người xưa đóng cọc gỗ buộc gia súc, dựng lều bạt đều vận dụng nguyên lý Mộc khắc Thổ, hạt giống thực vật nảy mầm, đội đất mà lên, cũng nói lên nguyên lý này.
Vì sao Thổ khắc Thủy? Tục ngữ có câu: “Giặc đến tướng chặn, nước dâng đất ngăn” chính là nói đến nguyên lý này. Đất có tính hút nước rất mạnh, nếu xảy ra lũ lụt, cách tốt nhất là dùng đất để be bờ dẫn dòng và đắp đê chặn lũ.
Vì sao Thủy khắc Hỏa? Điều này càng dễ lý giải: khi xảy ra hỏa hoạn, thông thường đều dùng nước để dập lửa.
Vì sao Hỏa khắc Kim? Đặc tính của kim loại là cứng, nhưng dù cứng thế nào chăng nữa, chỉ cần nung với nhiệt độ thích hợp là đều có thể nóng chảy, đó là thuộc tính khiến nó trở nên như vậy.
Nay Tổ Gia đem lý luận này áp dụng với Đới Lạp. Tổ Gia có tính toán của riêng mình, ông muốn mượn cơ hội này để báo thù cho Vương A Tiều. Người tinh thông âm dương ngũ hành đều biết xem tướng số giống như khám bệnh vậy, nếu chẩn đoán sai, người ta cần bổ sung Thủy, anh lại đem bổ sung Hỏa, đó khác nào kê sai vị thuốc, sẽ khiến bệnh tình nặng hơn, phản ánh trên vận mệnh chính là gặp vận rủi lớn! Tổ Gia cố ý nói bát tự thiếu Thủy của Đới Lạp không thể dùng Thủy để bổ khuyết, trái lại phải dùng Thổ, đây là ông muốn làm mất đi sự cân bằng trong bát tự của hắn, nhằm đẩy hắn vào chỗ chết.
Đối với người ngoại đạo, cách làm này thật giống như một trò đùa, nhưng Tổ Gia lại tốn không ít tâm sức vào nó, dày công lập bẫy, khổ luyện kỹ năng biện luận. Nhưng suy nghĩ một cách tỉ mỉ, thầy tướng số ngoài cách này ra, còn có cách nào khác nữa đây? Đó chính là nỗi bi ai của thầy tướng số, và cũng là sự thâm hiểm của ông.
Tổ Gia nói xong, âm thầm quan sát Đới Lạp. Đới Lạp chớp mắt không nói.
Tổ Gia lại nhồi thêm một câu: “Đây chỉ là kiến giải riêng của bỉ nhân, Đới Tướng quân hãy cân nhắc tham khảo, không nhất thiết tin cả.”
Đới Lạp chung quy vẫn là Đới Lạp, cái tính hồ nghi của hắn lúc này lại phát huy tác dụng, đột nhiên hỏi: “Tiên sinh xem mệnh đào hoa của ta thế nào?”
Người xưa xem bát tự thường đề cập đến thuật ngữ “mệnh Đào hoa”, “Đào hoa sát”, “kiếp Đào hoa”, người đến xem bói cũng thường hỏi thầy rằng: “Thầy xem giúp tôi phải chăng có mệnh Đào hoa?” Từ “đào hoa” này được gán cho quá nhiều màu sắc thần bí. Kỳ thực, “Đào hoa” chỉ là một Thần sát trong bát tự. Người xưa luận về tướng mệnh, ban đầu lấy ngũ hành sinh khắc của can chi trong bát tự làm nền tảng, sau này trải qua quá trình diễn biến của lịch sử, không ít thuật sĩ phong kiến thêm thắt những điều đầy màu sắc mê tín, “Đào hoa” chính là một trong số đó.
Trong hệ thống Thần sát bát tự, Đào hoa còn gọi là “Hàm trì”, là nơi tắm rửa của các tiên nữ trên trời. Người xưa còn nói: Nhật xuất phù tang, nhập, vu hàm trì. Nếu trong bát tự có Thần sát này, gọi là mệnh có Đào hoa. Vậy tác dụng của Đào hoa là gì? Người xưa cho rằng, Đào hoa có hai tầng ý nghĩa, nếu bát tự tổ hợp tốt, chủ về xinh đẹp, thông minh, đa tình, có mối quan hệ tốt với người khác giới, hôn nhân mỹ mãn; còn nếu bát tự tổ hợp không tốt, chủ về tính cách phong lưu, dễ thay đổi tình cảm, dâm đãng, trắc trở trong hôn nhân; nếu phạm Đào hoa sát, còn có thể chết vì tình. Do đó, mệnh có Đào hoa rốt cuộc là tốt hay xấu, còn phải xem tổ hợp bát tự cụ thể.
Cách phán đoán mệnh Đào hoa rất đơn giản, người xưa có câu khẩu quyết rằng:
Thân Tý Thìn Đào hoa tại Dậu,
Dần Ngọ Tuất Đào hoa tại Mão,
Tỵ Dậu Sửu Đào hoa tại Ngọ,
Hợi Mão Mùi Đào hoa tại Tý.
Luận theo Niên trụ*, phàm là người tuổi khỉ (Thân), tuổi chuột (Tý), tuổi rồng (Thìn), trong địa chi của bát tự xuất hiện chữ “Dậu”; người tuổi ngựa (Ngọ), chó (Tuất), hổ (Dần), trong địa chi bát tự xuất hiện chữ “Mão” gọi là mệnh mang Đào hoa. Hai câu còn lại tương tự.
Trong tử vi, bát tự được tổ hợp thành tứ trụ (bốn trụ) mỗi trụ là một cặp thiên can địa chi, bao gồm: Niên trụ, Nguyệt trụ, Nhật trụ, Thời trụ.
Ví dụ: người tuổi khỉ, sinh vào tháng Dậu (tháng 8 âm lịch), chính là gặp Đào hoa, hay sinh vào giờ Dậu buổi chiều (khoảng 5-7 giờ chiều), cũng là mệnh gặp Đào hoa.
Nhiều đại sư Dịch học trong lịch sử đã lên tiếng phê phán gay gắt những lời bói toán mang đầy màu sắc mê tín này, họ cho rằng những thứ cặn bã này phải quăng vào sọt rác từ lâu rồi. Nhưng đến nay, nhiều thuật sĩ vẫn dùng nó để xem tướng số.
Nay Đới Lạp hỏi Tổ Gia về mệnh Đào hoa, với mưu trí lão luyện, Tổ Gia đương nhiên không xuất chiêu theo cách thông thường.
Tổ Gia bấm quẻ, gật gù liên tục, sau đó mỉm cười, cao giọng nói: “Đới Tướng quân anh tuấn uy phong, người phụ nữ của ngài tất xinh đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nếu không phải con nhà danh môn thì cũng là minh tinh màn bạc.”
Đới Lạp nghe rồi thốt lên: “Thật lợi hại!” Hắn thầm yêu Hồ Điệp - minh tinh của Bến Thượng Hải đã lâu, hạ quyết tâm không có được nàng thề không từ bỏ, đây là bí mật hắn cất giấu tận đáy lòng. Hắn đâu biết rằng, việc hắn phái đặc vụ ngầm đi điều tra Hồ Điệp từ lâu đã bị Phùng Tư Viễn đem ra làm truyện cười khi ôm ấp Giang Phi Yến. Rốt cuộc mấy năm sau, tại Trùng Khánh, hắn cũng ẵm được đệ nhất mỹ nhân Dân Quốc - Hồ Điệp khi đang lâm nạn, “minh chứng” cho câu nói trên của Tổ Gia.
Đến lúc này, Đới Lạp trở nên do dự, hắn do dự là nên chăng tiến cử Tổ Gia với Tưởng Giới Thạch. Hắn đứng trước hai mối băn khoăn: thứ nhất, ông thầy này bói chuẩn như vậy, ngộ nhỡ bói ra cái dã tâm của hắn, khiến lão gia* nghi ngờ, há chẳng phải rước phiền phức vào người ư? Mà trong Quân thống bang phái nhiều như rươi, biết bao kẻ muốn lật đổ mình! Lúc này mà để lộ ra, e rằng khó giữ được cái mạng. Thứ hai, lôi kéo người này ở bên cạnh mình há chẳng phải tốt hơn đem cúng cho lão gia, gặp lúc nguy cấp, bói một quẻ, vừa có thể bảo vệ bản thân, gặp hung hóa cát, lại có thể nhờ vào sự chỉ điểm của ông ta mà bày mưu hiến kế thể hiện trước mặt lão gia, chiếm được lòng tin, há chẳng phải nhất cử lưỡng tiện ư?
Chỉ Tưởng Giới Thạch.
Lúc đó, Đới Lạp với vây cánh chưa thực sự lớn mạnh ráng sức suy nghĩ.
Mọi việc đều nằm trong dự liệu của Tổ Gia và Giang Phi Yến, đây chính là nguyên nhân vì sao Giang Phi Yến khăng khăng bảo Tổ Gia đi gặp Đới Lạp. Giang Phi Yến quá hiểu quy luật trong quan trường. Mấy trăm năm nay, Việt Hải Đường gây dựng nhiều mối quan hệ vô cùng sâu rộng trong triều đình, từ Đại Thanh đến Dân Quốc, Hoàng đế, thái giám nghĩ thế nào; Tổng thống, Tướng quân nghĩ ra sao, các nữ A Bảo đều nắm rất rõ.
Cuối cùng, Đới Lạp đứng dậy bỏ đi.
Tổ Gia thở phào một tiếng: hôm nay có thể giữ được danh hiệu “Đệ nhất tướng số Giang Hoài”, không gây nghi ngờ cho Đới Lạp, phái Giang Tướng tạm thời an toàn; lại tránh không dính dáng vào mâu thuẫn quân thần giữa Tưởng Giới Thạch và Đới Lạp. Còn Đới Lạp quay về báo cáo với Tưởng Giới Thạch thế nào chẳng cần nói cũng rõ, tóm lại Tưởng Giới Thạch sẽ không gặp Tổ Gia.