Cùng lúc đó, trong nội địa Trung Nguyên, quân Nhật vẫn điên cuồng tiến công. Nội bộ Quốc quân, các phe cánh mải đấu đá lẫn nhau, sức chiến đấu yếu ớt. Tháng 6 năm 1938, Nhật chiếm được Từ Châu, Lan Phong, tiếp theo quân Nhật dồn toàn bộ binh lực ở Hoa Bắc, Hoa Đông tấn công Khai Phong. Một khi Khai Phong thất thủ, tuyến đường sắt Bình Hán mất theo, quân Nhật có thể đánh thẳng một mạch vào sào huyệt Quốc dân Đảng - Vũ Hán. Sau khi để mất Nam Kinh, Quốc dân Đảng vội vàng rời đô về Trùng Khánh, nhưng khi đó cơ quan đầu não của chính phủ Quốc Dân và Bộ Chỉ huy quân sự đều ở Vũ Hán, trên thực tế Vũ Hán thời điểm đó là trung tâm quân sự, chính trị, kinh tế của cả nước.
Vì vậy, Tưởng Giới Thạch bị bức vào đường cùng đã đưa ra quyết định gây chấn động cả nước: phá hủy đê Hoàng Hà! Chặn bước tiến quân Nhật.
Ngày 9 tháng 6, hàng trăm quả đạn pháo phá vỡ đê Hoàng Hà ở cửa Hoa Viên, ngay lập tức nước sông Hoàng Hà cuồn cuộn đổ ra, bỗng chốc nhấn chìm 44 huyện, hại chết 89 vạn người!
Sau khi biết tin này, Tổ Gia căm phẫn đến nỗi toàn thân run rẩy: “Lũ xâm lược! Ta phải ăn tươi uống máu các ngươi!”
Sở dĩ Tổ Gia không mắng Tưởng Giới Thạch mà mắng lũ xâm lược là vì khi đó chính phủ Quốc dân Đảng che giấu chân tướng sự việc, nói chính người Nhật phá đê Hoàng Hà. Sau này mãi đến năm 1978, tức 3 năm sau khi Tưởng Giới Thạch qua đời, sách giáo khoa của Đài Loan mới dám thừa nhận sự thật lịch sử này.
Tính mạng của 89 vạn người dân để đổi lấy 3 tháng hòa hoãn, ngay sau đó quân Nhật tận dụng ưu thế binh lực tấn công Vũ Hán. Cuộc chiến bảo vệ Vũ Hán bi hùng nổ ra! Binh lực tham chiến của cả hai bên lên đến 140 vạn, Quốc quân thương vong đến 40 vạn, Nhật 14 vạn; Nhật chiến thắng một cách vất vả, Quốc quân dùng sự thương vong cực lớn, đẩy quân Nhật vào giai đoạn chiến lược giằng co.
Sau khi Nhật chiếm Vũ Hán, Đường khẩu của Tổ Gia đang co cụm ở ngoại ô Vũ Hán cũng tính đến phương án rút lui. Còn đi đâu, ông vẫn chưa biết. Lúc này Quảng Châu đã rơi vào tay giặc, Giang Phi Yến dẫn các chị em vội chạy về Quảng Tây. Thế là Tứ đại Đường khẩu, chỉ có Tây phái Long Tu Nha ngồi yên ổn ở Trùng Khánh, ba Đường khẩu còn lại đều bị tổn thất nghiêm trọng.
Tần Bách Xuyên lúc này ngông nghênh tự đắc, nhiều lần cử người đưa tin cho Tổ Gia và Giang Phi Yến rằng: sẵn sàng đưa tay giúp đỡ, anh em Nam phái và Tây phái đều có thể đến Xuyên Tây. Tổ Gia và Giang Phi Yến đều hiểu rõ, đây kỳ thực là giả mèo khóc chuột, vào địa bàn của ông ta thì phải nghe theo sự chỉ đạo của ông ta, ông ta muốn thừa cơ thâu tóm cả phái Giang Tướng.
“Đi hay không, Tổ Gia?” Tam Bá đầu hỏi.
Tổ Gia trầm tư, tất nhiên là phải đi, vấn đề là đi đâu.
“Không đi được!” Tứ Bá đầu hơn một năm nay trầm lặng ít nói bỗng lên tiếng, “sống làm kẻ tuấn kiệt, chết làm ma anh hùng. Nhật giết chết anh trai tôi, hại chết vợ tôi, tôi phải trả thù!”
Tổ Gia nhìn Tứ Bá đầu hình dung tiểu tụy, trong lòng cảm xúc hỗn độn, không biết phải nói gì cho phải. Cuối cùng, Tổ Gia thở dài một tiếng: “Được rồi, ta bẫy một phen, giết quân xâm lược trước khi đi!”
“Tổ Gia nghĩ kỹ chưa đấy!” Các Bá đầu đều cuống cả lên.
Tổ Gia im lặng, mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai lên tiếng.
Tổ Gia biết, đi kèm với sự xâm lược về mặt quân sự, quân Nhật tất có sử dụng chiến thuật tâm lý, đến bất kỳ nơi nào, chúng đều dùng các hình thức mê tín để trong thì cổ vũ tân binh, an ủi vong linh, lừa gạt binh sĩ rằng: chỉ cần dốc sức cho Thiên Hoàng, sau khi chết, linh hồn sẽ được vào đền Yasukuni*, mãi mãi được an lạc; đồng thời tích cực biểu diễn những màn mang màu sắc ma mị, mê hoặc, vừa có thể khiến dân Trung Quốc cảm thấy quân Nhật là thiên binh thiên tướng, sức mạnh không thể nào chống lại được, chỉ có cách ngoan ngoãn nghe lời, thuận theo ý trời. Giờ Nhật đã chiếm được Vũ Hán, màn biểu diễn của bọn đặc vụ và pháp sư cũng sắp bắt đầu rồi, phái Giang Tướng có thể nhân dịp này mà lập bẫy.
Nơi thờ phụng những người lính tử trận đã chiến đấu vì Thiên Hoàng.
Quả đúng như dự đoán, chẳng mấy chốc quân Nhật đã dán cáo thị, tuyên truyền tà thuyết “Thiên nhân Thiên Hoàng”, đại khái là nói quân đội Thiên Hoàng là người trời hạ phàm, thiên binh thiên tướng, một chọi với mười, không đội quân nào có thể chống lại được. Đồng thời tuyên bố quân đội Thiên Hoàng sẽ chọn ngày tổ chức nghi thức “đón trời” ở “dốc Đạo Quán”, lúc đó “Thiên nhân sẽ phát ra ánh hào quang từ trên trời bay xuống”, mời thần dân Đại Đông Á* đến thưởng lãm.
Tên gọi khác của Nhật Bản.
“Thiên nhân” cũng gọi là “Phi thiên”, trong giáo lý Phật giáo có rất nhiều Thiên giới, chúng sinh trên những Thiên giới này gọi là “Thiên nhân”. Đám pháp sư muốn tạo nên cảnh tượng Thiên Hoàng là “Thiên nhân” hạ phàm, dùng thủ đoạn mê tín nhằm khiến dân chúng thần phục.
Tổ Gia phân tích, muốn chế tạo “Thiên nhân”, tất phải đưa người lên cao, bay lượn trong không trung, điều này không thể thực hiện được vào ban ngày, bởi cáp treo dễ bị phát hiện. Chỉ có buổi tối, tập trung mọi người lại, tìm một bãi trống xa xa trong cánh rừng, kéo một sợi cáp giữa hai cây to, chọn vài tên pháp sư tròng lên người mấy vòng thép, rồi móc lên sợi cáp, trượt từ đầu này sang đầu bên kia, giống như “Phi thiên” trên bích họa của Phật giáo.
Nhưng có một vấn đề, đó là màn “Phi thiên” trong bóng tối đứng từ xa thì nhìn không rõ, lại gần sẽ thấy chỗ sơ hở, khó tránh khỏi bị nghi ngờ. Đội pháp sư Nhật chắc chắn sẽ nghĩ đến cách: bôi lên người đám pháp sư “Thiên nhân” một lớp phát quang, như vậy khi kéo tấm màn xuống, đám “Thiên nhân” liền xuất hiện, trong bóng tối toàn thân phát sáng, chầm chậm lay động giống như tiên giáng trần.
Dựa vào trực giác nghề nghiệp, Tổ Gia và Tứ Bá đầu phân tích rằng: màn biểu diễn này chắc chắn phải sử dụng đạo cụ, nhất là lũ cướp nước tuyên truyền “Thiên nhân” sẽ phát ra hào quang mà bay xuống, điều này càng củng cố phán đoán của Tứ Bá đầu rằng: nhất định bọn chúng phải sử dụng phốt-pho vàng.
Phốt-pho vàng là chất dễ cháy, muốn dùng nó để bẫy thì việc điều chế là vô cùng quan trọng, vượt quá tỷ lệ sẽ tự bốc cháy, không đủ tỷ lệ sẽ không phát quang được. Để chế tạo được bùa phát sáng, Tứ Bá đầu phải thử nghiệm hàng trăm lần mới thành công.
Nhưng rốt cuộc người Nhật có dùng phốt-pho vàng hay không, Tổ Gia và Tứ Bá đầu đều không dám chắc, họ buộc phải đánh cuộc.
Điểm tự cháy của phốt-pho vàng vào khoảng 40 độ C, vượt quá 40 độ C sẽ có nguy cơ cháy nổ. Sau khi trộn một loại thuốc đặc biệt vào khiến phốt-pho trong không khí từ từ giải phóng khí phốt-phin (Phosphine, PH3), dưới nhiệt độ thường sẽ phát ra ánh sáng, chỉ cần không đạt tới điểm tự cháy thì sẽ không sao.
Việc Tổ Gia và Tứ Bá đầu cần làm là: khi “Thiên nhân” bay ra, tìm cách quăng mồi lửa lên khiến phốt-pho vàng bôi trên người bắt lửa, thui bọn chúng thành gà quay. Nhưng nếu trực tiếp ném lên thì e rằng chưa kịp ném đã bị bắn chết rồi, Tổ Gia và Tứ Bá đầu nghĩ tới nghĩ lui, cuối cùng nghĩ ra một tuyệt chiêu.
Rằng, chỉ cần trên người bọn Nhật có một vị trí đạt đến điểm cháy thì cả người chúng sẽ nhanh chóng bốc cháy, do đó chỉ cần một đốm lửa bắn vào người thì không lo không phá được cục này. Tứ Bá đầu đem “ống sấm chớp” do mình chế tạo, thực ra chính là pháo hoa tự chế: dùng một ống trúc đục thủng lõi, đầu dưới trát đất sét, tiếp theo thuốc súng được chia thành ba tầng là đốt, đẩy, nổ, cuối cùng là ngòi nổ; cầm ống trúc trên tay rồi châm ngòi, đợi sau khi cháy đến viên thuốc nổ, viên thuốc nổ sẽ được đẩy ra, bay lên cao, sau đó nổ trên không trung, tạo thành pháo hoa.
Ống sấm chớp này của Tứ Bá đầu có thể đẩy viên thuốc nổ bay xa năm sáu chục bước, cáp treo bọn pháp sư cách mặt đất chừng ba trượng (khoảng 10m), cao hơn nữa rất khó thực hiện, như vậy đứng từ dưới đất phải dùng ống sấm chớp bắn một góc xiên đến bọn Nhật, Tứ Bá đầu tính toán: vị trí đặt xa nhất không được quá 49 bước. Tổ Gia và Tứ Bá đầu quyết định nhân lúc bọn Nhật không chú ý, đặt ống sấm chớp ở vị trí cách điểm “Thiên nhân” bay lên khoảng 49 bước. Khi bọn Nhật dựng giá đỡ, sân khấu rộng chừng năm sáu trượng được quây bạt kín lại, ngoài phạm phi quây bạt có hẳn khoảng trống rộng rãi có thể lợi dụng được.
Vấn đề nan giải là làm cách nào để chôn được ống sấm chớp, cuối cùng Tổ Gia quyết định dùng kế “Vờ sửa sạn đạo, ám độ Trần Thương*”.
Một trong ba mươi sáu kế: Thời Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang bị Hạng Vũ ép vào đóng quân trong vùng Ba Thục hẻo lánh khó ra được Trung Nguyên. Hàn Tín bèn bày kế vờ sửa đường sạn đạo nhưng lại ngầm dẫn quân đi đường núi hiểm trở để đánh úp ải Trần Thương, mở đường ra Trung Nguyên cho quân Hán.
Tối đến, mấy chục A Bảo giả làm người dân, đem theo vài chục trứng gà và hai bao gạo còn lại của Đường khẩu đến nơi bọn Nhật làm việc, sau một tiếng gọi to, cả đội quỳ xuống từ xa, hai tay dâng đồ ăn lên.
Mấy tên lính canh thấy vậy, vội vàng vác súng chĩa vào mọi người, nhưng rồi hiểu ra ngay, hóa ra là mấy kẻ đến biếu đồ ăn, chúng liến thoắng mấy câu, cười hỉ hả rồi nhận đồ.
Lúc này sau lớp lều bạt, nhóm Nhị Bá đầu đang lúi húi bò trên mặt đất, khẩn trương chôn ống sấm chớp.
Đám A Bảo phía trước cố kéo dài thời gian, một tên tự tay đập một quả trứng luộc, vừa bóc vỏ vừa tươi cười nói với giọng Giao Đông đặc sệt: “Bóc rồi thì ngài ăn, ăn rồi nát lỗ đít nhé!...” vừa nói vừa đưa ngón tay cái lên.
Tên Nhật đó ngửa mặt lên trời: “Yoshi!”
Chừng mấy phút thì bọn Nhị Bá đầu chôn xong, tiếp theo kéo dây ngòi nổ khoảng mấy chục mét, giấu bên dưới một đống củi, cắt cử một tên tay chân ngày đêm trông nom. Đợi hôm sau, khi bắt đầu nghi thức đón “Thiên nhân” thì nhanh chóng đốt ngòi nổ, rồi thừa lúc hỗn loạn mà trốn đi.
Sau khi sắp đặt xong xuôi mọi việc, Tổ Gia nói với Tứ Bá đầu: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”
Tứ Bá đầu hiểu ngụ ý trong lời của Tổ Gia, việc này ẩn chứa rất nhiều sự mạo hiểm, ví dụ bị bọn Nhật phát hiện, hoặc trời mưa làm cho ngòi nổ bị ướt, cho dù Tứ Bá đầu đã bọc cẩn thận, nếu ban ngày trời mưa to, ngập nước thì cũng kể như công toi. Dù mọi việc thuận lợi, nhưng thời gian “Thiên nhân” đu trên dây cáp là không xác định được, nếu châm ngòi sớm e rằng bắn không tới, nếu châm lửa muộn cũng sẽ bắn không trúng. Việc cần làm đã làm cả rồi, còn lại chỉ biết trông chờ vào ống trời.
Tối hôm sau, bọn Nhật tập hợp già trẻ trai gái quanh vùng, cách nơi biểu diễn màn “Phi thiên” mây chục bước, đám pháp sư trước tiên ra làm phép, cố làm ra vẻ thần bí một hồi, sau đó lẩm bẩm vài câu với một tên Hán gian, rồi tên đó dịch lại: “Thiên nhân sắp đến rồi, xin mời Thiên nhân! Mọi người hãy im lặng, chớ nên rối loạn!”
Sau đó, một tên pháp sư niệm thần chú, rồi kéo tấm màn che xuống, mọi người thấy thấp thoáng sau tấm màn là một sân khấu lớn, cao hơn ba thước, được cất giữa rừng cây. Lúc này tên Hán gian phiên dịch bảo mọi người quỳ xuống, nếu không quỳ liền chĩa súng dọa, thế là mọi người buộc phải quỳ. Không lâu sau, từ trong bóng tối có mấy người phát sáng thấp thoáng xuất hiện giữa hai cây đại thụ, rồi chầm chậm bay từ đầu bên này sang đầu bên kia, đám đông ồ lên một tiếng đầy kinh ngạc, những người không hiểu rõ chân tướng sợ đến nỗi ngây người ra, mấy đứa trẻ thấy vậy liền kêu ré lên.
Lúc này ở dưới sân khấu, Tứ Bá đầu nóng lòng nóng ruột, thầm giục: mau châm ngòi đi! Lát nữa bọn Nhật trượt tới đầu bên kia thì hết cơ hội rồi!
Một lát sau, chung quanh yên tĩnh, Tứ Bá đầu cuống lên, có chuyện gì vậy? Có sai sót gì sao?
Lúc này mấy tên “Thiên nhân” đã trượt đến đầu bên kia và chuẩn bị hạ xuống.
Đột nhiên, từ xa vọng lại tiếng quát tháo của mấy tên lính Nhật, dường như xảy ra chuyện gì đó, bọn Nhật chưa kịp định thần đã thấy mấy chục quả pháo hoa từ đâu bay đến, vẽ lên màn đêm những đường vòng cung rồi phát nổ quanh đám “Thiên nhân”, đốm lửa bắn tung tóe, toàn thân bọn “Thiên nhân” chợt bùng cháy. Bọn chúng không ngờ lại xảy ra tình huống này, cả lũ bị thiêu sống tại trận, kêu la oai oái.
Đám đông phút chốc náo loạn, lính Nhật bắt đầu bắn chỉ thiên, định bao vây hiện trường. Có mấy người dân cố bỏ chạy liền bị bọn chúng bắn chết.
Tứ Bá đầu dẫn mấy tên tay chân định tìm cách đột phá trùng vây, bỗng cảm thấy đất dưới chân chao đảo, dường như có thứ gì đó đang rầm rập lao đến. Nhìn quanh bốn phía, bỗng thấy một đàn trâu từ trong rừng phi ra, sau đuôi buộc pháo nổ đùng đùng, đàn trâu điên loạn xông thẳng vào đàn làm phép. Đám đông náo loạn, bọn Nhật vỡ trận, Tứ Bá đầu thừa dịp dẫn đám tay chân thoát khỏi trùng vây.
Thực ra Tứ Bá đầu đâu cần phải đích thân đến hiện trường, nhưng anh mang nặng mối nợ nước thù nhà, mà lần lập bẫy này chẳng khác nào một trận quyết chiến, tay anh ta luôn nắm chặt viên đá lửa, trong lòng duy chỉ có ống sấm sét và tự nhủ nếu bên đó xảy sự cố không thể châm lửa được, anh ta sẽ tự mình châm ngòi, quyết liều chết một phen. Tổ Gia đã nhận ra điều này, khi họp Đường hội, ống trưng cầu ý kiến của mọi người, tất cả đều im lặng, trong lòng ông dâng lên một nỗi chán nản khôn nguôi. Chỉ cần có một vị bá đầu đứng lên nói rằng làm như vậy không được thì lòng ông đã không buồn chán đến thế, lúc nào cũng í ới anh anh em em, vào thời khắc quan trọng lại đánh rơi mất cái nghĩa anh em của mình. Tổ Gia biết, gặp buổi loạn trong giặc ngoài, “đạo” của A Bảo e rằng không còn giữ nổi nữa.
Tổ Gia cũng không muốn để Tứ Bá đầu phải chết, do đó ông để lại đường rút, việc đàn trâu từ ngoài tràn vào là do ông sắp đặt, nhưng ông cũng phải đánh cược rằng: bẫy lần này sẽ thành công tốt đẹp, Tứ Bá đầu không phải ra tay, giữ được mạng sống mà trở về.
Tứ Bá đầu thoát chết, Tổ Gia đứng đợi sẵn ở giao lộ, thấy đám Tứ Bá đầu chạy đến liền ra lệnh: “Rút lui!”
Mấy chục người tản ra các hướng. Còn việc chạy được hay không chẳng ai dám chắc. Nỗi hổ thẹn của Tổ Gia đối với Tứ Bá đầu khiến ông không thể không ủng hộ anh ta vụ này, nhưng điều đó lại càng đào sâu mối mâu thuẫn giữa ông và các bá đầu khác, bởi đáng lẽ đã có thể rút đi một cách thuận lợi, nay lại phải chạy trốn dưới sự truy kích của quân Nhật, lần này Tổ Gia đã thực sự đem tính mạng của anh em ra đánh cược.
Tiếng báo động của quân Nhật vang lên: “Bọn chúng vẫn còn dư đảng! Lục soát toàn thành!”
Đồng phái sở trường về trát phi, vượt tường leo cây là chuyện thường ngày, tay chân vô cùng nhanh nhẹn, nay lại chạy thoát lấy thân nên ai cũng chạy như bay. Nhất là Đại Bá đầu, cứ hùng hục như trâu mộng, vừa khỏe vừa nhanh, vừa chạy vừa cởi áo, rồi cứ để vai trần mà chạy ngược gió; cơ ngực, lông ngực nảy lên theo nhịp chạy.
Mọi người chạy như băng chừng hai canh giờ, tiếng súng nổ lác đác ngày một xa, cuối cùng đến một thung lũng thì chẳng ai còn sức mà chạy nữa, nằm vật trên những tảng đá mà thở. Lúc này trời đã tờ mờ sáng. Tổ Gia điểm lại quân số, thiếu mất mấy người, không biết là do sức yếu không theo kịp hay là tự chuồn đi rồi.
Mọi người vừa khát vừa đói, Nhị Bá đầu hổn hển nói: “Tổ Gia, kiếm gì ăn trước đã, nếu không chẳng chạy nổi đâu.”
Tổ Gia nhìn anh ta không nói gì, mọi người cũng im lặng, ai cũng hiểu rằng ở nơi núi non hoang dã này thì biết kiếm đồ ăn ở đâu đây.
Lúc này Tam Bá đầu lại thấy vui, vừa cười vừa lắc đầu.
Mọi người không hiểu nguyên do, còn nghĩ rằng anh ta đói quá nên đầu óc lẩn thẩn.
Chỉ thấy Tam Bá đầu xoa xoa tay, sau đó thò tay vào bụng móc ra hai quả quýt, giơ qua giơ lại trước mặt mọi người, rồi đưa cho Tổ Gia: “Tổ Gia, hai quả quýt này con để dành ba hôm rồi, chính là đề phòng những lúc như thế này.”
Các anh em đói khát đến mềm nhũn cả người, thấy hai quả quýt thì nuốt nước miếng ừng ực, Tổ Gia cũng phải thầm khen sự thông minh của Tam Bá đầu.
Nhị Bá đầu ngạc nhiên nói: “Được đấy, lão Tam, đúng là chỉ có ngươi như vậy.”
Tổ Gia cầm hai quả quýt, chầm chậm bóc vỏ, hai quả tổng cộng được 16 múi, Tổ Gia nói: “Vừa đúng hai người một múi.”
Đại Bá đầu hai mắt sáng rực, gân cổ nuốt nước miếng: “Tổ Gia, con không chịu được nữa rồi, cho con chỗ vỏ đó trước đi!”
Tổ Gia mỉm cười, chia quýt cho mọi người.
Còn lại một múi, ông gọi Tứ Bá đầu lại: “Tự Triêm, con ăn trước đi.”
Tứ Bá đầu ngượng nghịu nói: “Thầy ăn trước đi ạ.”
Tổ Gia trừng mắt, Tứ Bá đầu thấy vậy đành nhận lấy múi quýt, cắn một nửa, nửa còn lại đưa cho Tổ Gia.
Tổ Gia bỏ nửa múi quýt vào miệng, vừa nhai vừa nói: “Tình cảm là thứ giống như quả quýt này, mới cho vào miệng thì thấy ngọt, dư vị thì chua, cuối cùng là chát. Nam nhi đại trượng phu, phải biết lúc nào cần giữ, lúc nào cần bỏ, lời của ta con có hiểu không?”
Tứ Bá đầu phút chốc nước mắt lã chã rơi, khẽ nói: “Thưa thầy, con hiểu, con hiểu ạ.”
Đột nhiên, có tiếng quát tháo vọng đến: “Tất cả đứng im, giơ hai tay lên!”
Mọi người dựng hết cả tóc gáy!
Một đội lính tráng xuất hiện. Tổ Gia nhìn quân phục thì biết ngay đó là quân cách mạng Quốc dân, tim ông như muốn rụng xuống.
“Các ngươi làm gì vậy?” Một người có vẻ như là sĩ quan bước tới hỏi.
“Thưa trưởng quan, chúng tôi là người dân Vũ Hán chạy thoát được khỏi thành khi bọn Nhật đánh đến!”
Người này quan sát bọn Tổ Gia và bá đầu một lượt, trước khi chạy khỏi Vũ Hán, các anh em đều đã thay đổi y phục, giờ trông không khác gì người dân bình thường. Nhìn hết một lượt, người này quay lại nói với binh sĩ: “Đều là đồng hương cả! Mau bỏ súng xuống!” Đám quân sĩ đều thu súng lại.
“Nơi đây thường có thổ phỉ xuất hiện, mọi người đi đâu, chúng tôi có thể đưa mọi người ra khỏi núi.” Anh ta nói với giọng thân mật.
Tổ Gia ngây người: “Trưởng quan, chúng tôi...”
“Chớ gọi là trưởng quan, đội chúng tôi không thích cách gọi đó, chúng tôi là Tân Tứ quân!”*
Tân Tứ quân, tên gọi tắt của Quân số 4 Lục quân tân biên thuộc Quân cách mạng Nhân dân Trung Quốc, một trong những tiền thân của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
“Tân Tứ quân?”
“Đúng, là Quân số 4 Lục quân tân biên thuộc Quân cách mạng Quốc dân, chúng tôi là quân đội do Cộng sản Đảng lãnh đạo, là quân đội nhân dân!” Anh ta cười nói.
“Vậy tôi phải xưng hô với ngài thế nào?” Tổ Gia ngờ vực hỏi.
“Gọi là đồng chí!”
“Đồng... chí?”
“Đúng, đồng chí, cùng một chí hướng, cùng một mục tiêu, chung ý chung lòng, giải cứu toàn Trung Quốc!” giọng anh ta đầy tự hào.
“Ưm... đồng chí, ngài đi đâu vậy?” Tổ Gia hỏi.
“Liên tục chiến đấu ở bắc Giang Tô, xây dựng nhiều căn cứ địa kháng Nhật hơn nữa, đánh đuổi bọn xâm lược!” Anh ta nói với ý chí chiến đấu sôi sục, “Phải rồi, đồng hương, ông làm nghề gì?”
Câu hỏi này khiến mấy bá đầu mắt đảo láo liên.
Tổ Gia vội nói: “Buôn bán đồ cổ, nhưng bọn Nhật đến cướp hết tất cả. Ây dà...”
“Các anh em đừng sợ, quân xâm lược sớm muộn gì cũng bị chúng tôi đuổi ra khỏi Trung Quốc! Mọi người đi đâu, tôi cử mấy người đưa đi...”
“Không cần đâu, không cần đâu, cảm ơn trưởng quan, à không... đồng chí.” Tổ Gia vội khom lưng đáp lễ.
Lúc này Đại Bá đầu bỗng nhiên tiến lên, gãi đầu gãi tai nói: “Đồng... đồng chí...”
Tổ Gia giật mình đánh thót, thầm nghĩ tên tiểu tử này định làm gì vậy?
Đại Bá đầu nói: “Đồng chí... không cần phải đưa đi đâu ạ... có thể... có thể cho chúng tôi ít đồ ăn không?... Chúng tôi nhịn đói từ hôm qua đến giờ...”
Anh ta mỉm cười nói: “Cậu đồng hương à, mới nhịn có hai bữa mà bộ dạng đã thành thế này rồi sao, trước đây khi đánh du kích ở tỉnh Cương Sơn, chúng tôi thường ba ngày ba đêm không ăn uống gì đấy, ha ha!” Đoạn quay lại bảo một người lính: “Mau! Xem xem còn gì ăn không, chia cho họ với!”
“Dạ!” Người lính đó tuân lệnh.
Lát sau, người lính đó đem lại một ít cơm nắm, chia cho mọi người. Các anh em ăn ngấu nghiến.
“Đồng hương à, qua ngọn núi này là căn cứ địa của chúng ta, đi đường cẩn thận, chúng tôi phải đi đây.”
Tổ Gia nắm chặt tay anh ta, thân tình nói: “Đồng chí, bảo trọng!”
Tân Tứ quân phân chia đội hình rồi lập tức lên đường. Nhìn bóng họ xa dần, Tổ Gia chợt bùi ngùi: Trung Quốc vẫn còn những đội quân tốt như vậy, Tăng Kính Võ không hề chọn sai...