Tại Bộ Tư lệnh phòng vệ Côn Luân quan, Tổ Gia lần đầu tiên gặp chiến tướng Quốc dân Đảng Bạch Sùng Hy.
Bạch Sùng Hy, nhân vật nòng cốt của quân phiệt Quế hệ*, được tôn là “Tiểu Gia Cát”, là người thông minh cơ trí, gan dạ sáng suốt, tài năng quân sự nổi trội, mánh khóe chính trị hơn người, ông ta được hai đảng Quốc, Cộng nể trọng. Nhân vật được Nguyên soái Lâm Bưu năm xưa lưu ý nhất chính là Bạch Sùng Hy, hai người từng nhiều lần giao chiến, có thắng có bại.
Quế hệ: chỉ lớp nhân vật quân chính ở Quảng Tây, đại diện cho tập đoàn thống trị quân phiệt từ sau Cách mạng Tân Hợi (1911). Quế hệ được phân thành Cựu Quế hệ tiêu biểu là Lục Vinh Đình, Tân Quế hệ tiêu biểu là Lý Tôn Nhân, Bạch Sùng Hy.
Tổ tiên Bạch Sùng Hy là người Ả Rập, trong dòng họ có nhiều người đỗ đạt làm quan, đến đời cha ông ta thì bỏ nghiệp văn theo nghề buôn bán. Bạch Sùng Hy từ nhỏ thông minh đĩnh ngộ, đọc qua là nhớ, năm 1907 thi đỗ trường Thiếu sinh quân Quảng Tây với thành tích đứng thứ 6 toàn tỉnh. Năm 1911 Cách mạng Tân Hợi nổ ra, Bạch Sùng Hy gia nhập đội Cảm tử quân, từ đó bắt đầu cuộc đời binh nghiệp. Trong thời kỳ chiến tranh Bắc phạt, ông ta từ Trấn Nam quan đánh thẳng một mạch đến Sơn Hải quan, được tôn là “người đầu tiên hoàn thành Bắc phạt”.
Năm 1937, sau khi hội chiến Tùng Hộ (còn gọi là trận chiến Thượng Hải) thất bại, Bạch Sùng Hy chủ động xin chỉ thị cấp trên cho phép đối đầu trực tiếp với quân Nhật, Tưởng Giới Thạch phê chuẩn. Kết quả quân đội Quế hệ chưa từng có kinh nghiệm tác chiến chống Nhật, bị Sư đoàn 9 Nhật đánh cho tan tác, đội cảm tử mấy trăm ngàn người mà Bạch Sùng Hy dày công bố trí phút chốc bị đánh tan dưới làn hỏa pháo dày đặc của quân Nhật. Từ đó về sau, Bạch Sùng Hy ngậm đắng nuốt cay, chịu bao tủi nhục. Năm 1938, ông ta phối hợp với tướng Lý Tôn Nhân (được mệnh danh là Lý Bạch) cuối cùng cũng đánh bại quân Nhật trong trận Đài Nhi Trang ở Sơn Đông, giành được thắng lợi đầu tiên kể từ sau lần Lâm Bưu “đại thắng Bình Hình quan”, báo thù rửa hận.
Nhằm phòng thủ Côn Luân quan, đảm bảo thắng lợi cho cuộc hội chiến Nam Ninh, lần này Tưởng Giới Thạch quyết dốc toàn bộ vốn liếng, huy động bộ đội tinh nhuệ nhất của Quốc dân Đảng tử thủ tại cửa ngõ Nam Ninh, giao cho Bạch Sùng Hy chỉ huy đội quân cơ giới hóa duy nhất - Quân đoàn 5. Trước khi đưa ra quyết định này, Tưởng Giới Thạch cũng phải cân nhắc rất nhiều, vì ông ta và Bạch Sùng Hy yêu ghét đủ cả, muốn dùng Bạch Sùng Hy nhưng lại không muốn để vượt ra ngoài tầm kiểm soát, tránh uy hiếp đến sự thống trị của mình. Nhất là từ sau khi Đới Lạp đích thân cử người đi thăm dò phong thủy nơi sinh của Bạch Sùng Hy, Tưởng Giới Thạch càng dè chừng hơn.
Quê Bạch Sùng Hy ở khu Lâm Quế, phía tây Quế Lâm, nơi đây có hai đỉnh núi nhấp nhô, nhận được khí long mạch Hội Tiên (tây nam Lâm Quế). Xét về tổng thể, cả ngọn núi giống như con lạc đà đang ngẩng cao đầu, mà quê họ Bạch nằm ở đỉnh đầu con lạc đà này, phong thủy học gọi đây là “lạc đà tiến bảo”, tất sinh ra vương tướng công khanh.
Bản thân Bạch Sùng Hy cũng nhận thức rõ trọng trách nặng nề lần này. Là người có nghiên cứu về phong thủy học, sau khi nhận điện báo của Đới Lạp, ông ta lập tức cho mời Tổ Gia đến, kết hợp xem xét hướng long mạch của Côn Luân quan để bày binh bố trận.
Nhưng Bạch Sùng Hy không hề mê tín, cái gọi là bày binh bố trận theo phong thủy không được đi ngược lại yêu cầu chiến lược thực tế, và chỉ có giá trị tham khảo mà thôi.
Sau khi cùng Tổ Gia vạch kế hoạch xong, Bạch Sùng Hy bắt đầu điều động quân đội.
Ngày 23 tháng 11 năm 1939, dưới sự yểm trợ của máy bay, Sư đoàn 5 Nhật vượt dòng Ưng Giang tấn công Ưng Ninh, Sư đoàn 170 Quốc dân Đảng chống cự không nổi. Tối ngày 24, Nam Ninh thất thủ.
Bạch Sùng Hy bừng bừng lửa giận, gửi điện khẩn cho Tưởng Giới Thạch: nhân lúc quân Nhật chưa trụ vững ở Nam Ninh, cần mau chóng phát động phản công toàn diện, tất khiến quân Nhật thiệt hại nặng nề! Ông ta muốn cho kẻ địch trở tay không kịp.
Bản tính “nghi vẫn dùng, dùng vẫn nghi” của Tưởng Giới Thạch một lần nữa được dịp nổi lên, ông ta nhớ lại lần thảm bại do chủ động xuất kích đánh Nhật của Bạch Sùng Hy hai năm về trước, bởi vậy cứ chần chừ không quyết.
Bạch Sùng Hy như ngồi trên đống lửa, sốt ruột hét lên: “Nếu để lỡ thời cơ, Côn Luân quan nguy mất!”
Quả nhiên, sau hai ngày nghỉ ngơi, quân Nhật chỉnh đốn, tập hợp toàn bộ cơ số quân thành Binh đoàn Ưng Khâm, sang ngày 26 tấn công mãnh liệt cứ điểm ải Cao Phong. Ngày 4 tháng 12, Côn Luân quan thất thủ. Phía Nhật lập tức đánh điện cho Quân bộ: long mạch đã bị khóa, Trung Hoa chẳng mấy chốc sẽ diệt vong!
Sau khi thu được điện tín của Nhật, Bạch Sùng Hy ngồi phịch xuống ghế: “Hỏng rồi, hỏng hết rồi! ủy viên trưởng chừng nào mới cho phản công đây?”
Tổ Gia cũng thấy khó hiểu trước phản ứng chậm chạp của Tưởng Giới Thạch, sốt ruột thở dài: “Bày binh bố trận lâu như vậy, cuối cùng lại bị chính người mình trói chân, để lỡ mất thời cơ!”
Trong việc xử lý vấn đề trọng đại, Tưởng Giới Thạch luôn tỏ ra chậm chạp, do dự, khi cần đánh thì không đánh, khi không cần đánh lại lao vào, điều này hẳn có liên quan đến tên gọi của ông ta, “Trung Chính”, không thiên lệch, không liều lĩnh, cũng không lùi lại. Điều này hoàn toàn tương phản với Mao Trạch Đông, “người bạn cũ” của ông ta. Mao Trạch Đông luôn đánh đòn phủ đầu, không theo khuôn phép cứng nhắc, do đó Mao đánh bại Tưởng là điều tất yếu của lịch sử.
Mãi đến ba ngày sau khi Côn Luân quan thất thủ, Tưởng Giới Thạch mới hạ lệnh: Phản công! Thề chết đoạt lại Côn Luân quan!
Đêm đến, Tổ Gia bí mật gặp Bạch Sùng Hy, chỉ ra rằng: muốn đoạt lại Côn Luân quan, trước tiên phải tấn công hai cao điểm là núi Tiên Nữ và dãy Lão Mao ở xung quanh, hai cao điểm này giống như cặp sừng trâu, hình thành nên cách cục Cấu Giảo sát trong phong thủy học, chỉ cần chiếm được hai cao điểm này, sát khí sẽ mất, Côn Luân quan sẽ dễ bề công phá!
Bạch Sùng Hy nói: “Điều này cũng giống nguyên lý ‘ư cao lâm hạ’ trong chiến thuật! Mẹ kiếp! Dù có dốc hết vốn liếng cũng phải đoạt lại Côn Luân quan!”
Ngày 18 tháng 12, chiến dịch Côn Luân quan bi tráng nổ ra. Một tấc núi sông một tấc máu đổ, Quốc quân ba lần đoạt được Côn Luân quan, rồi lại ba lần bị quân Nhật đánh hạ. Thiếu tướng Lục quân Quốc dân Đảng Trịnh Động Quốc dẫn đầu Sư đoàn 1 danh dự, triển khai đánh giáp lá cà với quân Nhật, toàn bộ sư đoàn dùng lưỡi lê giáp chiến với giặc. Côn Luân quan máu chảy thành sông, cả sư đoàn 13 ngàn người, khi thu dọn chiến trường chỉ còn lại 700.
Cuộc chiến đi vào hồi cuối, quân chính quy hy sinh gần hết, đến lượt dân chúng cầm súng cầm đao xông lên ngay sau quân đội. Chứng kiến cuộc huyết chiến khốc liệt như vậy, Tổ Gia nước mắt giàn giụa, lập tức triệu tập tất cả anh em: “Tất cả xông ra chiến trường cho ta, không giành lại được Côn Luân quan, thà chết không quay về!”
“Vâng!” các anh em hô to một tiếng.
Người của Mộc Tử Liên tuy chưa từng được đào tạo quân sự chính quy, nhưng bạo tay hơn dân chúng rất nhiều, thậm chí không thua quân chính quy là mấy. Nói là quân chính quy nhưng phần lớn là lính động viên, hôm qua còn dắt trâu cày ruộng, hôm nay khoác lên mình bộ quân phục. Anh em Mộc Tử Liên xông vào giết địch đến nỗi mặt mày đỏ ngầu, mắt long sòng sọc, người có súng dùng súng, không có súng thì dùng dao thái, búa rìu. Nhất là Đại Bá đầu và Nhị Bá đầu, hai người cởi phăng cả áo, cầm hai con dao thái sáng loáng xông lên, thét lớn: “Tao giết hết lũ giặc chúng mày!” Không ít lần xông lên tuyến đầu, Tổ Gia lo hai người họ cùng bị thương, luôn cầm súng bám sát phía sau, đề phòng quân địch đánh lén.
Chiến dịch phản công kéo dài hơn hai tháng, Mộc Tử Liên tổn thất 15 anh em, Tổ Gia và các Bá đầu đều bị thương, nhất là Tiểu Lục Tử, bị trúng một dao khi đánh giáp lá cà với quân Nhật.
Ngày 24 tháng 2 năm 1940, quân đội Trung Quốc cuối cùng đã giành lại được Côn Luân quan! Hôm đó gió cuộn ào ào, núi rừng gào thét, tướng sĩ nổ súng thương tiếc những đồng đội, nhân dân đã ngã xuống, khúc ca bi tráng vút tận tầng mây.
Bạch Sùng Hy nắm chặt lấy tay Tổ Gia: “Các anh không chỉ là thầy tướng số, mà còn là người có công với nước.”
Tổ Gia lắc đầu, nói: “Tướng quân quá khen! Bảo vệ quốc gia là trách nhiệm của mọi người!”
Tin tức truyền về Nhật, đến người Nhật cũng cũng phải cảm thán: lần này quân đội Trung Quốc tấn công với quy mô rất lớn, ý chí chiến đấu mạnh mẽ, hành động ngoan cường hiếm thấy. Chiến quả của quân ta tuy lớn nhưng tổn thất cũng không phải là nhỏ.
Đến lúc này, cuộc xâm lược Trung Hoa của Nhật bước vào thời kỳ giằng co nhất, khó khăn nhất, chiến tuyến bị kéo quá dài, vật tư cung ứng không kịp, thiệt hại về người ngày càng tăng cao. Trước mặt là Quốc dân Đảng mãi không hạ được, sau lưng là Bát lộ quân của Cộng sản Đảng liên tiếp xuất kích. Nhất là từ tháng 8 đến tháng 12 năm đó, Cộng sản Đảng phát động “Bách đoàn đại chiến” ở Hoa Bắc, chỉ trong vòng ba tháng đã phát động hơn 1.800 cuộc chiến lớn nhỏ, khiến quân Nhật chết và bị thương hơn 20 ngàn người, đập tan “chính sách lồng giam”, khiến quân Nhật khó cứu viện cho nhau, bước chân Nam tiến bị chậm lại.
Kế hoạch tốc chiến tiêu diệt Trung Quốc thất bại thảm hại khiến Nhật Bản bắt đầu triển khai kế hoạch “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Làm cách nào để nhanh chóng bổ sung nguồn lực? Chỉ có xâm lược! Chiếm lĩnh và cướp đoạt là phương pháp nhanh nhất để lấy được tài nguyên. Lúc này, đại thần Lục quân Hideki Tojo chuyển hướng sang các nước Đông Nam Á, đồng thời dâng biểu lên Thiên Hoàng nói rõ việc này.
Thiên Hoàng lập tức chuẩn tấu, nhưng lời kiến nghị tiếp sau đó của Hideki Tojo lại khiến Thiên Hoàng và các nguyên lão không hiểu ra sao, ngay cả người đứng đầu đặc vụ Nhật là Kodama Yoshio cũng vô cùng ngạc nhiên: Hideki Tojo muốn đánh nước Mỹ!
Thủ tướng Nhật Bản khi đó là Konoe Fumimaro đã chất vấn Hideki Tojo: “Hiện nước Mỹ đang tập trung sự chú ý vào Australia, chúng ta nhân cơ hội chiếm lấy Đông Nam Á, tại sao Tướng quân lại muốn đánh Mỹ trước? Huống hồ quân đội Thiên Hoàng có thể đánh được quân Mỹ hay không vẫn còn chưa biết, ngộ nhỡ quân Mỹ phản công, e rằng không có lợi cho chiến sự Đông Á!”
Vốn là người vô cùng thông minh và nhạy bén, Hideki Tojo đưa ra câu trả lời vô tiền khoáng hậu: “Ta không đánh họ thì sớm muộn họ cũng đánh ta! Đôi khi làm một việc thì đừng nên suy nghĩ quá nhiều, nó giống như tự sát vậy, nhắm mắt lại là xong!” Ông ta nào có hiểu, bản thân ông ta tự sát, tốt thôi, nhưng sẽ kéo theo toàn bộ người dân Nhật Bản.
Cuối cùng, Thiên Hoàng vẫn đặt trọng trách lên vai một kẻ đầu óc không bình thường như ông ta: “Đại thần Lục quân muốn đánh thì đánh thôi!”
Kodama Yoshio bạo gan nói: “Ngài Hideki Tojo, theo phép Kỳ môn hoàn vũ, lúc này khai chiến với Mỹ là không phù hợp với quy luật phong thủy. Dịch lý có câu: ‘Suy thần xung vượng, vượng giả phát; vượng thần xung suy, suy giả suy’*, so với Mỹ chúng ta vẫn yếu thế hơn, nhỡ ra chọc giận nước Mỹ...”
Kẻ yếu đánh kẻ mạnh, kẻ mạnh sẽ càng mạnh hơn. Kẻ mạnh đánh kẻ yếu, kẻ yếu sẽ càng yếu đi.
“Sau này đừng có nhắc đến mớ lý luận giẻ rách đó với ta! Ta chính là phong thủy, là Dịch lý! Có ý kiến gì nữa không?”
“Ừm... không có.”
Sau đó không lâu, Hideki Tojo tiến hành cải tổ nội các, tập trung đại quyền quân-chính vào tay mình, rồi cùng với một viên tướng liều mạng không kém sinh cùng năm với mình là Yamamoto Isoroku lên kế hoạch sự kiện Trân Châu Cảng.
Sáng sớm ngày 7 tháng 12 năm 1941, khi binh sĩ Mỹ vẫn đang say ngủ thì bị đánh thức bởi tiếng máy bay gầm rú, họ trở mình, ngáp ngắn ngáp dài, vẫn tưởng là không quân đang diễn tập. Ngay sau đó mưa bom dội xuống, hạm đội Thái Bình Dương chìm trong biển lửa, Trân Châu Cảng bị tập kích, cuộc chiến Thái Bình Dương bùng nổ!
Tin tức truyền về nước Mỹ, Tổng thống Franklin D. Roosevelt như không tin vào tai mình. Từ xưa đến nay, vị Tổng thống ngồi xe lăn do di chứng của bệnh bại liệt này luôn nổi tiếng là “hành động không theo quy tắc”, nhưng lần này ông đã gặp phải kẻ hành động không theo quy tắc hơn thế: kẻ nhân cách phân liệt Hideki Tojo.
Liền sau đó, Nhật Bản phát động cuộc xâm lược các nước Đông Nam Á và những vùng khác, chưa đầy nửa năm đã chiếm được Hồng Kông, Malaysia, Philippines, đảo Guam, Singapore, Myanmar và Indonesia.
Cửa hiệu của Hoàng Pháp Dung ở Nam Dương cũng buộc phải đóng cửa, người quản lý bán tất cả đồ đạc, sau đó đem toàn bộ tiền bạc sang Mỹ tìm Hoàng Pháp Dung.
Hồ Vạn Hùng, chồng của Hoàng Pháp Dung hồ hởi nói: “Giờ thì tốt rồi, nội bộ quốc hội Mỹ luôn tranh luận có nên tham chiến hay không, hành động này của Hideki Tojo sẽ khiến nước Mỹ không thể không tham chiến! Có Mỹ nhảy vào, quân Nhật trước sau khó mà xoay xở, kháng chiến tất có hy vọng!”
Hoàng Pháp Dung gật đầu.
Ngày 4 tháng 6 năm 1942, cuộc hải chiến Midway* nổ ra, quân Mỹ nắm toàn bộ tin tình báo của Nhật, tổ chức một trận phục kích khiến quân Nhật thiệt hại nặng nề, mất 300 máy bay và hơn 100 phi công.
Quần đảo Midway, thuộc bắc Thái Bình Dương, gần cực tây bắc quần đảo Hawaii.
Năm 1943, ba nước Anh, Mỹ, Trung nhóm họp tại Cairo, đưa ra “Tuyên bố Cairo” nêu rõ ý định của khối Đồng minh về việc tiếp tục triển khai lực lượng quân sự cho đến khi nào Nhật Bản chịu đầu hàng vô điều kiện.
Đến lúc này, quân át chủ bài của Nhật dường như đã bị đánh tan, binh lực hao hụt nghiêm trọng, bất đắc dĩ phải thu hẹp chiến tuyến, ở nước Nhật, ngay cả đứa trẻ mười mấy tuổi cũng hăng hái đầu quân dưới sự cổ động của tư tưởng chủ nghĩa quân quốc, từng đoàn từng đoàn trẻ em được đưa đến đông bắc Trung Quốc, dù không thôn tính được Trung Quốc, cũng phải giữ bằng được Mãn Châu quốc.
Cùng lúc đó, tiếp tế vật tư của quân Nhật cũng ngày càng thiếu hụt, máy bay, đại bác, súng ống liên tục hư hại mất mát, khí tài quân sự sản xuất không kịp, trang bị quân đội ngày càng xuống cấp.
Trong một lần quân Mỹ phục kích toán lính dù Nhật, họ đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy toán lính nhảy dù đều cởi trần, tay cầm lưỡi lê, ngoài ra không được trang bị thêm bất kỳ thứ gì khác. Lính Mỹ đứng ngẩn ra nhìn, không biết đó là chiến thuật gì, thử nổ vài phát súng, quân Nhật trúng đạn chết. Sau đó toán lính dù bị tóm gọn, lính Mỹ mới biết đây là nhóm lính mới gia nhập quân đội, Cục Quân nhu không có đủ trang bị vũ trang cho họ, nhưng đánh trận không thể không mặc quần, nên mỗi người được phát một chiếc quần, một lưỡi lê, trước khi lên máy bay, cơ quan Cung giáo phát cho mỗi người một tấm bùa hộ mệnh, nói: “Các anh yên tâm đi, đeo cái này vào đạn bắn không trúng, mà có trúng đi nữa, linh hồn vẫn được vào đền Yasukuni!” Thế là đám tân binh mặc độc chiếc quần, lên máy bay xông ra chiến trường.