Sở Cung giáo 007, Ngụy Mãn Châu, Kodama Yoshio sắc mặt thâm trầm, u ám.
“Ăn hại! Một lũ ăn hại! Quân đội Nhật Hoàng nuôi các ngươi bao nhiêu năm như vậy, đến một phái Giang Tướng cỏn con đối phó cũng không xong! Lại còn đám lưu manh bang Búa rìu nữa, hại chết bao nhiêu người của ta, vậy mà các ngươi lại không bắt nổi một tên! Nào là thả dây dài câu cá to, cá to đâu? Còn nữa, các ngươi tự vỗ ngực là độc thuật cao minh, từng thắng các đại sư độc thuật Trung Quốc, kết quả thì sao chứ? Tăng Kính Võ rải cổ trùng đực xung quanh đảo, phái Giang Tướng thì rải cổ trùng cái trong các cơ quan, trong ngoài phối hợp, các ngươi lại không hề biết chút gì!”
“Vâng!” Đặc vụ và các đại sư tướng số Nhật Bản đồng loạt cúi đầu nhận lỗi.
“Thái quân bớt giận, Thái quân bớt giận.” Một tên đứng đầu hội đạo môn Đông Bắc đã bị người Nhật mua chuộc mỉm cười nói: “Đều tại tên Tổ Gia quá nham hiểm, hơn nữa còn liều mạng, dám đưa cổ trùng vào cơ thể, sau đó lại thừa lúc quân Nhật Hoàng không đề phòng, phá vỡ làm ô nhiễm nguồn nước. Tên Tăng Kính Võ của bang Búa rìu còn liều mạng hơn, dám vào tận nơi có hàng vạn con rắn, đem cổ trùng đực rải trên mình rắn, tình cờ thủy triều dâng cao, nước lớn tràn vào, âm dương hút nhau mới gây nên đại nạn...”
“Tình cờ ư? Đến giờ phút này các ngươi vẫn cho rằng đó là tình cờ sao? Mưu mô, mưu mô, đây là có sự tính toán trước! Mặt khác, các ngươi thua không phải là ở điểm đó! Đến việc rắn không sợ hùng hoàng* mà các ngươi cũng không biết! Thật mất mặt Thiên hoàng Đại Nhật quá mà!”
Khoáng vật có sắc vàng dùng làm thuốc, có thể giải độc.
Những lời này của Kodama Yoshio chứa đầy lòng hậm hực, rất nhiều kiến thức, tư liệu của Nhật Bản có nguồn gốc từ Trung Quốc, bao gồm cả những thứ sai lầm. Thuyết rắn sợ hùng hoàng bắt nguồn từ Trung Quốc, vào dịp tết Đoan Ngọ mọi người uống rượu hùng hoàng để đuổi rắn trừ tà. Nhưng đây lại là một sự ngộ nhận. Điều này là do Trương Tự Triêm - kẻ hậu sinh của phái Giang Tướng phát hiện ra. Hồi nhỏ mỗi khi đến tết Đoan Ngọ, anh ta đều được cha cho uống rượu hùng hoàng, nói rằng có thể đuổi rắn. Sau này lớn lên, anh ta chuyên đến các hiệu thuốc để mua hùng hoàng, sau đó bắt mấy con rắn thả vào đống hùng hoàng, kết quả mấy con rắn lờ đờ bò quanh, cuối cùng nằm đờ ra. Trương Tự Triêm kết luận rằng: rắn hoàn toàn không sợ hùng hoàng.
Khi khánh thành “Viện giao lưu hữu nghị Dịch học Nhật - Trung”, người Nhật sợ rắn độc trên đảo bò vào nên đã cho rải hùng hoàng trong ngoài công trình. Sau trận đại nạn mới ngộ ra rằng cách đó hoàn toàn vô tác dụng.
“Được rồi!” Kodama Yoshio thở dài nói, “Chiến tranh đã bắt đầu rồi, quân Nhật Hoàng muốn chiếm Trung Quốc trong vòng ba tháng! Nhiệm vụ của các ngươi sẽ càng nặng nề, nếu lại phạm sai lầm, hãy mang đầu về đây chịu tội.”
Tháng 8, quân Nhật tấn công Thượng Hải, tháng 11 Thượng Hải thất thủ. Tháng 12, Nam Kinh bị chiếm đóng, cuộc đại thảm sát Nam Kinh vô cùng bi thảm bắt đầu...
Mỗi khi chiếm được một nơi nào đó, quân Nhật đều tổ chức các hoạt động tế lễ, đội ngũ đại sư tướng số đi theo đại quân lúc này được dịp thi thố tài năng. Họ bày lư hương mà Thiên Hoàng ban cho lên hương án, thắp hương tấu nhạc, sau đó mặc những bộ y phục Thần đạo, diễn đủ tư thế uốn éo, miệng phát ra những tiếng kêu la kỳ quái. Trong khói hương mù mịt và thứ âm thanh quái gở mà đám đại sư tướng số đang gân cổ gào thét, ý chí chinh phục toàn Trung Quốc của quân Nhật càng được đẩy lên cao.
Đội ngũ đại sư tướng số đa phần đến từ các tôn giáo Nhật Bản, đây cũng chính là một cách xâm lược Trung Quốc của người Nhật. Vào thời điểm này, cả nước Nhật có tổng cộng chừng 70 triệu nhân khẩu, trong đó khoảng 40 triệu tín đồ trung thành với tôn giáo, để phát động tín đồ tôn giáo tham chiến, họ lập đền Shokonsha* nhằm kích động tư tưởng xâm lược Trung Hoa của người Nhật.
Còn gọi là Chiêu hồn xã, đến Chiêu hồn.
Trước đây, đặc vụ Nhật Bản mượn Sở Cung giáo để thao túng hội đạo môn Trung Quốc, lợi dụng hoạt động mê tín để tuyên truyền cái gọi là “tình hữu nghị Trung - Nhật”, nhưng thực chất đây là một phần trong sách lược xâm lược Trung Hoa. Đáng tiếc là bàn cờ lớn này bị phái Giang Tướng được truyền thừa hơn ba trăm năm của Trung Hoa đập tan, Kodama Yoshio hận Tổ Gia đến tận xương tủy, tuyên bố muốn tự tay lột da Tổ Gia!
Vào thời điểm đó, Tổ Gia đang làm khách tại Cục Quân thống.
Tiếp đãi Tổ Gia là một vị Phó quan - Phùng Tư Viễn*. Người tiến cử là Giang Phi Yến.
Là Phùng Thiếu tướng ở phần trước.
Cực chẳng đã, Giang Phi Yến mới phải tiến cử Tổ Gia với Phùng Tư Viễn.
Phùng Tư Viễn khi đó vẫn chưa nghi ngờ thân phận của Giang Phi Yến, chỉ thấy người phụ nữ nghiêng nước nghiêng thành này tài hoa xuất chúng, am hiểu âm dương, tuy hay thực hiện những hoạt động mê tín như cầu mưa cầu gió, nhưng lại nhiều lần ứng nghiệm, mặt khác lại thường đem tiền bạc đi phân phát, có khi còn nhiều hơn cả số kiếm được, lại còn nguyện dâng hiến cho mình, Phùng Tư Viễn không kìm được tâm tư: “Đúng là một bậc tài nữ hiếm có trong nhân gian, đợi kết thúc cuộc chiến kháng Nhật, ta nhất định sẽ cưới nàng.”
Nhưng quân xâm lược Nhật Bản vẫn dồn ép không ngừng, quân Quốc dân Đảng liên tiếp bại trận, suốt một thời gian dài cả Trung Quốc chìm trong bầu không khí tuyệt vọng, nước mất nhà tan.
Lúc này, Đới Lạp - người đứng đầu Cục Quân thống phụ trách tình báo chiến sự ruột nóng như lửa đốt. Vốn đã mê tín, nay hắn lại càng mê tín hơn, suy đi tính lại, hắn mời tất cả các thầy tướng số nổi tiếng trong khu Quốc thống*, mở một cuộc Đại hội Tướng số bí mật.
Khu vực quản lý của chính phủ Quốc dân Đảng trong thời kỳ kháng Nhật và chiến tranh giải phóng.
Trong lòng mỗi thầy tướng số bị điểm danh tham dự đều có sẵn tính toán của riêng mình, họ cho rằng đây là cơ hội hiếm có để thành danh. Mức độ mê tín của Đới Lạp thì ai cũng biết, chỉ cần khéo bợ đỡ Đới Tướng quân thì mọi việc còn lại đều dễ giải quyết. Nhưng họ đã lầm, lần này điều mà Đới Lạp quan tâm không phải là vận tốt xấu của cá nhân, mà là quốc gia đại sự.
Trong hội trường được canh phòng nghiêm ngặt, Đới Lạp vừa đi vừa nói: “Các vị đại sư, nay tai họa ập xuống đất nước, thường ngày các vị đều nhận là thiên hạ đệ nhất, từng thắng Gia Cát Lượng, không chịu kém Lưu Bá Ôn, biết năm trăm năm về trước, năm trăm năm về sau, nay các vị hãy bói thử xem là mất nước hay đánh bại được Nhật Bản? Nếu có thể chiến thắng, thì là thời điểm nào?”
Các đại sư tướng số Lưỡng Hồ* đưa mắt nhìn nhau, thầm nghĩ: trò này đâu có thể tùy tiện nói xằng, không cần biết kết quả gieo quẻ thế nào, chắc chắn phải trả lời là chiến thắng! Bằng không, Đới Tướng quân lại chẳng bóp lòi ngọc hành chúng ta ra ấy chứ!
Hồ Bắc và Hồ Nam.
Màn đại hội này giống hệt cuộc bói toán của các nhà chiêm tinh do trùm phát xít Hitler tổ chức sau này. Ngoài đánh trận ra, Hitler còn có hai sở trường: một là hội họa, hai là chiêm tinh, trong thư viện của ông ta phần lớn đều là sách chiêm tinh. Tháng 3 năm 1938, Hitler bí mật tổ chức “Đại hội tiên tri” tại một thành phố nhỏ có tên gọi Eisenach ở Đức, triệu tập rất nhiều nhà chiêm tinh của Đức thời bây giờ để bói xem triển vọng của cuộc chiến do chính mình phát động. Cuối cùng một nhà chiêm tinh dự đoán rằng: 4 năm sau, chiến cục xoay chuyển, quân Đức bị thương vong lớn bên một dòng sông!
Hitler nghe xong đùng đùng nổi giận: “Đem giam tất cả vào trại tập trung! Ta sẽ cho bọn chúng thấy ta san phẳng thế giới như thế nào!
Kết quả, năm 1942, quân Đức thảm bại đầy kịch tính bên dòng Volga thuộc Liên Xô. Tiếp đến, năm 1943-1944, liên quân Anh - Mỹ phát động cuộc chiến tổng lực nhằm vào Đảng Quốc xã, phát xít Đức bắt đầu tụt dốc.
Dưới sự giám sát của Đới Lạp, các đại sư tướng số nơm nớp lo sợ, giở pháp bảo ra, người xoay la bàn, kẻ bấm độn ngón tay, người này bày vòng phong thủy, người khác thì lướt bàn tính, sau một hồi vật vã đều đưa ra dự đoán: Quốc quân* tất thắng! Tuế tại Mậu Dần! Nghĩa là: Quân đội Quốc dân Đảng nhất định sẽ chiến thắng quân Nhật vào năm 1938.
Quân Cách mạng Quốc dân.
Đới Lạp nghe xong tức đến độ thiếu chút nữa thì té xỉu, thầm nghĩ: “Chẳng thà các ngươi nói thẳng là năm nay có thể đánh thắng cho rồi!” Liền sau đó quát tháo: “Cút, cút, tất cả cút cho ta!”
Đám thầy tướng số thất thểu nhấc mông, giữ cái mạng còi mà chuồn cho vội.
Đới Lạp thõng người trên sofa, chẳng còn thiết cái gì nữa. Bỗng có người hô to: “Báo cáo!”
“Vào đi!”
“Bẩm Tướng quân, có người tên Tổ Gia xin gặp!
Đới Lạp thoạt nghe mắt sáng lên: “Thiết Bản tiên sinh - đệ nhất cao thủ Giang Hoài, mới chỉ nghe danh mà chưa có dịp gặp mặt, hãy lập tức mời vào!” Tên đặc vụ vừa nhận lênh quay ra, Đới Lạp đã gọi giật lại: “Hãy khoan, vị cao nhân này ta phải đích thân ra mời mới được!”
“Vâng!”
Đới Lạp thay bộ quân phục bằng bộ thường phục tinh tươm, vừa định ra cửa, bỗng chuông điện thoại reo, Đới Lạp nhấc máy: “Vâng! Thưa Hiệu trưởng! Vâng, học sinh lập tức lên ngay!” Là Tưởng Giới Thạch gọi.
Tại tư dinh ở Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch đang ngồi trong phòng, còn Đới Lạp thì đứng nghiêm đợi lệnh.
“Ta nghe nói cách đây không lâu có một vị cao tăng xem tướng cho Mao Trạch Đông, việc này cậu có biết không?” Tưởng Giới Thạch chậm rãi hỏi.
“Đúng vậy! Học sinh có nghe qua!” Đới Lạp đáp.
“Rốt cuộc có việc này hay không?” Tưởng Giới Thạch truy đến cùng.
“Việc này... có thể đều là dân tình đồn đại...” Đới Lạp rầu rĩ đáp.
“Vị cao tăng đó nói ông ta là Chân mệnh Thiên tử! Nghe nói còn ban cho bốn chữ số: 8, 3, 4, 1. Có ý gì vậy?”
“Điều... điều này... học sinh không biết.”
Đới Lạp không hề nói dối, ông ta quả thực không biết, và khi đó chẳng ai biết được điều này.
Tương truyền trong cuộc hành quân trường chinh, Mao Trạch Đông dẫn Hồng quân đi ngang qua một ngôi chùa, sau khi xem tướng mặt Mao Trạch Đông, vị cao tăng trong chùa nói ông tất giành được giang sơn, sau đó lại đọc một dãy số: 8341.
Mao Trạch Đông mỉm cười, hỏi: “Thưa cụ, dãy số này có nghĩa gì?”
Vị cao tăng chắp tay trước ngực, nói: “Đó chính là thiên cơ, thí chủ tự ngẫm đi.”
Là lãnh tụ cách mạng giai cấp vô sản của Trung Quốc, Mao Trạch Đông tất nhiên không vì việc vụn vặt này mà dừng bước đường phấn đấu của mình, ông ngước nhìn trời xanh, nói một cách thâm tình mà kiên định: “Thiên hạ của Cộng sản Đảng là chiến đấu vì nhân dân, Hồng quân không tin vào thiên cơ, chúng tôi chỉ tin vào quần chúng công nông, ai vì nhân dân phục vụ, người đó sẽ nắm được thiên cơ.” Nói rồi, dặn dò cảnh vệ đem một ít mì Thanh Khoa* biếu cao tăng: “Thưa cụ, cụ hãy giữ gìn sức khỏe, nhất định phải đợi đến ngày thiên hạ thái binh.”
Giống lúa mì được trồng ở vùng Tây Tạng, Thanh Đảo, Trung Quốc.
Từ đó, dãy số “8341” trở thành một câu đố, sau này Mao Trạch Đông quyết định đặt số hiệu của Trung đoàn Cảnh vệ Trung ương là “8341”.
Thời gian dần trôi, bể dâu thăng trầm, sự kiện lịch sử năm 1976 cuối cùng cũng xua tan đám sương mù này. Sau Đường Sơn đại địa chấn* chừng hơn một tháng, lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông cũng tạ từ thế giới. Mọi người bắt đầu lật xem trang sử một đời chinh chiến của Mao Chủ tịch, ngạc nhiên phát hiện ra rằng: từ khi bước lên nắm quyền lãnh đạo tại Hội nghị Tuân Nghĩa* năm 1935 cho đến lúc qua đời vào năm 1976, ông đã trải qua đúng 41 năm cầm quyền, thọ 83 tuổi. Và thế là dãy số bí ẩn “8341” cuối cùng đã được giải đáp.
Mùa hè năm 1976, trận động đất 7,8 độ richter đã cướp đi sinh mạng của hơn 200.000 người dân thành phố Đường Sơn.
Hội nghị Bộ Chính trị Trung Quốc mở rộng, diễn ra từ ngày 15-17/1/1935 tại Tuân Nghĩa, Quý Châu.
Đương nhiên đây đều là lời dân gian truyền tụng, là sự yêu mến vô hạn đối với Chủ tịch mà diễn dịch thành truyền kỳ. Nhiều năm sau, một lãnh đạo Trung đoàn Cảnh vệ Trung ương đã ra mặt làm sáng tỏ sự kiện lịch sử: dãy số 8341 chính là một số hiệu quân đội của Trung đoàn Cảnh vệ Trung ương, căn bản không có chuyện gặp cao tăng gì đó trong cuộc trường chinh của Mao Chủ tịch. Những truyền kỳ khác về số hiệu 8341 đều không có căn cứ.
Tưởng Giới Thạch khi đó lại tin là thật: “Hãy tìm ngay vị Phật sống đó, cậu có hiểu ý của tôi không?”
Đới Lạp nhanh nhảu nói: “Hiệu trưởng, học sinh vẫn đang tìm ạ, chỉ có điều vẫn chưa tìm thấy, do đó chưa dám báo cáo cho Hiệu trưởng!”
Tưởng Giới Thạch gật đầu mỉm cười, ông ta rất coi trọng môn sinh có xuất thân lưu manh này, vì cậu ta luôn nghĩ thay những điều mà ông ta nghĩ, lo lắng thay những điều mà ông ta lo lắng. Vì Tưởng Giới Thạch, Đới Lạp có thể hy sinh tất cả, nhất là trong sự biến Tây An, Bọn Hà Ứng Khâm muốn giết Tưởng Giới Thạch, Đới Lạp bất chấp an nguy của bản thân, không ngần ngại theo sát Tống Mỹ Linh đến Tây An, đồng thời viết tuyệt bút trong lúc câu lưu: “Hy sinh vì nước, kiên định sở nguyện, duy chưa gặp lãnh tụ, chết không cam lòng!” Từ đó, Đới Lạp càng nhận được sự tin tưởng của Tưởng Giới Thạch. Người ngoài đều gọi Đới Lạp là “bội kiếm của Tưởng Giới Thạch”.
“Nhưng bù lại học sinh tìm được một vị đại sư khác!” Đới Lạp nói.
“Vi Thiên Lý?”
Đới Lạp lắc lắc đầu.
“Viên Thụ San?”
Đới Lạp vẫn lắc đầu, sau đó nói: “Vị này là Thiết Bản tiên sinh, mệnh danh là cao thủ tướng số đệ nhất Giang Hoài.”
Tưởng Giới Thạch thoạt nghe vậy liền nổi giận: “Ta nghe nói người này có dính líu đến Vương Á Tiều kia mà!?”
Đới Lạp sững người: “Hiệu trưởng, tì vết không che được ánh ngọc! Dù gì vẫn là tài năng có thể dùng được! Trước đó không lâu chính ông ta đã đập tan cơ quan đặc vụ Nhật Bản trên đảo Chu San.”
Tưởng Giới Thạch ngờ vực: “Tin này có đáng tin cậy không?”
“Có lẽ đáng tin cậy. Tiếng pháo vọng đến từ quần đảo Chu San nghe nói có liên quan đến...”
“Thế nào là có lẽ đáng tin cậy? Tin cậy là tin cậy! Không tin cậy là không tin cậy!” Tưởng Giới Thạch ngắt lời Đới Lạp.
“Vâng! Hiệu trưởng! Học sinh sẽ cho điều tra ngay!” Tuy miệng nói như vậy, nhưng trong lòng cũng chẳng biết làm cách nào, muốn lẻn vào được tổ chức đặc vụ của Nhật đâu có dễ.
Tưởng Giới Thạch nhìn Đới Lạp, nói: “Cậu đi gặp ông ta đi, đối với bọn thổ phỉ giang hồ có qua lại với Vương Á Tiều, phải hết sức cẩn thận!”
Đới Lạp hô to: “Vâng!” rồi quay ra.
Để tìm Tổ Gia, Đới Lạp suy nghĩ hết cách, cuối cùng Phùng Tư Viễn làm việc dưới trướng Đới Lạp bỗng nghĩ đến Giang Phi Yến, dù rằng khi đó ông ta vẫn chưa biết Giang Phi Yến và Tổ Gia cùng là môn sinh của phái Giang Tướng, nhưng ông ta nghĩ: đã là hành nghề tướng số, đều là người trong giang hồ, chắc chắn sẽ biết tiếng nhau.
Phùng Tư Viễn hỏi Giang Phi Yến: “Nàng có biết ‘Thiết Bản tiên sinh’ ở Giang Hoài không?”
Giang Phi Yến nghe xong thoáng giật mình: “Ừm... cũng có nghe qua.” Bà biết là không thể nói không, bởi như vậy thì quá giả tạo, trái lại sẽ lộ chân tướng.
“Vậy có thể tìm được ông ta không?” Phùng Tư Viễn truy hỏi.
Giang Phi Yến suy nghĩ một lát, nói: “Khi Gia sư còn tại thế, tôi từng gặp người này, ông ta là truyền nhân của Thiết Bốc Tử, còn Gia sư là truyền nhân của Thanh Nhất Phái trên núi Mao Sơn, cùng một đạo môn, từng có qua lại. Nhưng người này hành tung bất định, trong giang hồ có rất nhiều người muốn được thỉnh giáo, ông ta cũng thường xuyên đi đây đó, để tôi thử xem sao!”
“Cảm ơn Giang tiểu thư.” Phùng Tư Viễn nói một cách dí dỏm.
“Nghiêm chỉnh đi!” Giang Phi Yến lườm ông ta một cái.
Rất nhanh chóng Giang Phi Yến đem việc này báo cho Tổ Gia, hỏi ông có đồng ý gặp không.
Với bọn đặc vụ Quân thống, Tổ Gia xưa nay hận đến tận xương tủy, nhất là từ sau khi Vương A Tiều bị bọn chúng ám sát, nên mỗi khi nghe đến từ “Quân thống” là ông lại thấy nóng mặt.
“Xem tướng số cho đặc vụ Quân thống ư? Tên Đới Lạp đó vừa hại chết Cửu gia đấy!” Tổ Gia gằn giọng.
“Nhưng Tổ Gia khuây lên cơn sóng gió quá lớn, Đới Lạp đã để mắt đến ông rồi.” Giang Phi Yến lo sợ.
“Yến tỷ, Nam phái từ xưa có dây dưa với triều đình, đó là quy luật sinh tồn; Đông phái từ xưa đến nay luôn ở trong dân dã, nếu ta đi gặp Đới Lạp, e rằng ngày sau sẽ liên lụy đến cả phái Giang Tướng, đến lúc đó chỉ sợ chúng ta đối phó không nổi. Bà xem Lưu sư gia của Tây phái, thiếu chút nữa bị Lưu Tương bắn chết, qua lại với Quốc dân Đảng, chúng ta vẫn còn non lắm! Hiện nay, Quốc dân Đảng vẫn chưa biết sau lưng chúng ta có phái Giang Tướng, cũng không biết chúng ta là những tên lừa đảo, càng không biết Tần Bách Xuyên, Tiền Diệu Lâm, bà, tôi, bốn nhà đại tướng số tuy phân chia ở đông tây nam bắc lại là người một nhà, nếu tin này lộ ra, cả phái Giang Tướng cách sự diệt vong chẳng bao xa đâu!”
Giang Phi Yến nhìn Tổ Gia, đột nhiên hỏi: “Tổ Gia, chúng ta là kẻ lừa đảo ư?”
Tổ Gia ngây người.
Giang Phi Yến nói tiếp: “Chúng ta không phải là kẻ lừa đảo! Tổ Gia tinh thông bát tự, lục hào, phong thủy, Phi Yến cũng kế thừa thuật hô phong hoán vũ của Ngũ Nương, chúng ta lăn lộn bao nhiêu năm như vậy, đã tôi luyện được bản lĩnh thực sự, công phu của chúng ta mạnh hơn nhiều so với đám thầy tướng số đầu đường xó chợ! Chỉ có điều chúng ta có sứ mệnh cướp của người giàu chia cho người nghèo, thay trời hành đạo, khiến chúng ta ngoài việc sử dụng bản lĩnh thực sự ra, còn phải dựa vào lừa đảo mà sống, chúng ta phải kiếm thật nhiều tiền mới có thể giúp đỡ càng nhiều người nghèo, đây là sứ mệnh của chúng ta. Kẻ khác mượn tướng số để lừa tiền, chúng ta lại khoác lên chiếc áo lừa đảo mà hành thiện, rốt cuộc ai mới là kẻ lừa đảo đây?”
Câu nói của Giang Phi Yến khiến Tổ Gia bừng tỉnh, bao nhiêu năm nay gian nan vất vả, lập bẫy lừa đảo, thật thật giả giả, thập tử nhất sinh, dường như quên mất rằng bản thân là người tốt.
Tổ Gia ngây người ra hồi lâu, nói: “Nhưng người của Quân thống tìm ta, chẳng hỏi ngoài hai việc, một là vận tốt xấu của cá nhân, hai là xem công cuộc kháng Nhật. Việc như vậy há có thể tùy tiện bói toán ư? Chúng ta chưa đạt đến cảnh giới đó. Trung Hoa chẳng thiếu nhân tài, nhưng không phải là chúng ta.”
“Tổ Gia phải đi! Ban đầu tôi do dự có nên để Tổ Gia gặp họ không, nay tôi nghĩ kỹ rồi, Tổ Gia phải gặp bọn họ. Gặp bọn họ rồi, phái Giang Tướng sẽ được an toàn!” Giang Phi Yến chớp mắt nói.
Tổ Gia lại ngây người ra: “Sao bà lại nói như vậy?”
Giang Phi Yến bước lại gần, thì thầm vào tai Tổ Gia mấy câu.
Tổ Gia nghe xong bật cười ha hả: “Yến tỷ quả không hổ là Đại sư bá Nam phái, hiểu rõ huyền cơ trong quan trường, bội phục, bội phục!”
Giang Phi Yến đỏ mặt: “Khiến Tổ Gia chê cười rồi.”