Tổ Gia càng nghe càng cảm thấy khó hiểu: “Yến tỷ, rốt cuộc là có chuyện gì?”
Giang Phi Yến hít một hơi thật sâu rồi gọi với lên lầu: “Ra đây đi!”
Tổ Gia nhìn theo, một bóng người từ trên lầu đi xuống, dưới ánh đèn leo lét, bóng người càng lúc càng quen thuộc.
Là cô ấy? Chính là cô nương ấy!
Tim Tổ Gia quặn lên, mắt nhòa đi.
Người đó bước lại, chầm chậm quỳ xuống trước mặt ông, khẽ nói một câu: “Tổ Gia.”
Đã bốn năm rồi Tổ Gia không được nghe giọng nói này; không được thấy bóng dáng này; biết bao lần ông nhớ mong, nghĩ rằng cả đời này sẽ không còn được gặp nữa, mà nay, cô nương ấy lại xuất hiện.
“Tổ Gia...” người này vừa khóc vừa gọi tên ông.
“Pháp Dung.” Tổ Gia nước mắt tuôn rơi.
Tổ Gia từ lâu đã không còn hận Hoàng Pháp Dung nữa, có chăng chỉ còn lại nỗi hổ thẹn trong lòng, ông cũng không biết mình hổ thẹn vì điều gì, hổ thẹn vì tội lỗi của phái Giang Tướng, biến người lương thiện trở nên độc ác, hay hổ thẹn vì sự thị thị phi phi hỗn loạn trong đời khiến con người gần nhau trong gang tấc mà biển trời cách mặt? Ông không nói ra được, không thể biết được. Thời khắc đó, lòng ông ngổn ngang hỗn loạn, việc xưa cũ bao năm cùng ùa về trong tâm trí, Nam Việt cầu thân, giả điên giả dại lập bẫy đại phá tướng sĩ Nhật, bày trò tiệc rượu ngàn chén không say, nức nở trước hoa sau cuộc rượu, thoát chết trong gang tấc trên đảo Chu San... hình ảnh về những ngày xưa cũ cùng với cô nương này cứ chập chờn đan xen trước mắt ông.
Tổ Gia đứng dậy, tự tay đỡ Hoàng Pháp Dung, nhìn thật kỹ nha đầu bốn năm không gặp này.
Hoàng Pháp Dung nước mắt lưng tròng nhìn Tổ Gia, chầm chậm vùi vào lòng ông. Tổ Gia cũng không tránh mà ôm chặt lấy cô, như người cha ôm chặt đứa con gái xa xứ trở về của mình.
Khi đó, Hoàng Pháp Dung mặc sức khóc nấc lên, Giang Phi Yến đứng cạnh cũng nước mắt nhạt nhòa.
“Tổ Gia, thầy gầy đi nhiều quá.” Hoàng Pháp Dung xoa lưng ông nói. Bao năm qua, không khi nào cô không nhớ đến Tổ Gia.
Rất lâu sau, Giang Phi Yến lau nước mắt nói: “Đừng khóc nữa. Con hãy bẩm báo tình hình mấy năm vừa qua đi.”
Hoàng Pháp Dung cũng lau nước mắt, tự tay rót một cốc nước cho Tổ Gia rồi nghẹn ngào hồi tưởng lại những việc đã qua.
• • •
Sau khi đến Nam Dương, Hoàng Pháp Dung cho rằng khó có thể thích ứng được, nhưng nào ngờ đâu đâu cũng có người Hoa sinh sống, họ là dân di cư trước kia, gặp nhau đều nói tiếng Trung, Hoàng Pháp Dung thấy cuộc sống ở đây không có gì quá khó khăn.
Trong huyết quản người Trung Quốc mưu sinh ở Nam Dương vẫn là dòng máu Viêm Hoàng, người Trung Quốc đi đến đâu cũng mang theo văn hóa âm dương bát quái, có cả rút quẻ bói toán.
Ở đây, tài năng của Hoàng Pháp Dung được phát huy triệt để. Hành nghề bói toán, lấy “chuẩn xác” làm nguyên tắc, Hoàng Pháp Dung vận dụng triệt để thiên tư của mình, từng quẻ đều bói rất chuẩn xác. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, hiệu tướng số của Hoàng Pháp Dung nổi như cồn.
Sau này, có một ông chủ hiệu buôn tử sa* nhờ Hoàng Pháp Dung điều hòa phong thủy, không hiểu tình cờ thế nào mà ông ta lại buôn bán phát đạt, bèn sinh lòng ái mộ “thầy tướng số” xinh đẹp, liên tục nhờ người dẫn mối dạm hỏi, nhưng Hoàng Pháp Dung đều từ chối. Cuối cùng ông ta đích thân đến tận nhà cầu hôn, khi đó Hoàng Pháp Dung mới biết ông chủ hiệu buôn này là người gốc Sơn Đông, hai người đàm đạo về nỗi nhớ quê hương cũng như nỗi niềm xa xứ, trò chuyện ngày một tâm đầu ý hợp, từ đó dần tìm được sự đồng điệu trong tâm hồn.
Một loại đất sét, có nhiều ở Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô. Chất đất rất mịn, hàm lượng sắt cao, sau khi nung có màu nâu đỏ, tím đen. Chủ yếu dùng làm đồ trà.
Hoàng Pháp Dung biết mình vĩnh viễn không thể quay về phái Giang Tướng được nữa, sau này cô cũng dần hiểu ra người mẹ nuôi của mình dường như cũng thích Tổ Gia, đây là mối duyên nghiệt ngã của ba người, cô không thể lại đứng giữa ngăn cản, hơn nữa cô càng không còn mặt mũi nào gặp lại Trương Tự Triêm. Khi nỗi sầu ly biệt vơi dần theo năm tháng, Hoàng Pháp Dung bắt đầu dao động, cuối cùng đến một ngày, khi ông chủ hiệu buôn trẻ tuổi đó lại đến cầu hôn, Hoàng Pháp Dung đã gật đầu đồng ý!
Như vậy Hoàng Pháp Dung đã rũ sạch quá khứ, không ai biết cô từng là A Bảo của phái Giang Tướng, cũng chẳng ai hay cô từng si tình, độc ác thế nào, càng không ai biết là cô tái giá. Hoàng Pháp Dung thực sự đã bước trên đường ngay nẻo chính.
Sau khi kết hôn, việc buôn bán của ông chủ đó ngày càng phát đạt. Kháng chiến nổ ra, người Hoa trên khắp năm châu quyên tiền, quyên vật dụng, quyên máy bay, vợ chồng Hoàng Pháp Dung cũng quyên góp một khoản tiền lớn, lúc này đây, Hoàng Pháp Dung đã trở thành một Hoa kiều yêu nước, vô cùng giàu có. Năm 1938, khi Tưởng Giới Thạch gặp gỡ Hoa kiều ở Đông Nam Á, Hoàng Pháp Dung còn bắt tay với Tống Mỹ Linh cùng đi khi đó.
Mà lúc bấy giờ, cô không còn là Hoàng Pháp Dung nữa, mà là Hoàng Liễu Liễu, cái tên mới do cô tự đặt. Nó nghĩa là đoạn tuyệt, là sự kết thúc, đoạn tuyệt dục vọng, đoạn tuyệt những thứ còn chưa đoạn tuyệt. Muốn chấm dứt cái gì, có thể kết thúc điều chi, bản thân cô cũng không biết nữa, tóm lại cô muốn đoạn tuyệt tất cả với quá khứ. Từ đây, bất luận là đối tác trên thương trường, hay là phụ tá Quốc dân Đảng, đều tôn xưng cô là “phu nhân Liễu Liễu”.
Hồ Vạn Hùng, chồng Hoàng Pháp Dung cũng trở thành Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Thương nhân gốc Hoa tại Nam Dương, tích cực kêu gọi người Hoa trên toàn thế giới chung tay kháng Nhật. Sau khi Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện Trung Quốc, để thực hiện âm mưu cắt đứt viện trợ từ bên ngoài cho Trung Quốc, chúng bắt đầu trù tính kế hoạch đánh chiếm Nam Dương. Sau khi biết được, cơ quan tình báo Anh, Mỹ đã thông báo cho Tưởng Giới Thạch, Tưởng Giới Thạch cử nhân vật số hai của Quân thống là Mao Nhân Phụng báo cho nhân sĩ Hoa kiều ở Nam Dương tạm thời lánh đi để tránh bị người Nhật xử tử.
Sau khi nhận được mật lệnh, những người đứng đầu hội thương nhân gốc Hoa như Hồ Vạn Hùng tức tốc chạy sang Mỹ, Hoàng Pháp Dung cũng đi theo.
Đặt chân lên đất Mỹ rộng lớn, bình yên, Hoàng Pháp Dung sững sờ, kinh ngạc: cùng dưới một bầu trời xanh, bên kia địa cầu thì đang chiến tranh lan tràn, dân chúng lầm than, mà ở đây lại chim ca hoa nở, trời xanh mây trắng, đường nhựa sạch sẽ, quán xá yên tĩnh, giáo đường trang nghiêm, gương mặt ai nấy đều nở nụ cười, cả xã hội vận hành đâu ra đấy. Thời khắc đó, Hoàng Pháp Dung nước mắt tuôn rơi, trong lòng cô khắc khoải nỗi nhớ quê nhà, nhớ Sơn Đông cằn cỗi, nhớ cha mẹ mấy chục năm chưa được gặp mặt, nhớ mẹ nuôi Giang Phi Yến, hơn hết là nhớ Tổ Gia vẫn đang sương gió bôn ba, nhớ đến người chồng cũ Trương Tự Triêm...
Đây không phải quê hương của ta! Không phải cuộc sống của ta! Hương thân phụ lão của ta vẫn đang rên xiết dưới gót sắt của người Nhật! “Ta phải quay về! Ta phải quay về!” Hoàng Pháp Dung bỗng nhiên bật khóc.
“Liễu Liễu! Liễu Liễu! Em làm sao vậy?” Hồ Vạn Hùng hỏi, giọng lo lắng.
“Em muốn quay về.” Hoàng Pháp Dung đã bình tâm trở lại.
“Tại sao? Giờ quay về rất nguy hiểm!” Hồ Vạn Hùng thắc mắc.
“Phu quân...” Hoàng Pháp Dung gục đầu vào lòng chồng, nghẹn ngào nói, “em nhớ nhà.”
“Đợi chiến tranh kết thúc, chúng ta lập tức quay về!” Hồ Vạn Hùng an ủi vợ.
“Đợi chiến tranh kết thúc, liệu người thân có còn không?”
“Điều này...”
“Vậy... anh cùng về với em!” Hồ Vạn Hùng nói.
“Không được! Phu quân đã bị bọn Nhật đưa vào danh sách ám sát, trở về rất dễ bị lộ. Một mình em về sẽ an toàn hơn.” Hoàng Pháp Dung nói.
“Nhưng... nhưng hiện giờ quá nguy hiểm, trong nước nhiều nơi đã rơi vào tay giặc, đâu đâu cũng thấy đánh nhau, em một mình quay về, nhỡ bị người Nhật bắt được...” Hồ Vạn Hùng lo lắng.
“Phu quân, chỉ cần làm cho em một tấm thẻ kiều dân Đức là được.” Hoàng Pháp Dung vô cùng thông minh, trong Thế chiến II, ba nước Đức, Ý Nhật liên minh thành trục phát xít, người Nhật sẽ không giết hại người Đức.
Hồ Vạn Hùng suy nghĩ một lát rồi gật đầu nói: “Nhớ chú ý chăm sóc bản thân, thăm quê xong hãy nhanh chóng quay lại! Anh sẽ đợi mình.”
Một tháng sau, Hoàng Pháp Dung đi qua đường Hồng Kông trở về Nam Việt, đến nơi thì phát hiện Đường khẩu đã chuyển đi, đành quay lại Nam Dương tìm người từng đón mình trốn chạy khi xưa. Người đó lấy ra một bức thư, nói: “Đây là thư Yến nương gửi cho cô, cô đi không để lại tin tức gì nên tôi cũng chẳng có cách nào liên lạc cả.”
Hoàng Pháp Dung đọc thư xong mới biết Việt Hải Đường đã dời đến Quảng Tây, bèn lập tức lên đường đi Quảng Tây.
Một buổi chiều, Giang Phi Yến đang bắt chước Kiều Ngũ Muội làm phép cầu mưa cho dân bản địa. Thu dọn xong rồi trở về Đường khẩu không lâu, bỗng một đệ tử bước vào: “Đại sư bá, quỷ muội đã về!”
“Pháp Dung sao?” Giang Phi Yến sững sờ.
Chưa dứt lời, Hoàng Pháp Dung đã bước vào, hai người chẳng nói chẳng rằng, cứ ôm chặt lấy nhau mà khóc.
Ngày hôm sau, Tổ Gia tìm đến.
Tổ Gia gõ cửa, đệ tử Việt Hải Đường vừa trông thấy ông liền phi vào bẩm báo. Giang Phi Yến cũng giật mình hốt hoảng, bảo Hoàng Pháp Dung tạm lánh đi, nhưng cô nương ta khăng khăng không chịu, nức nở nói: “Con sẽ gặp ông ấy, có chết cũng phải gặp!”
Thấy Hoàng Pháp Dung cứng đầu như vậy, Giang Phi Yến bèn bảo đệ tử ra đuổi Tổ Gia về, sau khi suy đi tính lại, đến tối mới cho người đi mời Tổ Gia, đồng thời dặn chỉ để một mình Tổ Gia đến. Bà sợ nhỡ tin tức lộ ra ngoài, Trương Tự Triêm biết được thì rầy rà to!
• • •
Nghe Hoàng Pháp Dung kể xong, lòng Tổ Gia buồn phiền vô hạn, muốn nói nhưng không biết phải nói gì.
Bên ngoài trời đêm đen thẫm, ánh trăng chênh chếch đầu cành, ngọn đèn vàng vọt khi tỏ khi mờ, ba người không ai lên tiếng, lặng lẽ chờ đợi.
“Tổ Gia,” rất lâu sau, Hoàng Pháp Dung lên tiếng phá tan sự im lặng, “cho con trở về nhé.”
Tổ Gia lắc đầu: “Con đã gột sạch rồi, đó là phúc phận của con.”
“Tổ Gia...” Hoàng Pháp Dung vẫn muốn nói.
“Con không những không nên trở về phái Giang Tướng, mà cũng đừng hành nghề rút quẻ xem tướng nữa, bao nhiêu năm nay, bao nhiêu sự việc còn không ngộ ra ư? Quy về chính đạo, làm việc đúng đắn mới là nền tảng của con người, để rồi giấc ngủ được bình yên, tâm trí được thảnh thơi. Mưu tính hại người, lập bẫy lừa đảo, thập tử nhất sinh để kiếm tiền, để rồi tiêu tốn vào những thứ không chính đáng. Nhân tính không bằng trời tính, của ta cuối cùng sẽ thuộc về ta, không phải của ta sớm muộn gì cũng phải buông bỏ, nhân quả tương báo như hình với bóng. Con đã kết hôn với vị Hoa kiều đó, hãy phụ chồng nuôi dạy con cái, nghề tướng số chẳng ai có được phúc báo, bói chuẩn thì tiết lộ thiên cơ, bói không chuẩn làm lỡ mất cơ hội của người khác, làm thế nào cũng là sai trái!” Tổ Gia nói.
Hoàng Pháp Dung gật đầu, sau đó vội hỏi: “Nói như vậy, thầy tướng số trong thiên hạ đều đi sai đường sao?”
Tổ Gia khẽ gật đầu: “Bất luận là thầy tướng số chân chính hay là kẻ mạo nhận, mục đích cũng đều là vì tiền, đều từ chữ tham mà nên. Thật hay giả chẳng qua là lươn ngắn chê trạch dài mà thôi. Thầy tướng số lời ngon tiếng ngọt, nói năng đĩnh đạc, thực chất trong đầu chỉ nhăm nhăm đến túi tiền của khách, có điều công phu biểu diễn có cao có thấp, biết che giấu cảm xúc, mặt không biến sắc khi đứng trước kim tiền thì là bậc đại sư; còn kẻ trông thấy tiền mắt sáng lên thì chỉ là kẻ lừa đảo. Nhưng khi gỡ bỏ lớp mặt nạ đại sư xuống mới biết rằng ông ta còn tham lam hơn, gian trá hơn cả những kẻ lừa đảo! Theo cách nói của nhà Phật, thầy tướng số sau khi chết đều bị đầy xuống địa ngục!” Tổ Gia nhớ đến lời giảng của Bành chân nhân năm xưa.
Những lời của Tổ Gia khiến Giang Phi Yến và Hoàng Pháp Dung bàng hoàng thẫn thờ, nhưng nghĩ kỹ thì quả đúng như vậy. Sau này, Hoàng Pháp Dung trở về Mỹ, năm 1978 quy y cửa Phật, tại thánh địa Phật giáo “Vạn Phật thành” ở Mỹ, cô gặp cao tăng Tuyên Hóa thượng nhân đến từ đông bắc Trung Quốc, vị cao tăng này cũng nói: “Người hành nghề tướng số, kiếp sau sẽ bị đọa vào cõi súc sinh.”
“Vậy... khi nào Tổ Gia sẽ rút? Mẹ nuôi thì sao?” Hoàng Pháp Dung ngập ngừng nhìn Tổ Gia và Giang Phi Yến.
Tổ Gia nhìn Giang Phi Yến, rồi mông lung trông ra ngoài cửa sổ. Trong màn đêm, nỗi lòng của ông lúc này cũng giống như triền núi uốn lượn trập trùng kia vậy, ông không biết phải trả lời thế nào.
“Ôi...” Tổ Gia buông một tiếng thở dài.
“Hay mẹ nuôi và Tổ Gia cùng đi với con, sang bên đó rồi con sẽ nói hai người là... là... dì và dượng của con...” Nói rồi, nước mắt Hoàng Pháp Dung lại lăn xuống gò má.
Giang Phi Yến động lòng, bà đã thực sự mệt mỏi rồi, cũng chẳng còn nơi để đi nữa, từ Quảng Đông đến Quảng Tây, từ Đại Bá đầu lên Chưởng môn nhân, từ trong cục đến ngoài cục, trái tim bà giờ đã nguội lạnh.
“Tổ Gia...” Giang Phi Yến gọi.
Tổ Gia quay đầu nhìn Giang Phi Yến, lúc này ông bỗng trở nên chần chừ, do dự. Lần đầu tiên trong đời, ông nhận thức một cách rõ ràng rằng mình đã sai lầm khi gia nhập phái Giang Tướng!
Thay trời hành đạo, cướp của người giàu chia cho người nghèo, nói thì dễ, làm được rất khó! Con người đều có tâm tư lợi, có tâm tư lợi tất có ý nghĩ tư lợi, nhiều việc không thể khống chế được bản thân. Mấy năm qua, từ đấu đá với hắc bang, hội đạo môn cho tới người Nhật, Quân thống, gia bại nhân vong, tan xương nát thịt, bản thân lang thang không chốn nương thân, các anh em rời xa quê hương, không biết đâu là bờ! Bao nhiêu năm chưa từng có một đêm ngon giấc, lúc nào cũng phập phồng lo lắng, không phải sợ lập bẫy không thành mà là sợ bị ám toán.
Tổ Gia cũng mệt mỏi rồi.
Mới đây thôi, Tổ Gia cũng muốn quay về ngày xưa, trở về với những năm tháng vô lo vô nghĩ, ông hoài niệm sự trong sạch của bản thân khi đó, quyền hành khét tiếng có thể không cần, quyền uy nhất hô bách ứng có thể không cần, ông chỉ cầu bình an, cầu đoàn viên, lấy vợ sinh con rồi yên ổn sống qua ngày.
Đột nhiên, hình ảnh các bá đầu, các anh em bắt đầu chập chờn hiện ra trước mắt, phút chốc Tổ Gia quay lại với hiện thực: “Không phải ta không muốn đi, nếu ta đi rồi, các anh em biết làm thế nào?”
Hoàng Pháp Dung nói: “Tổ Gia, mỗi người một phận, ai cũng có cách sống của riêng mình. Trên thực tế, chẳng ai cứu được ai, chẳng ai quản được ai... mỗi người đều phải đi hết cuộc đời theo quỹ đạo vận mệnh của mình, Tổ Gia chỉ cần đi tốt trên con đường của mình, ắt sẽ không phụ công dưỡng dục của cha mẹ...”
Tổ Gia khẽ gật đầu: “Nói thì nói như vậy, nhưng ai gieo nhân xuống, người đó phải gánh hậu quả. Ta tiếp quản Mộc Tử Liên đã ngót 20 năm trời, bao nhiêu năm nay mọi quyết sách đều do ta trù hoạch, sự sống chết, hợp tan của Đường khẩu đều do một tay ta tạo nên, nhân này gieo xuống, quả đó ta phải gánh chịu...”
Giang Phi Yến thở dài một tiếng: “Ân oán giang hồ khi nào mới dứt đây! Càng ngày càng lún sâu...”
“Chí ít, ta phải chờ đến ngày quân Nhật bị tiêu diệt...” Tổ Gia nói, “chúng giết hại bao nhiêu người dân như vậy, thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách, ta tin rằng chúng nhất định sẽ phải nếm quả ác!”
“Tổ Gia...” Hoàng Pháp Dung vẫn cố xin.
“Pháp Dung, con vốn thông minh nhanh nhạy, lại kiên trì nhẫn nại, ta tin rằng khó có điều gì khiến con gục ngã. Dù ở trong nước hay ở nước ngoài, cuộc sống chắc không thành vấn đề. Duy có điều khiến ta lo lắng, đó là tâm cơ của con quá nặng, nên nhớ người xưa có câu: ‘Cơ quan toán tận thái thông minh, phản tang liễu thân gia tính mạng*!’ Đó giống như âm dương lưỡng nghi, âm cực thì dương sinh, dương cực thì âm sinh, thông minh đến cực điểm tất sẽ phạm sai lầm lớn. Lời ta nói con hiểu chứ?” Tổ Gia nhấn mạnh.
Mưu tính quá thông minh, trái lại sẽ hại đến tính mạng bản thân và gia đình.
Hoàng Pháp Dung biết Tổ Gia ám chỉ đến việc của Bùi Cảnh Long, bèn cúi gằm mặt nói: “Con hiểu! Con hiểu!”
“Ta chỉ hy vọng con bình an quay về Mỹ, cùng chồng sống một đời vui vẻ thuận hòa, chớ nên tính toán với người thân nhất của mình, bằng không sẽ gặp báo ứng đó.”
“Nhưng... con rất nhớ thầy và mẹ nuôi.” Hoàng Pháp Dung khẽ nói.
“Có duyên ắt sẽ gặp lại! Trong lòng có nhau thì xa xôi đến mấy cũng như gần ngay trước mắt, con hiểu chứ?” Tổ Gia nói.
“Con hiểu...” Hoàng Pháp Dung lại giàn giụa nước mắt.
“Sau khi trở về, hãy cùng chồng du thuyết các chính khách Mỹ để viện trợ cho Trung Quốc, có bao nhiêu dốc sức bấy nhiêu. Ở bên đó phải hành thiện giúp đời, làm nhiều việc tốt, dùng phần đời còn lại để chuộc tội sát hại Bùi Cảnh Long!”
“Vâng! Thưa thầy!” Hoàng Pháp Dung đáp.
Ngập ngừng một lúc, cô khẽ nói: “Thầy ơi... con...”
“Còn điều gì nữa?”
“Con muốn... muốn được thấy Trương Tự Triêm.”
Tổ Gia suy nghĩ một lát, rồi gật đầu: “Cũng được, mai ta hẹn cậu ta vào rừng nói chuyện, con nấp một bên, tuyệt đối không được lên tiếng, nếu không...”
“Con hiểu!”
Quá nửa đêm, Tổ Gia ra về. Trong màn đêm tĩnh mịch, Giang Phi Yến ôm Hoàng Pháp Dung trong lòng, hai mẹ con lặng im không nói.
Chiều hôm sau, Tổ Gia cho gọi Tứ Bá đầu Trương Tự Triêm.
“Tự Triêm, ra ngoài đi dạo cùng ta.”
“Vâng, thưa thầy.”
Cho đến tận bây giờ, người mà Tổ Gia thấy có lỗi nhất chính là Trương Tự Triêm. Năm xưa ở Thượng Hải ông bất chấp tất cả, đem người cha làm vật hy sinh để thu nạp anh ta về dưới trướng, lại đánh vào tâm lý khiến anh ta hoàn toàn quy phục. Sau này cảm thấy hổ thẹn trong lòng, ông bèn làm mối hôn sự, không ngờ cuộc hôn nhân này đã hủy hoại cuộc đời của Trương Tự Triêm.
Còn đâu nữa một thư sinh anh tuấn phóng khoáng, văn chương điêu luyện năm xưa? Giờ Trương Tự Triêm đã trở thành người mắc bệnh tương tư, lôi thôi lếch thếch, ngây ngây dại dại, tất cả đều do một tay Tổ Gia gây nên.
Thi thoảng các bá đầu cũng khuyên Tổ Gia: Lão Tứ nay vui buồn thất thường, tinh thần bất định, nếu cứ để anh ta phụ trách đạo cụ lập bẫy e rằng sẽ xảy ra sai sót, chẳng may lỡ mất việc lớn thì tất cả mọi người đều bị liên lụy. Nói cách khác, anh ta không còn thích hợp làm bá đầu nữa.
Tổ Gia rất hiểu từng bá đầu dưới tay mình, ai tính khí thế nào, ai thiện ai ác, ai có tật gì, ông đều rõ như lòng bàn tay.
Đại Bá đầu dũng mãnh vô song, nào là hắc bang, quân Nhật, Quân thống, súc vật chó lợn rắn mèo, một đao chém hết thảy. Còn tính mạng của mình, anh ta lại chưa từng để tâm, đây là điểm đáng quý và cũng là điểm đáng thương của anh ta. Thân thể do cha mẹ ban cho, há có thể đem ra đùa giỡn? Cha mẹ anh ta dưới suối vàng có thiêng, hẳn sẽ không đành lòng.
Nhị Bá đầu can đảm, không biết sợ là gì, những chuyện yêu ma quỷ quái chưa bao giờ dọa nổi anh ta. Trong mắt Nhị Bá đầu, con người chính là bộ xương và đống thịt biết đi mà thôi, nên khi chết đi rồi chỉ còn lại đống thịt bầy nhầy, có thể làm gì được cơ chứ? Nhưng anh ta đâu biết rằng giáo lý nhà Phật có chúng sinh sáu cõi, cáo chết ba năm quay đầu về núi, người chết há không có linh hồn sao? Đào mồ quật xác trời chu đất diệt, Tổ Gia cũng biết Nhị Bá đầu chắc chắn sẽ có kết cục bi thảm, nhưng nghĩ lại, bản thân chẳng phải đã sai rồi ư?
Tam Bá đầu thì rất thông minh, khi một mình hành tẩu giang hồ, anh ta có thể tùy cơ ứng biến, lăn lộn rất tài. Đọc sách nhiều, bách gia chư tử không gì không thông, tam giáo cửu lưu không gì không hiểu, rất biết cách xoa dịu tâm tư Tổ Gia. Nhưng thông minh không đồng nghĩa với trí tuệ, anh ta và Hoàng Pháp Dung có chung một tật: thông minh quá hóa ra thành hại.
Tứ Bá đầu rất thật thà, bản tính chân thành hướng thiện, trong tâm không chút tà niệm, lớn lên trong gia đình gia giáo. Nhưng quá lương thiện cũng là một dạng ngu ngốc. Anh luôn hành thiện tâm mà lại không coi trọng cách thức thì sớm muộn gì cũng bị người khác biến thành trò đùa, cuối cùng không phải làm việc thiện, mà thành ra tội ác. Tứ Bá đầu là người không thích hợp làm A Bảo nhất, Tổ Gia lôi kéo về chính là vì sở trường của anh ta. Từ khi anh ta hứng chịu cú sốc, dần trở nên ngây ngây ngô ngô, Tổ Gia càng thấy có lỗi với anh ta.
Ngũ Bá đầu mưu mẹo quỷ quái, trí nhớ cực tốt, sở trường đoán ý qua lời nói và sắc mặt, chưa từng cãi lời Tổ Gia, cũng chưa bao giờ va chạm với các bá đầu khác. Anh ta nhận thấy trong hàng bá đầu, Tam Bá đầu là người thông minh nhất, do đó suốt ngày bám đít, đáng tiếc là hai người thân thiết quá mức, khiến Tổ Gia đề phòng.
Lục Bá đầu rất mực trung thành, điều này có liên quan đến xuất thân từ bang Búa rìu, từ nhỏ được tiếp xúc với những con người trung can nghĩa đảm, dưới trướng Vương Á Tiều đều là những kẻ không cầu sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm, nhưng nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Sau khi đi theo Tổ Gia, Lục Bá đầu dần trở thành cận vệ của ông.
Hiện nay mọi người đang úp mở phê phán Tứ Bá đầu, Tổ Gia đã nghe ra những ý ẩn khuất này, nhưng ông lại do dự.
Nếu phế bỏ Tứ Bá đầu lúc này, chắc chắn anh ta sẽ phát điên. Đây không phải là vấn đề chức vị, mà là sự sống chết. Tổ Gia đang nghĩ, nghĩ cách làm thế nào để cứu giúp Tứ Bá đầu, hay nói cách khác là làm thế nào để chuộc tội của mình. Thời khắc đó, Tổ Gia hận bản thân, hận chính mình đã hủy hoại cuộc đời một con người.
Tổ Gia và Tứ Bá đầu chậm rãi bước đi: “Tự Triêm à, gần đây sức khỏe tốt hơn chút nào chưa?” Từ khi thiếu vắng Hoàng Pháp Dung, Trương Tự Triêm cả đêm mất ngủ, Tổ Gia phải đích thân kê đơn bốc thuốc, hy vọng anh ta sớm khỏe lại.
“Con khỏe hơn nhiều rồi.” Trương Tự Triêm trả lời.
“Khỏe hơn nhiều tức vẫn chưa khỏe hẳn. Con cũng biết một chút về Đông y, hằng ngày hãy tự xoa bóp bấm huyệt, thả lỏng tâm tư...
“Vâng, nếu có Hoàng Pháp Dung ở đây thì tốt... Hồi đó, cô ấy luôn xoa bóp bấm huyệt cho con trước khi đi ngủ...”
Hoàng Pháp Dung nấp sau bụi cây nghe thấy câu nói đó, nước mắt nghẹn ngào tuôn rơi, vội đưa tay bưng chặt lấy miệng. Giang Phi Yến đứng cạnh chỉ biết ngậm ngùi, lắc đầu thở dài.
“Tự Triêm à, tình yêu là gì? Một đại tài tử như con hãy giải thích cho ta xem.” Tổ Gia bỗng đổi đề tài.
Trương Tự Triêm nghĩ một lát, nói: “Tình yêu là dám hy sinh vì người mình yêu.”
“Ai nói vậy?” Tổ Gia hỏi.
“Plato.”
“Ai cơ?” Tổ Gia không hiểu.
“Ồ,” Trương Tự Triêm mỉm cười nói, “Plato là nhà triết học cổ Hy Lạp, qua đời cách đây hơn hai ngàn năm. Nếu Hoàng Pháp Dung vẫn còn, con nguyện một lần được chết vì cô ấy.”
Nom thấy dáng hình Trương Tự Triêm gầy gò tiều tụy, lại nghe những lời si tình của anh ta, Hoàng Pháp Dung suýt bật khóc thành tiếng, Giang Phi Yến vội kéo gấu áo cô. Lúc này đây, Hoàng Pháp Dung thấy rất có lỗi với Trương Tự Triêm, là người phụ nữ có chồng mà lại thầm yêu Tổ Gia, còn đem chồng mình ra so sánh với Tổ Gia. Khi lập bẫy trên đảo Chu San, điều đầu tiên khiến cô lo lắng không phải là sự an nguy của chồng mà lại là sự an nguy của Tổ Gia. Trương Tự Triêm tuy tính khí không tốt, nhưng tình cảm chân thành, chưa từng một dạ hai lòng. Hoàng Pháp Dung thấy vô cùng hổ thẹn.
“Tự Triêm, Plato nói cũng đúng. Nhưng ta lại nghĩ khác, con xem có lý hay không nhé?” Tổ Gia biết Hoàng Pháp Dung cũng đang lắng nghe.
“Xin thầy chỉ giáo ạ.”
“Chết vì yêu là bậc thứ nhất, sống vì yêu là bậc cao hơn. Nếu thực sự yêu một người thì cho dù có thể cùng nhau đi đến cuối con đường hay không, chỉ cần cô ấy hạnh phúc là đủ. Tình yêu của con chính là khiến cô ấy hạnh phúc, khi cô ấy được hạnh phúc, còn có gì phải hối tiếc nữa? Dù trên trời hay dưới đất, dù là sống hay chết, chúng ta hãy tạm coi như Pháp Dung đã chết, nếu cô ấy ở trên trời có thiêng, nhìn bộ dạng con như vậy, hẳn cô ấy sẽ không vui. Con hãy sống thật tốt, chỉ có như vậy cô ấy mới an lòng được.”
Trương Tự Triêm bỗng dừng bước, ngồi sụp xuống nghẹn ngào. “Nhưng con chưa từng đem lại hạnh phúc cho Pháp Dung, con nhớ những ngày tháng chúng con bên nhau, con ân hận đã không đối xử tốt với cô ấy, nay... nay đã không còn cơ hội nữa rồi...” Nói xong khóc nấc lên.
Trong lùm cây, Hoàng Pháp Dung chực lao ra ngoài, Giang Phi Yến phải giữ chặt lấy.
Tổ Gia cũng dừng bước, nhẹ nhàng nói: “Tự Triêm, ta kể cho con nghe một câu chuyện có thật. Hồi còn nhỏ, cạnh nhà ta có một ông rất yêu thương vợ, nhưng vợ ông ấy không cảm thấy hạnh phúc, bởi họ thiếu tiếng nói chung, tính cách cũng không hợp. Người vợ muốn ra đi, ông ta bèn dùng xích xích vợ lại, hằng ngày đều cơm bưng nước rót, nhưng sau đó không lâu người vợ đã cắn lưỡi tự vẫn. Đến lúc đó ông ấy mới hiểu rằng, thì ra yêu một người không phải cứ chiếm làm của riêng, đó không phải là yêu, mà là sự ích kỷ! Khi quỳ trước mộ đốt tiền vàng, ông ấy nói một câu rằng: ‘Nếu em còn sống, anh nhất định sẽ để em đi, chỉ cần biết em còn trên thế gian này là anh hạnh phúc rồi.’ Sau này, ông ta xuất gia quy y cửa Phật.”
Trương Tự Triêm gạt nước mắt, nói: “Nhưng nay ngay cả Hoàng Pháp Dung còn sống hay chết con cũng không biết. Dù cô ấy đã chết, chí ít con có thể đến trước phần mộ cô ấy khóc một trận cho thỏa!”
Tổ Gia đã nói xong. Những lời này ông nghĩ suốt cả một đêm, đó không chỉ là nói cho Trương Tự Triêm nghe, mà cho cả Hoàng Pháp Dung nữa. Ông phải khiến cho Hoàng Pháp Dung thực sự tỉnh ngộ, thực sự hổ thẹn, như vậy cô ấy mới không còn vương vấn gì với ông nữa, Tổ Gia phải khiến cô ấy một đi không trở lại, sống tốt với cuộc sống mà mình đang có...
Sau đó, Hoàng Pháp Dung lấy toàn bộ tiền bạc mang theo đưa cho Tổ Gia. Thưa thầy, đây là những đồng tiền trong sạch, thầy gửi Tự Triêm giúp con,” nói rồi lại tháo chiếc vòng ngọc trên tay ra, “còn chiếc vòng này, con mua bằng tiền kiếm khi mưu sinh ở Nam Dương, nhờ thầy chuyển luôn cho anh ấy.”
Nói xong, Hoàng Pháp Dung bỗng quỳ xuống: “Tổ Gia, Tự Triêm do một tay thầy dẫn dắt vào phái, Pháp Dung bạo gan thỉnh cầu người một việc, xin hãy cứu anh ấy, không thể để anh ấy tiếp tục chìm đắm như vậy được! Vừa rồi trong rừng thầy cũng đã nói, yêu một người phải khiến cho người ấy hạnh phúc, nếu Tự Triêm cứ tiếp tục như vậy, con ở bên đó cũng sẽ không yên lòng!”
Tổ Gia đỡ cô ấy dậy: “Con yên tâm, ta sẽ cố hết sức.”
“Còn nữa, nếu... nếu đến một ngày chiến tranh kết thúc, con hy vọng... con hy vọng thầy tha cho Tự Triêm một con đường sống, anh ấy... anh ấy không thích hợp với phái Giang Tướng...”
Tổ Gia gật đầu một cách khiên cưỡng.
Đêm xuống, đã đến lúc Hoàng Pháp Dung phải lên đường, sau khi vùi vào lòng Giang Phi Yến khóc một hồi, thì quay sang ôm Tổ Gia, nghẹn ngào nói: “Mẹ nuôi, Tổ Gia... Pháp Dung đi đây!”
Nhìn bóng dáng Hoàng Pháp Dung dần khuất xa, Tổ Gia và Giang Phi Yến cảm xúc đan xen lẫn lộn, màn đêm tối tăm như mực, giống như đời người mông lung vô định, không thấy đâu là bến bờ.
Tâm bệnh phải chữa bằng tâm được, tháo chuông cần tìm người buộc chuông. Tổ Gia suy nghĩ rất nhiều, muốn cứu Trương Tự Triêm vẫn cần bắt đầu từ phụ nữ.
“Yến tỷ, Pháp Dung đi rồi. Tự Triêm ngây ngây ngô ngô, nếu muốn cứu cậu ta, vẫn nên...
Tổ Gia chưa nói hết câu, Giang Phi Yến đã ngắt lời: “Tổ Gia, từ khi Pháp Dung và Tự Triêm xảy ra chuyện, ở Đường khẩu tôi đã ra quy định nữ A Bảo cả đời không được lấy chồng, không thể xảy ra sự việc như vậy nữa, quá đau thương!”
Con đường này xem như tắc tịt, Tổ Gia thở dài chán nản. Nhưng để đánh thức bản tính đàn ông, vẫn phải là phụ nữ, nhất là trường hợp của Trương Tự Triêm, nếu không có người phụ nữ thứ hai bước vào trái tim, e rằng cậu ta sẽ ngày càng điên loạn. Ác nghiệp gây ra khi xưa đều do tham sân si vô cùng vô tận, người anh em của ta nay đã phạm vào chữ “si”, đừng nói đến chuyện bảo cậu ta phối hợp lập bẫy, ngay cả kẻ khác giăng bẫy, cậu ta cũng lơ mơ nhảy vào chứ chẳng chơi. Điều này vô cùng không tốt cho Đường khẩu.
Tổ Gia cảm thấy thật mệt mỏi, từ việc lớn đến việc nhỏ, từ sự tồn vong của Đường khẩu đến chuyện nữ nhi tình trường đều phải quản chặt, nếu không sẽ xảy ra chuyện ngay.
Tâm tư của Tổ Gia bị Tiểu Lục Tử tinh tế phát hiện ra: “Thưa thầy, người có tâm sự ư?”
Tổ Gia nhìn anh ta, nói: “Từ khi chị dâu cậu xảy ra chuyện, lão Tứ cả ngày rầu rĩ, cứ như vậy e sẽ có vấn đề.”
Tiểu Lục Tử xoa xoa đầu, nói: “Thưa thầy, việc này con chẳng thể giúp gì được, chuyện tình cảm nam nữ con không hiểu.”
Tổ Gia liếc nhìn anh ta, lặng im không nói.
Cơm tối xong, Tổ Gia vẫn chẳng nói chẳng rằng. Chu Cẩn bước lại hỏi: “Tiên sinh có tâm sự gì sao?
Tổ Gia gật đầu.
“Tại tôi làm liên lụy tiên sinh ư?”
Tổ Gia vội nói: “Không, phu nhân cả nghĩ rồi. Là người vì anh em của tôi, ba năm trước vợ yêu không may qua đời, cậu ta không sao quên được, nay tương tư đã biến thành bệnh, trong lòng ngẩn ngơ, tôi không biết phải làm sao...
Lời của Tổ Gia vô tình khiến Chu Cẩn mắt ngân ngấn lệ, bà lại nhớ đến Hồng lão hổ.
“Hỏi thế gian tình ái là chi.. Nếu không vì đứa trẻ trong bụng, thì tôi cũng đi theo Tư lệnh từ lâu rồi.”
“Xin phu nhân hãy nén đau thương.” Tổ Gia nói.
“Tiên sinh,” Chu Cẩn gạt nước mắt nói, “nếu muốn quên một người, cách tốt nhất là yêu một người khác, gạo đã nấu thành cơm, không yêu cũng phải yêu, tiên sinh cần phải chuyển sự chú ý của người anh em đó.”
Tổ Gia gật đầu, nhưng nay trong lòng Tứ Bá đầu chỉ nhớ đến một mình Hoàng Pháp Dung, hoàn toàn không để ý đến các cô gái khác, huống hồ làm gì có cô gái nào lại yêu một kẻ điên điên khùng khùng kia chứ?
“Tổ Gia, Bạch Sùng Hy phái người đến cầu kiến.” Tổ Gia đang suy nghĩ thì Tiểu Lục Tử vào bẩm báo.
“Thiết Bản tiên sinh, Bạch Tướng quân có lệnh, mong tiên sinh gấp rút đến Côn Luân quan, bàn kế trấn thủ cửa ải.”
“Được! Ta lập tức đến ngay.”