Đêm trăng mờ gió rít, từng đám lá khô cuộn xao xác trên mặt đất.
Dưới ánh đèn dầu leo lét, Tổ Gia cầm cuốn Tử hồn linh bách đồ nghiền ngẫm một cách chăm chú. Đây là cuốn sách do đích thân nhà văn Lỗ Tấn chỉnh lý và viết lời tựa. Sở dĩ ông thích cuốn sách này là bởi nhân vật chính cũng là một tên lừa đảo vô cùng thông minh, hắn đầu cơ buôn đá quý, có thể đưa nhiều nhân vật từ quan chức đến dân quèn vào tròng của hắn.
Đúng lúc đang say sưa đọc, bỗng có tiếng bước chân gấp gáp đi đến, Tổ Gia nhanh nhẹn thổi tắt đèn, thủ sẵn mấy cây phi tiêu ở tay, nấp sau cánh cửa.
“Tổ Gia, là con.” Một giọng thấp trầm từ bên ngoài vọng vào.
Tổ Gia nghe xong thì biết là Nhị Bá đầu, hít sâu một hơi rồi mở cửa.
“Tổ Gia, xem ai đến này!” Nhị Bá đầu nói, giọng đầy phấn khích.
“Tổ Gia!” Bóng đen phía sau đẩy Nhị Bá đầu ra rồi quỳ mọp xuống đất, vừa khóc vừa nói: “Con tìm được thầy rồi!”
Thì ra là Đại Bá đầu, Tổ Gia đỡ anh ta dậy, hai người ôm chặt lấy nhau, Tổ Gia đấm thùm thụp vào lưng anh ta, nghẹn ngào nói không nên lời.
Tổ Gia thực sự đã trở nên mềm yếu. Từ sau cái ngày anh em thất tán, tiến đồ mù mịt, mỗi ngày ông đều cầu nguyện cho những người anh em của mình, hằng đêm những cơn ác mộng thường tìm đến khiến ông giật mình tỉnh giấc, rồi lại dần chìm vào giấc ngủ mụ mị. Rồi cũng đến một ngày không chịu được nữa, ông bèn sai Hoàng Pháp Dung đến ngôi chùa gần đó thỉnh tượng Quan Âm về, rồi nhang đèn ngày đêm, gửi gắm tâm tư.
Hoàng Pháp Dung và Nhị Bá đầu đều hiểu rằng đây là giai đoạn bi thương nhất trong cuộc đời ông, Tổ Gia cũng là con người, đã là con người thì tất sẽ có nỗi hoang mang, sự sợ hãi. Anh hùng cũng giống như một trang giấy, có thể múa bút thành bức tranh rực rỡ tươi đẹp, khí thế hào hùng, nhưng trong chớp mắt cũng có thể bị chọc thủng xé vụn, rụng rơi lả tả. Tổ Gia đi đến bước đường cùng này, cũng như biết bao anh hùng trong lịch sử, khi đắc ý “cười cười nói nói cũng có thể đốt cháy 80 vạn quân Tào thành tro bụi”, nhưng một khi đã đến hồi mạt vận, khí anh hùng cũng sẽ đứt đoạn, là vương bá cũng phải im hơi.
Thì ra sau hôm cáo biệt Tăng Kính Võ, Tổ Gia cùng Nhị Bá đầu, Hoàng Pháp Dung, Tiểu Lục Tử hóa trang, bí mật quay lại ngoại ô Thượng Hải. Đây vẫn là cách ông thường dùng, nơi nguy hiểm nhất chính là nơi an toàn nhất.
Lần lên đảo lập bẫy, phá hủy cơ quan Đặc vụ Nhật Bản là một nước cờ lớn của Tổ Gia. ở Ngụy Mãn Châu quốc*, trước tiên Tổ Gia đồng ý hợp tác với Tây Điền Mỹ Tử và người Nhật, sau còn mưu đồ tổ chức Hội thi hùng biện Dịch học nhằm quy tụ bọn Hán gian trong các hội đạo môn. Trong khoảng thời gian đó ông liên thủ với Mai Huyền Tử, Bùi Cảnh Long, Tăng Kính Võ lập bẫy trên quần đảo Chu San, mặt khác sai Hoàng Pháp Dung vượt ngàn dặm xuống Vân Nam bắt rắn độc, nên mới có thảm cảnh ngắm thủy triều lên, nước biển trào dâng, rắn độc tràn vào.
Chính quyển bù nhìn do đế quốc Nhật dựng Phổ Nghi lên nhiếp chính.
Trong cái bẫy lần này, chỉ cần một mắt xích phạm sai lầm thì tất cả sẽ xôi hỏng bỏng không, vậy thì Tổ Gia sẽ đi đời, nhưng chết không đáng sợ, điều đáng sợ là tiếng xấu “đệ nhất Hán gian trong giới Dịch học” mãi mãi không bao giờ gột sạch được, nỗi bi ai lớn nhất trong đời người chính là bị hàm oan! Tuy rằng lịch sử rất công bằng, nhưng cũng cần phải có thời gian, Tổ Gia không muốn phải đợi mãi tới trăm năm, ngàn năm sau! Ông buộc phải đánh cuộc! Cũng giống như rất nhiều A Bảo trong lịch sử, vào thời khắc then chốt thì phải dám đánh cược tất cả, thành công thì “được ăn cả”, thất bại thì “chết cũng cam lòng, không uổng tuổi xuân!”
Ông trời có mắt, không phụ lòng người. Nhưng Tổ Gia cũng phải trả cái giá không hề rẻ, trong phút chốc Đường khẩu tan tác, các bá đầu không biết sống chết nơi nào, đám tay chân cũng cho về quê ngay từ tối hôm đầu tiên lên đảo. Lần này Đường khẩu giải tán mà không hề có lý do, nên đám tay chân dù thắc mắc nhưng không dám không theo lệnh của Đại sư bá, mỗi người đều cầm ngân lượng ẩn mình thật kỹ, không có hiệu lệnh không được phép xuất hiện hay qua lại với nhau.
Trước khi lên đảo, có bá đầu hỏi rằng: “Nhỡ ra mọi người chạy tứ tán hết thì làm thế nào?” Đây thực chất là ý hỏi nơi tập hợp, ẩn thân sau khi lên bờ.
Tổ Gia không cho họ biết địa điểm cụ thể mà ra lệnh tập trung ở đầu sông trên đảo, đến được thì đến, không đến được cũng đành mặc theo mệnh trời. Tổ Gia sở dĩ không tiết lộ nơi ẩn nấp của Tăng Kính Võ ở Thiệu Hưng là vì lo nhỡ có người rơi vào tay kẻ địch, không chịu nổi tra khảo cực hình, để lộ tin tức thì tất cả cùng đi đời.
Kế hoạch càng chặt chẽ, tỉ mỉ thì càng tàn khốc. Tổ Gia hiện đã an toàn, nhưng các anh em thì sao? Ông ăn không ngon, ngủ không yên; ban ngày sai Nhị Bá đầu và Hoàng Pháp Dung cải trang vào thành phố để tìm anh em bị thất tán. Sau mấy ngày tìm kiếm khắp nơi, rốt cuộc cũng liên lạc được với Đại Bá đầu.
Tổ Gia nhắm hờ mắt, lắng nghe Đại Bá đầu kể lại chuyến thoát hiểm của mình.
• • •
Hôm đó, sau khi rắn độc tràn vào Viện Giao lưu hữu nghị Dịch học Nhật - Trung, hiện trường phút chốc hỗn loạn. Đại Bá đầu co cẳng chạy thẳng một mạch, vóc người tuy không cao nhưng rất cường tráng, một khi đã chạy thì khó ai có thể hãm lại được, bảy tám người bị anh ta đụng phải bắn sang một bên. Là người đến điểm hẹn đầu tiên, nhưng chưa kịp mừng thì Đại Bá đầu đã thất vọng, bởi anh ta chạy nhanh quá, đến nỗi thuyền tiếp ứng còn chưa kịp tới.
Đại Bá đầu tặc lưỡi chửi đổng: “Mẹ nó chứ!”
Lúc này một chiếc thuyền nhỏ từ xa bơi lại, Đại Bá đầu giang hai tay lao thẳng xuống nước, huỵch một cái leo lên thuyền. Vừa định bảo người chèo thuyền mau chèo đi, chợt nhớ Tổ Gia vẫn chưa đến, sốt ruột lại gọi loạn lên.
Thấp thoáng trên bờ có mấy người chạy đến, là bọn Mai Huyền Tử, Cái Hà, còn có Tam Bá đầu, Ngũ Bá đầu nữa.
“Nhanh! Nhanh! Mau lên đi!” Đại Bá đầu gân cổ lên giục. Lúc này bỗng một âm thanh chói tai rít trên bầu trời, Đại Bá đầu tai nghe rất thính: “Là đạn pháo! Mẹ nó chứ!” Chẳng cần biết có phải bắn về hướng này hay không, anh ta lao xuống nước lặn mất.
Ầm một tiếng, đạn pháo nổ vang, chiếc thuyền vỡ tan tành, một mảnh pháo găm thẳng vào yết hầu khiến Mai Huyền Tử chết ngay tại chỗ.
Khi Đại Bá đầu trồi lên mặt nước, trên bờ lửa cháy ngút trời. Có vẻ như quân vũ trang Nhật cũng được điều đến, một phen bắn giết hỗn loạn. Đại Bá đầu quyết định: “Thôi kệ! Không đợi nữa!” nghĩ vậy liền bám vào tấm ván thuyền còn sót lại, bơi nhanh ra biển.
Đại Bá đầu luôn tự tin vào sức vóc của mình, từ nhỏ anh ta sống ở ven sông nên bơi lội rất giỏi. Nhưng lần này bơi một mạch hai canh giờ, mãi rồi cũng thấm mệt, sau mặc kệ trôi nổi trên mặt biển tối đen, vừa lạnh vừa đói, nhìn quanh biển cả mênh mông không biết đâu là bờ, anh ta luôn miệng than vãn: “Mẹ kiếp! Hôm nay chắc làm mồi cho cá rồi!”
Trong lúc tuyệt vọng, bỗng thấy có ánh đèn thấp thoáng trên mặt biển, hình như là thuyền chài đi đánh cá đêm. Đại Bá đầu dồn hết sức lực còn lại, bơi về phía ánh đèn.
Vậy là Đại Bá đầu được cứu sống. Đôi vợ chồng ngư dân vớt được anh ta khi đã thoi thóp. Sau khi nghỉ ngơi lấy lại sức, húp cạn nồi canh, ăn hết bảy con cá đối, anh ta chẳng khác nào quỷ đói thoát chết vậy.
Ăn uống xong, Đại Bá đầu móc trong túi ra tờ Pháp tệ* ướt nhẹp trả cho vợ chồng ngư dân. Đồng Pháp tệ khi đó mới được chính phủ Quốc dân Đảng phát hành, rất có giá trị, 100 đồng có thể mua được hai con trâu to. Vợ chồng ngư dân chưa nhìn thấy nhiều tiền như vậy bao giờ, sợ hãi không dám nhận. Đại Bá đầu cáu tiết: “Cầm lấy đi! Mạng sống của ta không đáng chút tiền này ư!”
Loại tiền giấy của chính phủ Quốc dân Đảng phát hành từ năm 1935.
Đại Bá đầu lên bờ, tìm không thấy Tổ Gia và các anh em đâu, đành phải hóa trang lê la đầu đường xó chợ chờ gọi tập hợp.
“Phương thuốc gia truyền, chuyên trị ngoại thương đây, đậu nhi nha nhi xuất, lão không lão khoan vô...” Hôm đó, Nhị Bá đầu cải trang thành thầy lang đi triệu tập anh em đang ẩn náu.
Đại Bá đầu quan sát tên thầy lang đó rất lâu, nhưng thuật cải trang của Nhị Bá đầu quá lợi hại, lại dùng thủ pháp châm cứu khiến ngũ quan lệch lạc. Đại Bá đầu sợ đó là người Nhật giả trang, nên theo dõi mấy ngày liền mới dám ra mặt hỏi thử.
“Ngươi là tên lừa đảo!” Đại Bá đầu đột nhiên từ phía sau vỗ vai Nhị Bá đầu một cái.
Nhị Bá đầu sợ đến thóp cả bụng lại, suýt chút nữa tè ra quần, quay lại nhìn: “Ngươi...” Đại Bá đầu cũng đang cải trang, mặt mũi trát nhọ nồi đen thui. Anh ta vốn định hóa trang mặt đầy mụn cơm, nhưng giờ trông chẳng khác gì cứt trâu dính trên mặt vậy, Nhị Bá đầu cũng không nhận ra.
Hai người nhìn nhau một hồi, đoạn reo lên: “Là anh à!” rồi cùng bật cười với nhau.
• • •
Tổ Gia nghe xong cũng bật cười, nhưng ngay lập tức nghiêm mặt lại hỏi: “Còn những anh em khác đâu?”
Đêm xuống, Tổ Gia vẫn không ngủ được, mãi đến canh tư mới thiếp đi...
Trong lúc mơ màng, Tổ Gia nghe thấy tiếng bước chân dồn dập đi lại, ông muốn mở mắt ra nhìn mà không sao mở nổi, khó khăn lắm mới mở được mắt thì thấy xung quanh mờ mờ ảo ảo, nhìn không rõ vật. Lúc này thấy có tiếng kẽo kẹt mở cửa, Tổ Gia thất kinh: ông đã tự tay cài cửa, sao lại mở ra được vậy?
Một bóng người tiến lại gần, Tổ Gia cố sức mở mắt ra, phút chốc mọi thứ trở nên rõ nét, là Cửu gia (Vương Á Tiều)!
“Cửu gia!” Tổ Gia bật dậy.
Vương Á Tiều lặng lẽ nhìn Tổ Gia, dường như có điều muốn nói nhưng lại không nói nên lời.
“Cửu gia...”
Vương Á Tiểu vẫn lặng thinh không đáp, đoạn quay người đi mất.
“Cửu gia! Cửu gia!” Tổ Gia bước nhanh theo, bên ngoài tối đen như mực, không nhìn thấy gì cả. “Cửu gia! Cửu gia!” Tổ Gia gọi to.
Tổ Gia giật mình tỉnh dậy, đầu vã mồ hôi lạnh: “Ồ... thì ra là nằm mơ.” Hoàng Pháp Dung ở phòng bên nghe thấy tiếng la hét liền vội vàng chạy sang hỏi: “Sao vậy, Tổ Gia!”
Tổ Gia lau mồ hôi trên trán: “Không sao... không sao... Mấy ngày nay bên Tăng giáo đầu không có tin tức gì mới ư?”
“Không có,” Hoàng Pháp Dung rót cho Tổ Gia một cốc nước ấm, “Tổ Gia, thầy..
“Không sao, không sao, ngươi lui ra đi.”
Ba ngày sau, lan truyền một tin tức gây chấn động trong ngoài: Vương Á Tiều một đời kiêu hùng bị tên đặc vụ đầu sỏ của Quốc dân Đảng là Đới Lạp ám sát, chết ở Ngô Châu, Quảng Tây!
Đọc được tin trên báo, Tổ Gia run rẩy, tờ báo trên tay rơi xuống đất, một cảm giác đau đớn như chính người thân của mình bị hại chết vậy, đến nỗi ông lảo đảo đứng không vững nữa. Hoàng Pháp Dung mấy lần hắng giọng nhắc nhở, ông quên mất rằng bản thân như vậy trước mặt anh em là vô cùng thất thố. Tay gạt nước mắt đang tuôn xuống như mưa, ông nức nở thốt lên một tiếng “Cửu gia..hai chân quỵ xuống đất. Đại Bá đầu, Nhị Bá đầu, Tiểu Lục Tử cùng nhau quỳ xuống ôm lấy Tổ Gia, nước mắt cũng tuôn rơi.
Hôm sau, Tăng Kính Võ đến, người mặc áo tang, đầu quấn khăn trắng. Tổ Gia và Tăng Kinh Võ ôm lấy nhau, chụm đầu mà khóc, khóc đến cạn nước mắt.
Đêm xuống, Tổ Gia và Tăng Kính Võ chong đèn nói chuyện thâu đêm. Và rồi Tăng Kinh Võ đem phương hướng hành động gần đây của Vương Á Tiểu cho Tổ Gia biết.
Thì ra mấy năm gần đây, Vương A Tiều bị chính quyền Quốc dân Đảng đưa vào mục tiêu sào diệt hàng đầu, nhất là từ khi ông nhiều lần lên kế hoạch hành thích Tưởng, Tống và Uông*, điều này khiến Tưởng Giới Thạch mất ăn mất ngủ. Năm ngoái, sau khi Vương Á Tiều ám sát thành công Uông Tinh Vệ, đặc vụ Quốc dân Đảng dưới sự cầm đầu của Đới Lạp điên cuồng điều tra tung tích ông.
Tưởng Giới Thạch, Tống Tử Văn, Uông Tinh Vệ.
Ban đầu Vương Á Tiểu hoạt động rất khó khăn, sau ông dần ý thức được rằng: chỉ đơn thuần dựa vào ám sát thì không ổn, hơn nữa tranh đấu với cả một đất nước được trang bị đầy đủ thì một hiệp sĩ đơn độc dù tài giỏi đến đâu rốt cuộc cũng sẽ thất bại, không có tổ chức lãnh đạo thì cuối cùng chỉ có con đường chết mà thôi. Cân nhắc thế lực các phe cánh khi đó, Vương A Tiều quyết định đầu quân về Cộng sản Đảng, chỉ có tổ chức này mới thực sự lo lắng cho nhân dân cần lao, cũng chỉ có tổ chức này mới cứu được Trung Quốc.
Nhưng thật trớ trêu, nhân lúc Trung Cộng đang muốn kết nạp Vương Á Tiểu vào đảng, Đới Lạp ra tay lập bẫy mỹ nhân, bắn chết ông, sau đó chúng còn lột da mặt ông, thủ đoạn tàn độc khiến người ta không khỏi kinh hãi.
Sau khi Vương Á Tiều chết, Mao Trạch Đông vô cùng thương tiếc. Anh hùng khóc thương anh hùng, Mao Trạch Đông không tiếc lời bình phẩm về Vương Á Tiều: “Giết địch không có tội, kháng Nhật là lập công. Tiểu tiết không đủ kiểm điểm, đại sự không hồ đồ.” Đây là lời bình cuối cùng của người lãnh đạo cao nhất phe Trung Cộng dành cho Vương Á Tiều một đời kiêu hùng.
“Tổ Gia, hãy cùng tôi gia nhập Cộng sản Đảng!” Tăng Kính Võ nói.
Tổ Gia ngây người, vào đảng? Cộng sản Đảng? Ông chưa từng nghĩ đến điều này.
Thấy Tổ Gia im lặng không nói, Tăng Kính Võ liền nói tiếp: “Đây là nguyện vọng lúc sinh thời của Cửu gia, nay ông đã chết, các anh em đều tôn trọng di nguyện của ông. Mấy năm nay tôi cũng nhận thấy rằng chỉ dựa vào một người thì chẳng có tác dụng gì, Mao Trạch Đông từng nói: ‘Quyền lực chính trị lớn lên từ nòng súng’, chỉ có gia nhập tổ chức, sức mạnh của mọi người mới trở nên to lớn, có đội ngũ mới có thể làm đại sự!”
Tổ Gia vẫn im lặng không nói.
Tăng Kính Võ ngây người ra rồi nói tiếp: “Tổ Gia không muốn bỏ chỗ tối ra chỗ sáng ư?”
Tổ Gia thở dài nói: “Tăng giáo đầu, không phải ta không muốn, tình cảnh của chúng ta không giống cậu. Cậu và Cửu gia là anh hùng dân tộc, ta là cái thá gì chứ, chỉ là tên giang hồ lừa đảo; kẻ mà các cậu giết là bọn người xấu, kẻ ác, bọn Nhật; còn bọn ta là những kẻ đi lừa người, những người giàu có đó, dù có là người tốt, bọn ta cũng lừa...”
Tăng giáo đấu khẽ lắc đầu: “Tổ Gia, khuyết điểm chẳng thể che lấp ưu điểm, ông phá hủy cơ quan đặc vụ Nhật Bản, nhân cơ hội đó trừ khử biết bao nhiêu ‘hội đạo môn’, rõ ràng đó cũng là hành động vì đại nghĩa! Mao ủy viên nói: ‘Không có quan điểm chính trị lệch lạc, trung thực, có tinh thần hy sinh, tích cực công tác, không có tư tưởng phát tài, không hút thuốc phiện, không đánh bạc thì đều có thể vào đảng!’ Nếu quả thực không thể, thì tôi vào đảng trước, sau đó sẽ viết thư giới thiệu Tổ Gia.”
Tổ Gia cười khổ: “Tôi làm tướng* qua nhiều nơi trên thế gian này, dù sấm thét lửa thiêu cũng không tẩu phong*, sống chết với nghề tướng số. Là chủ của Đường khẩu, dưới trướng có bao nhiêu anh em như vậy, nếu tôi gia nhập Cộng sản Đảng thì họ biết làm thế nào? Nếu tôi bỏ mặc không quản, tất họ sẽ gây họa cho dân chúng, nếu ép họ gia nhập đảng cũng không biết bên đó có tiếp nhận hay không, hơn nữa Đường khẩu bốn đời, truyền thừa đã mấy trăm năm, đó không phải là việc một mình tôi có thể quyết được...”
Tiếng lóng, chỉ kẻ đi lừa bịp.
Tiếng lóng, tức đi hành nghề đánh lẻ ở địa bàn khác.
Tăng Kính Võ lắc đầu, chẳng biết làm sao: “Sao mà người phái Giang Tướng các ông đều như nhau thế! Từ Hoài Cận cũng nói như vậy! Truyền thừa mấy trăm năm thì sao chứ? Xã hội phong kiến kéo dài có đến mấy ngàn năm, vậy mà khi cách mạng Tân Hợi nổ ra, chẳng phải đã bị hủy diệt đó sao? Nay là thời đại của cách mạng! Bỏ cũ thay mới, Tổ Gia suy nghĩ kỹ đi!”
Tổ Gia vẫn im lặng không nói.
Thấy ý Tổ Gia đã quyết, Tăng Kính Võ đành phải bỏ cuộc: “Tổ Gia, tôi sắp đi Thiểm Bắc, ngày sau... ngày sau... e rằng khó có cơ hội gặp lại, khối liên minh đã tan rã, từ nay không còn ‘Bang Búa rìu’ nữa, Tổ Gia hãy bảo trọng, bảo trọng!”
“Con muốn báo thù! Báo thù! Tổ Gia, con muốn báo thù!” Tiếng gào thét của Tiểu Lục Tử từ bên ngoài vọng vào.
Tăng Kính Võ không kìm được nước mắt, nói: “Tổ Gia, Tiểu Lục Tử... xin giao lại cho ông, tên tiểu tử này tính cách quật cường, ông hãy dạy dỗ nó...”
Tăng Kính Võ đi rồi. Tổ Gia vả cho Tiểu Lục Tử hai cái mới khiến anh ta bình tĩnh trở lại, sau đó mạo hiểm cùng với Trương Ân Thụy, Hoa Nguyệt Dung đi Nam Kinh lập bẫy mỹ nhân, sinh ly tử biệt...
Cũng trong thời gian này, Đại Bá đầu, Nhị Bá đầu và Hoàng Pháp Dung hóa trang rồi ngày ngày đi tập hợp anh em tản mát trên bến Thượng Hải.
Mấy tháng sau, các tay chân ẩn nấp ở các xó xỉnh đều đã tụ họp đông đủ, đây chính là “phái Giang Tướng”! Chính là nguồn lực của tổ chức! Một hiệu lệnh của Sư bá, núi non rung chuyển! Lan tỏa theo gió bay, bén cội rễ vào đất; hội tụ như trăm chim triều phụng, khi cần chỉ trong chốc lát có thể tề tựu đồng đủ.
Vẫn còn Tam Bá đầu, Tứ Bá đầu và Ngũ Bá đầu chưa xuất hiện. Đây đều là những thành phần cốt cán của “Mộc Tử Liên”, việc này khiến Tổ Gia thấp thỏm không yên, ba người này đã chết hay bị người Nhật bắt đi?
Lúc sẩm tối, Tổ Gia gọi Hoàng Pháp Dung đến hỏi: “Pháp Dung, con có hối hận không?”
Hoàng Pháp Dung gượng cười đáp: “Không.”
Tổ Gia thở dài một tiếng: “Có lẽ Tổ Gia ta đã sai rồi, ta không nên để con và Tự Triêm... như ngày hôm nay, Tự Triêm giờ vẫn không rõ tung tích...”
Hoàng Pháp Dung cúi đầu, khẽ nói: “Sống chết có số, phú quý tại trời.”
Một cơn gió lạnh thốc vào, cửa sổ bật mở, Hoàng Pháp Dung vội lấy áo dài khoác lên cho Tổ Gia.
“Hôm nay là ngày mấy rồi?” Tổ Gia hỏi.
Hoàng Pháp Dung bấm đốt ngón tay rồi đáp: “Vừa qua lập đông.”
Tổ Gia gật đầu: “Ở Sơn Đông quê con vào tiết lập đông thường ăn gì?”
Sủi cảo.
“Ừm,” Tổ Gia gật gù, “sủi cảo, đến giờ Tý. Truyền lệnh các anh em, tối nay chúng ta sẽ ăn sủi cảo vào giờ Tý.”
“Hả?” Hoàng Pháp Dung reo lên mừng rỡ.
“Sao vậy?” Tổ Gia hỏi.
“Bao nhiêu người như vậy, ai làm bánh ạ?” Hoàng Pháp Dung cười nói.
“Tất cả cùng làm!”
Các anh em được một phen ngạc nhiên, thường ngày họ chỉ là những kẻ giết người phóng hỏa, đào mồ quật mả, giờ bảo họ làm sủi cảo, thật khó ngang với lên trời. Nhưng lệnh của Đại sư bá, không thể không nghe theo!
Mấy chục con người vui vẻ vây quanh cái bàn bát tiên*, người nhào bột, kẻ băm nhân, hào hứng gói bánh. Tổ Gia nhìn một lượt, suýt chút nữa bật cười thành tiếng, những chiếc bánh này thật khiến cho người ta không hiểu nó là hình gì, cái thì đứng, cái thì nằm, cái thì to như tai voi, cái thì nhỏ như phân dê, thôi thì đủ thứ hình thù kỳ dị. Quan sát kỹ một hồi, Tổ Gia ngạc nhiên phát hiện ra chiếc bánh đẹp nhất không phải được gói bởi Hoàng Pháp Dung, mà lại là của Đại Bá đầu - người thường ngày chỉ chuyên mổ lợn giết chó, cũng bởi anh ta từng làm việc ở lò mổ, hằng ngày pha thịt, băm nhân, lọc mỡ cạo bì, lâu dần luyện được tay nghề khéo léo.
Loại bàn vuông to, mỗi phía ngồi được hai người.
Nhìn những chiếc bánh đẹp đẽ được gói bởi đôi bàn tay chai sần của Đại Bá đầu, trong lòng Tổ Gia chợt dâng lên một nỗi xót xa: được làm người bình thường thật tốt biết bao, cuộc sống, cuộc sống... Đây mới là cuộc sống!
Mấy trăm chiếc bánh phải luộc đến bốn năm nồi mới xong. Mẻ đầu tiên ra lò, Hoàng Pháp Dung mời Tổ Gia nếm trước, sợ chờ lâu nguội ăn không ngon. Tổ Gia nhất quyết từ chối, ông muốn đợi luộc xong hết rồi cùng ăn với các anh em.
Sau đó, Tổ Gia sai Nhị Bá đầu bê ra mấy vò rượu Thiệu Hưng. Anh em vừa ăn vừa uống vô cùng vui vẻ, tạm quên đi nỗi niềm lưu lạc quẫn bách.
Hoàng Pháp Dung cuối cùng cũng hiểu ra dụng ý của Tổ Gia, ông đang cố gắn kết sĩ khí, đêm đông tuy lạnh, nhưng không thể để lòng người hoang lạnh, sợ hãi. Từ khi Mai Huyền Tử gây thanh thế đến cuộc đánh bại đặc vụ Nhật Bản, trải qua mấy hồi sinh tử, lang bạt kỳ hổ, hàng ngũ lay lắt chỉ chực tan vỡ. Có Tổ Gia, mọi người có thể tập hợp lại, một khi ông chết đi, “Mộc Tử Liên” chắc chắn tan đàn xẻ nghé. Trong lòng Tổ Gia hiểu rõ, các anh em tuy miệng không nói ra nhưng thâm tâm vô cùng chán nản, những ngày tháng huy hoàng ở bến Thượng Hải nay đã qua rồi, giờ chỉ có thể nhẫn nhịn chờ thời, lay lắt qua ngày ở nơi ngoại ô giá lạnh tồi tàn này mà thôi.
Giữa chừng, có tên tay chân đề nghị tái xuất giang hồ, hành nghề trở lại. Tổ Gia gật gật đầu nói: “Để hết năm này xem sao đã.”