Đường khẩu của Tổ Gia mở cửa trở lại.
Một ngày nắng ráo, trên phố ngựa xe đồng như mắc cửi, Tam Bá đầu ngồi nghiêm trang xem tướng số ngay mặt chính của tiệm, bỗng có một người đàn ông trung niên đội mũ nỉ màu đen đi đến.
Người này nhìn trước ngó sau như đang tìm gì đó.
Tam Bá đầu đưa mắt ra hiệu cho tên tay chân bên cạnh: “Ra xem xem.”
Tên tay chân đi ra, vỗ vai người đó: “Tiên sinh, muốn xem tướng phải không?”
Người đó mỉm cười: “Không, không, tối tìm người quen.”
“Ông tìm ai?” Tên tay chân hỏi.
Người đó quan sát một lượt, lắc đầu, mỉm cười nói: “Cậu còn nhỏ, e là cũng không biết người này.”
Tên tay chân nghe vậy trong lòng bực bội, nhưng đám A Bảo trong đầu luôn có sẵn chủ ý lừa đảo, hắn nhanh trí nói: “Ông nói rất đúng, tiểu nhân mới mười mấy tuổi đầu, kiến thức có hạn, nhưng ông có thể nhờ sư phụ tôi xem cho một quẻ, bói xem người ông cần tìm đang ở đâu. Nếu không bến Thượng Hải rộng lớn thế này, ông tìm thế nào đây?”
Người đó mắt sáng lên: “Có chuẩn không?”
“Bói chuẩn hay không cứ xem thì biết! Mời vào trong!” Tên tay chân miệng lưỡi dẻo quẹo, điệu người đó vào.
Tam Bá đầu ngồi trong tiệm nghe rõ mồn một, thầm nghĩ: mẹ kiếp, thằng này có tiền đồ đây.
“Tiên sinh muốn tìm người ư?” Tam Bá đầu cười hỏi.
“Ừm.” Người đó gật đầu.
“Là nam hay nữ?”
“Nam.”
“Bao nhiêu tuổi?”
“Khoảng 45 tuổi.”
“Ừm,” Tam Bá đầu gật đầu nói, “là một người bạn cũ, phải không?”
“Đúng đúng đúng!” ông ta xúc động, đáp liền ba tiếng.
Tam Bá đầu cười thầm trong bụng: đương nhiên là bạn cũ rồi, nếu không ông tìm người ta làm gì? Ha ha, con gà này thật đáng yêu.
Tam Bá đầu nói tiếp: “Người đó có ơn với ông...”
“Quá đúng luôn!” Người đó sửng sốt, thiếu chút nữa là đứng bật dậy.
Tam Bá đầu mừng húm: hẳn là có ơn, nếu có thù oán, ông đã chẳng mang bộ mặt đó vào đây.
Ông ta đã vào tròng của Tam Bá đầu, không kìm được nữa bèn tự mình nói: “Người này là đồng hương của tôi, tôi chỉ biết rằng ông ấy ở Thượng Hải, hình như cũng hành nghề như các ông đây, là một đại sư. Mười mấy năm trước ông ấy còn về quê tế lễ tổ tiên, sau đó quân Nhật đánh đến thì bặt vô âm tín...”
Câu nói này khiến Tam Bá đầu giật mình: “Đại sư sao? Vậy ông có biết tên ông ấy không?”
“Nhỏ gọi là Quán Sinh, tên chính là Thành Minh, họ kép Thượng Quan...”
Tam Bá đầu toát mồ hôi lạnh, đưa mắt ra hiệu, tên tay chân vội đóng cửa tiệm lại. Sau đó Tam Bá đầu và tên tay chân nhất tề xông lên trói người này lại.
Ông ta hoảng sợ kêu lên: “Làm gì vậy? Làm gì vậy?”
Tam Bá đầu lấy một dải lụa nhét vào mồm ông ta, rồi nói với tên tay chân: “Mau gọi Tổ Gia đến đây!”
Tổ Gia đang ngồi uống trà trong phủ, bỗng thấy tên tay chân hấp tấp lao vào: “Tổ Gia, có chuyện rồi!”
Tổ Gia đặt tách trà xuống, cùng tên tay chân đến tiệm của Tam Bá đầu. Hai người nhìn quanh, thấy không có người theo dõi thì mới đẩy cửa bước vào.
“Chính là người này!” Tam Bá đầu chỉ vào người đàn ông đội mũ đen nói.
Tổ Gia cúi xuống nhìn kỹ, toàn thân run lên: “Ngai Phúc!”
Vừa thấy Tổ Gia, người đó nước mắt tuôn rơi, ra sức ú ớ kêu lên.
“Mau! Mau thả ông ấy ra!”
Tam Bá đầu và tên tay chân ngẩn ra: “À ờ... vâng, vâng!”
Sau khi được cởi trói, người này ôm chầm lấy Tổ Gia, khóc nức nở: “Quán Sinh, em tìm được anh rồi!”
Mắt Tổ Gia đỏ lên: “Người anh em, từ từ hẵng nói...”
Tam Bá đầu gãi đầu gãi tai không hiểu chuyện gì. Tổ Gia giới thiệu: “Đây là người anh em đồng hương Ngai Phúc của ta, chúng ta lớn lên cùng nhau, hai cậu phải gọi là chú Ngai Phúc!”
Một con gà bỗng chốc biến thành bậc cha chú, Tam Bá đầu chưa thể quen ngay được: “Ồ, chú... Ngai Phúc.”
“Năm xưa già trẻ lớn bé nhà ta chết thảm, ông nội, bà nội, mẹ và anh trai ta đều do một tay Ngai Phúc mai táng...” Tổ Gia nói thêm.
Nghe câu này, Tam Bá đầu và tên tay chân lập tức quỳ xuống, gọi to một tiếng: “Chú Ngai phúc, xin nhận của vãn bối một lạy!”
Ngai Phúc chưa từng gặp tình huống này, hốt hoảng nói: “Đừng! Đừng! Các vị... nói gì thế... mau... mau đứng dậy!”
“Đi, về nhà nói chuyện.” Tổ Gia vỗ vỗ vai Ngai Phúc, rồi sau đó quay sang Tam Bá đầu và tên tay chân vẫn đang quỳ, “Lão Tam, cùng về luôn đi.”
“Vâng, Tổ Gia.”
Về đến phủ đệ, Tổ Gia đích thân pha trà cho Ngai Phúc.
Ngai Phúc ngắm nghía căn phòng rộng rãi sáng sủa của Tổ Gia, ngượng nghịu cười mãi không thôi: “Nhà anh to thật, đẹp thật đấy.”
Lúc sau Ngô quản gia bê điểm tâm và hoa quả lên, Tổ Gia tự mình lấy một miếng bánh hoa quế đưa cho Ngai Phúc: “Người anh em, ăn bánh đi... đừng nhút nhát thế...”
Ngai Phúc ngượng nghịu đón lấy, rồi đưa lại cho Tổ Gia: “Anh, anh ăn... anh ăn trước đi.”
Tổ Gia mỉm cười đẩy lại, rồi tự lấy một miếng đút tọt vào miệng: “Chúng ta cùng ăn!”
Tam Bá đầu biết Tổ Gia không bao giờ ăn đồ ngọt, những thứ này đều dùng để tiếp khách, hôm nay để Ngai Phúc được tự nhiên, ông mới ăn trọn cả miếng bánh, xem ra Tổ Gia và lão nhà quê này tình cảm không thường đâu.
“Lão Tam, cậu cũng ăn đi!” Tổ Gia nói.
“Thôi, thôi, cám ơn Tổ Gia.” Tam Bá đầu nghĩ thầm: thứ này có gì ngon chứ!
“Sao?” Tổ Gia liếc xéo.
Tam Bá đầu rụt cổ, trộm nghĩ: mình thầy ăn không được sao, lại còn kéo thêm mình vào! Thế rồi đành phải lấy một miếng, miễn cưỡng bỏ vào mồm.
Ngai Phúc thấy mọi người đều ăn, cũng không ngại ngùng nữa, liền ăn lấy ăn để.
Ăn xong một hồi, Tổ Gia lại mời uống trà, Ngai Phúc uống liền mấy hớp, súc sòng sọc rồi nuốt ực luôn. Tam Bá đầu thấy vậy suýt chút nữa thì ọe ra.
“Anh à, mấy năm nay anh đi đâu vậy? Mười mấy năm trước anh về quê để lại cho em một mẩu giấy, nói có việc gì cứ theo địa chỉ này đến Thượng Hải tìm anh... Năm kia em đến Thượng Hải, đâu đâu cũng thấy người Nhật, em sợ không dám vào thành phố. Sau khi quân xâm lược bị đuổi đi rồi, em tìm đến địa chỉ ghi trên giấy, nhưng ở đó đều là tiệm quần áo, là nơi buôn bán... Đây là lần thứ tư em đến Thượng Hải tìm anh, lộ phí đều do bà con họ hàng góp lại...” Nói đến đây, giọng Ngai Phúc lại run run.
Tổ Gia thở dài một tiếng: “Chú à, chuyện dài lắm, mấy năm này anh đều không ở Thượng Hải... Ôi, một lời khó kể hết được... mà chú tìm anh có việc gì vậy? Cứ nói đi, đừng ngại!”
“Anh à... ” Cuối cùng Ngai Phúc không kiềm chế được nữa, nước mắt lưng tròng, “từ đường ở quê bị máy bay Nhật thả bom nổ tung rồi! Ngôi từ đường 300 năm tuổi của gia tộc Thượng Quan bị phá hủy hoàn toàn! Không những thế, năm nay hạn hán to, không thu hoạch được hạt lúa nào, các cụ đều nói đó là do phong thủy từ đường tổ tiên bị phá hỏng, bài vị tổ tiên và gia phả chẳng còn, đời chúng ta bị tuyệt tử tuyệt tôn rồi...”
Tổ Gia nghe vậy lòng đau như cắt, nhớ đến mộ tổ bị bọn Tả Vịnh Thiện phá hoại, tim ông quặn thắt từng cơn.
“Anh à, lần này em đến là nhận sự ký thác của bà con họ hàng, mọi người đều nói anh ở thành phố có vai vế, có tiếng tăm, còn là đại sư nữa. Xem xem... xem xem có thể quyên góp chút tiền... xây dựng lại từ đường?...” Ngai Phúc nói.
Tam Bá đầu thoạt nghe hiểu ngay: hóa ra đến xin tiền! Tổ Gia tuy là người đứng đầu Đường khẩu, nhưng tiền đều do các anh em vất vả kiếm về, hơn nữa hài cốt cha mẹ Tổ Gia đã bị thất tán, đâu cần phải giúp bọn họ xây lại từ đường chứ!
Nghĩ đến đây, Tam Bá đầu thu hết can đảm nói một câu: “Ôi... chú Ngai Phúc à, tấm lòng của chú Tổ Gia nhà chúng tôi rất hiểu, kỳ thực ông còn đau lòng hơn các chú gấp bội, từ đường nhà các chú tuy bị phá, nhưng mộ tổ vẫn còn, chỉ cần dựng lại từ đường, mỗi nhà lập lại bài vị là có thể như xưa... Đáng thương cho Tổ Gia nhà chúng tôi... hài cốt lão thái công, lão tổ mẫu đều không còn, lập bài vị suông phỏng có ý nghĩa gì, nghĩ đến là tôi thấy đau lòng thay cho Tổ Gia...” Tam Bá đầu vờ chấm chấm nước mắt, chờ Tổ Gia lên tiếng.
Lời của Tam Bá đầu mang hai hàm ý: thứ nhất, nhắc Tổ Gia không cần phải quyên tiền đóng góp xây dựng từ đường; thứ hai, trách móc đám bà con họ hàng và Ngai Phúc ngay cả việc chăm nom mộ phần mà cũng không làm nổi, lại còn vác mặt đến xin tiền.
Tổ Gia nhìn Tam Bá đầu, sau đó bưng tách trà lên, uống một hớp, nói: “Ta sinh là người gia tộc Thượng Quan, chết làm ma gia tộc Thượng Quan, nếu không có gia tộc Thượng Quan huyết mạch truyền đời, sao có Quán Sinh ta ngày hôm nay? Gia phụ vốn xuất thân hàn vi, sau bỏ nghiệp văn theo nghề buôn bán, gia cảnh mới dần khá lên. Con người bất luận đi đến đâu, sống như thế nào, đều không được quên gốc gác... Còn việc hài cốt cha mẹ ta bị thất tán, âu cũng là số kiếp...”
Nghe đến đây, Ngai Phúc bỗng chen ngang: “Anh à, hài cốt ông nội, bà nội, chú, thím và anh cả có bị mất đâu?”
Tổ Gia sững người, tay bê tách trà ngưng lại giữa chừng, thất thần nhìn Ngai Phúc. Tam Bá đầu cũng không hiểu ra sao, sửng sốt nhìn Ngai Phúc.
“Anh không biết gì sao?” Ngai Phúc nói tiếp, “Ôi, cũng phải thôi, anh đi đâu chẳng biết! Mấy năm trước đánh nhau liên miên, phe nào đánh với phe nào chúng ta cũng chẳng biết. Tóm lại, ở quê ta luôn có quân đội đi qua, lúc thì quân trung ương, khi thì quân đông bắc, rồi đến quân Tứ Xuyên, quân Nhật, tốt xấu đủ cả, quân tốt đến cùng lắm là xin chút đồ ăn nước uống, quân xấu đến thì phiền phức rồi, chúng hết cướp bóc lại bắt bớ phụ nữ; còn có đám bại binh, không có gì để cướp thì nổ mìn phá mộ, trộm đồ tùy táng. Sau này, đội trưởng an ninh đã bàn bạc với trưởng lão của các gia tộc, âm thầm di dời mộ tổ các nhà đi nơi khác, mộ mới không đắp thành gò nên khó có thể nhận ra đó là khu mộ, bởi bên trên vẫn trồng hoa màu bình thường, còn khu mộ cũ vẫn giữ nguyên, chỉ có điều bên dưới không phải là hài cốt tổ tiên, mà là xương lợn, dê, không nhìn kỹ thì chẳng nhận ra được!”
Mắt Tổ Gia sáng bừng.
Ngai Phúc ngừng lại một chút, gãi gãi đầu nói tiếp: “Nhưng cũng thật nguy hiểm. Đêm hôm di dời mộ, em đẩy chiếc xe đẩy nhỏ, vừa bọc hài cốt ông bà nội, chú thím xong bỗng thấy một đám người đen ngòm xuất hiện. Mọi người đều hoảng sợ, lại gần thì ra là đám người chạy nạn, họ tưởng trên xe chúng em là đồ ăn được, liền xông đến cướp. Bà con không cho động vào, thế là đánh lộn lẫn nhau, em liều mạng ôm chặt hài cốt chú thím, họ liền dùng đá đập vào đầu em. Sau đó đội trưởng an ninh lấy súng bắn một phát chỉ thiên, họ mới bỏ chạy!” Nói đến đó, Ngai Phúc cúi đầu, bỏ cái mũ nỉ xuống, “Anh xem này, đây là vết sẹo bị đánh đêm đó, mất một mảng thịt, nhẵn thín không mọc được tóc. Ha ha, nên bây giờ em phải đội mũ để che đi...”
Tổ Gia đứng dậy xem mảng da nhẵn thín trên đầu Ngai Phúc, rồi ôm chặt lấy người anh em đồng hương.
“Chú liều mạng quá...” Tổ Gia vỗ lưng Ngai Phúc, cố kìm cho nước mắt không trào ra.
Ngai Phúc cười ngây ngô: “Anh à, anh quên rồi sao, mạng sống cả nhà em là do thím ban cho! Năm đó cha em qua đời, trong nhà không có nổi một đồng, bèn đến nhà địa chủ vay lãi, sau này lãi mẹ đẻ lãi con không thể trả nổi, địa chủ cho người đến nhà đòi nợ, còn cho người đi quật mộ cha em, mẹ em liều mạng với bọn chúng, bị chúng đánh gãy chân. Thế rồi... thế rồi nhờ thím bỏ tiền ra trả hộ, chủ nợ mới bỏ qua. Sau đó mẹ em nói với thím rằng số tiền này e là không thể trả ngay cho bà được, thím nói khi nào có thì trả cũng được, nhưng... nhưng chưa kịp đợi đến khi em có tiền trả... thím... thím đã...” Nói đến đó, Ngai Phúc bật khóc.
Nhớ đến người mẹ hiền từ của mình, Tổ Gia cũng không nén được nữa, nước mắt rơi lã chã.
Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo, đây là quy luật ngàn xưa không đổi. Mẹ Tổ Gia sinh thời làm nhiều việc thiện, chết đi vẫn phù hộ cho con cháu, Tổ Gia vốn đã tuyệt vọng, ở một đất nước có quan niệm tông tộc vô cùng sâu sắc này, một người đàn ông mà mộ tổ không còn thì đi đến đâu cũng chẳng thể ngẩng đầu lên được. Ngai Phúc đến khiến Tổ Gia như được hồi sinh.
Tin tốt lành này như trời ban cho cả Đường khẩu! Đã lâu lắm rồi các anh em mới thấy nụ cười xuất hiện trên gương mặt Tổ Gia. Đường hội cũng nhất trí thông qua: xuất ngân lượng khởi công xây dựng từ đường.
• • •
Hôm khánh thành từ đường, Tổ Gia đích thân viết sáu đôi liễn, tính từ hai bên cửa chính, cho đến hai bên phả hệ, lần lượt là:
Đôi thứ nhất: Thiên chi quy nhất bản, vạn gia tổng đồng nguyên;
Đôi thứ hai: Thượng Quan bách thế bất dịch, chưng thường vạn cổ như tư;
Đôi thứ ba: Tổ đức chấn thiên thu đại nghiệp, tông công khải bách thế văn minh;
Đôi thứ tư: Nhân nghĩa lễ trí tín, trung hiếu tiết đức hạnh;
Đôi thứ năm: Trí trung hòa, tộc duệ huyết mạch bản nguyên xuất; Tri vinh nhục, tông môn cốt khí đồng cân lai;
Đôi cuối cùng: Tổ đức tông công lưu bách thế, phụ từ tử hiếu vạn niên trường.
Hôm đó, Tổ Gia đã uống rất nhiều rượu.
Sau khi về lại nhà cũ, ông lăn ra ngủ. Trong giấc mơ, người mẹ hiền từ mỉm cười với ông, kể lại cho ông nghe câu chuyện trong Liễu Phàm tứ huấn.
Hôm sau trở về Thượng Hải, được vài hôm, Tổ Gia lại một mình ra ngoài. Đây là thói quen nhiều năm nay của ông, có lúc đi không dẫn theo đệ tử hay bá đầu, đến Tiểu Lục Tử luôn theo sát bảo vệ cũng không cho theo. Không ai dám hỏi ông đi đâu, càng không dám hỏi ông đi làm gì.
Tổ Gia nhớ đến một người từng là lão bá đầu phúc hậu, trung thành của Đường khẩu, người nay đã nương nhờ cửa Phật - Thanh Phong đại sư Chu Chấn Long.
Kháng chiến 8 năm, Tổ Gia không biết ngôi chùa nhỏ đó có còn hay không, người vẫn còn hay mất. Đôi khi, Tổ Gia cảm thấy mình chỉ có thể luận đàm được với người xuất gia.
Cuối cùng, ông đã thấy lại bóng dáng thân thuộc đó.
“Đại sư có khỏe không?” Tổ Gia chắp tay chào hỏi.
“A Di Đà Phật. Nhờ Tổ Gia nhớ đến, bần tăng vẫn khỏe,” Thanh Phong đại sư quan sát Tổ Gia, “ấn đường sáng sủa, màu sắc sáng nhuận, xem ra có hỷ sự.”
Tổ Gia mỉm cười, nói: “Là nghiệp báo nhân quả vậy.” Rồi chậm rãi kể lại chuyện hài cốt thất tán cho Thanh Phong đại sư nghe.
Thanh Phong đại sư nghe xong, gật gù: “Nhân quả tương báo, như ảnh tùy hình*.”
Nhân quả liên quan với nhau như hình với bóng.
Tổ Gia chợt dâng lên một nỗi thương cảm, bất giác hỏi: “Nói đến nhân quả, có lúc tôi cũng mê muội. Gia mẫu một đời tính tình lương thiện, thích làm việc thiện, tại sao cuối cùng lại bị chết thảm dưới tay cường đạo? Người đáng chết phải là tôi đây...”
“A Di Đà Phật, thứ ông nhìn thấy là quả báo một đời, thứ bần tăng nhìn thấy là quả báo ba đời. Thời nhà Tống, ở Khai Phong có một người tên là Vương Giác, sinh ra trong một gia đình giàu có, từ khi lọt lòng đã bị mù, nhưng bù lại ông ta có tấm lòng vô cùng lương thiện. Năm 30 tuổi, cha mẹ qua đời, sau khi an táng cho cha mẹ xong, ông ta đem toàn bộ số tiền còn lại trong nhà xây cầu cho người dân vùng đó. Trong lúc xây cầu, ông ta bị đá đè gãy cả hai chân, hàng xóm khuyên ông ta đừng nên xây nữa, giữ lại chút tiền mà dưỡng bệnh. Ông ta khăng khăng xây tiếp, cuối cùng cầu cũng xây xong. Nhưng hôm khánh thành cầu, trời bỗng mưa như trút nước, sau một tiếng nổ lớn, Vương Giác bị sét đánh trúng chết ngay tại chỗ. Dân chúng phẫn nộ mắng ông trời: còn có đạo trời không? Ông ta vốn là một người mù, vì xây cầu mà gãy cả hai chân, đúng lúc cầu xây xong lại bị sét đánh chết, ông trời có mắt không vậy? Sau đó sự việc đến tai Bao Chửng. Để xoa dịu nỗi bất bình của dân chúng, Bao đại nhân đích thân lập một tấm bia đá ở đầu cầu, trên bia có viết: Thương thiên vô nhãn, nhân gian hữu tình*. Nhưng Bao đại nhân cũng không sao lý giải được, bèn đến thỉnh giáo một vị cao tăng tên là Trí Ngô. Đại sư Trí Ngô cười ha hả, nói với Bao đại nhân rằng: ‘Mọi người không cần thương xót cho Vương Giác mà nên mừng cho ông ta, bởi người này do tạo nghiệp ở kiếp trước, vốn phải chịu trừng phạt ba kiếp, một kiếp bị mù, một kiếp bị què, một kiếp bị sét đánh, nhưng ông ta một lòng hướng thiện, ông trời cho ông ta trả hết trong một kiếp, được đầu thai làm người bình thường trong kiếp sau!’ Bao Chửng nghe xong, hỏi một cách thẳng thắn: Làm sao biết được đại sư có lừa ta hay không?’ Trí Ngô trả lời: ‘Người xuất gia không dám vọng ngôn. Ba ngày sau, cách phủ Khai Phong 20 dặm về phía Nam, ở thôn Bảo Thiện Đường có một đứa bé sắp ra đời, khi sinh ra sau lưng có một cái bớt, chính là vết sét đánh hôm đó, đứa bé này tương lai ắt là một nhân tài!’ Ba ngày sau, Bao đại nhân đích thân dẫn người đến thôn Bảo Thiện Đường xem xét, khi mở tã lót của đứa bé, thấy một vết bớt bằng ngón tay cái, Bao Chửng khẽ rùng mình, hít sâu một cái...”
Ông trời không có mắt, nhân gian thì có tình.
Tổ Gia nghe xong, gật đầu tâm đắc.
“Tổ Gia, lệnh đường tuy bị kẻ ác sát hại, nhưng đó là bảo vệ ông, giữ được huyết mạch, Tổ Gia nay mới có thể thay trời hành đạo, hành thiện giúp đời, đây chính là thiện duyên,” Thanh Phong đại sư mỉm cười, “nếu không già trẻ lớn bé nhà Tổ Gia đều đã bỏ mạng dưới tay cường đạo rồi cũng nên? Huống hồ bản thân Tổ Gia cũng nhận thấy định luật nhân quả, thiện giả thiện báo, nếu khi còn sống lệnh đường không hay làm việc thiện, vậy ai sẽ mạo hiểm tính mạng bảo vệ hài cốt nhà ông đây?”
Tổ Gia gật đầu: “Đúng vậy, đại sư nói rất có lý, nhưng tôi nay đang làm việc thiện sao?”
Thanh Phong đại sư thở dài một tiếng: “Xem ra, Tổ Gia cũng đã nhận ra sự tai hại của phái Giang Tướng...”
“Đại sư, tôi phải làm sao bây giờ?”
“Tổ Gia sẽ tự tìm được cách, chỉ có điều cơ duyên chưa tới...” Nói đến đây, Thanh Phong đại sư ngừng lại một chút, nhìn dãy núi mênh mông ngoài cửa sổ, thong thả tụng một đoạn Phật kệ:
Nhân thân nan đắc, kim dĩ đắc,
Phật pháp nan văn kim dĩ văn;
Thử thân bất hướng kim sinh độ,
Cánh đãi hà sinh độ thử thân?*
Thân người khó được, nay đã được,
Phật pháp khó hay, nay đã hay;
Thân này không chịu kiếp này độ,
Đợi đến kiếp nào độ thân đây?
Đây như nói cho Tổ Gia nghe, cũng như nói cho bản thân nghe vậy.
Tổ Gia trầm ngâm cúi đầu.
Kể từ đó, Tổ Gia bắt đầu lên kế hoạch hành thiện giúp đời. Sau này, cuối cùng ông cũng đưa được phái Giang Tướng trở về chính đạo, vì tấm lòng hướng thiện của ông cũng giống như Viên Liễu Phàm thoát khỏi sự trói buộc của số mệnh, đạo sĩ tướng số nói ông thọ không quá 50, hơn nữa không có con nối dõi, nhưng ông lại có con trai, hơn nữa còn là quân nhân xuất sắc, còn về thọ mệnh của ông, các anh em đều cho rằng ông thọ 52 tuổi, nhưng giang hồ đồn đoán xôn xao, và đều không có căn cứ chính xác...