Sau một trận tuyết lớn, năm 1937 đã sang.
Đầu xuân tiết trời càng lạnh, một buổi sáng nọ, chú chim hỉ tước đậu trên đầu nhành cất tiếng líu lo rộn ràng. Hoàng Pháp Dung tươi cười nói với Tổ Gia: “Thầy! Hôm nay sẽ có tin vui, thầy coi chú hỉ tước này hót thật khoái biết bao!
Tổ Gia cũng rất vui, một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt ông.
Đến giờ Tỵ, quản gia vào báo: “Đại sư bá Nam phái đến! Tam gia, Tứ gia, Ngũ gia cũng trở về rồi ạ!”
Giang Phi Yến đột nhiên đến thăm, còn cả Tam Bá đầu, Tứ Bá đầu, Ngũ Bá đầu cùng về một lượt, điều này khiến Tổ Gia vô cùng sửng sốt, vội bước ra ngoài nghênh đón.
Vừa vào cửa, Tam Bá đầu, Tứ Bá đầu, Ngũ Bá đầu nhao nhao quỳ xuống khấu đầu trước Tổ Gia, rồi khóc rống lên: “Tổ Gia, chúng con rốt cuộc cũng tìm được thầy rồi!” Tổ Gia liền vội vàng đỡ ba người dậy.
Giang Phi Yến thấy Tổ Gia gầy đi nhiều, xót xa hỏi: “Tổ Gia vẫn ổn chứ?”
“Đều ổn, đều ổn cả. Yến tỷ mau vào nhà đi.
Sau khi vào nhà, Tổ Gia và Giang Phi Yên hàn huyên một hồi, sau đó Tam Bá đầu bắt đầu kể lại quá trình họ và Tổ Gia lạc nhau, Hoàng Pháp Dung cứ ôm riết lấy tay Giang Phi Yến, tựa đầu lên vai bà im lặng lắng nghe.
• • •
Hôm trên đảo, Tam Bá đầu, Tứ Bá đầu, Ngũ Bá đầu cũng chạy rất nhanh, nhưng vừa chạy tới điểm hẹn thì bị pháo bắn tới tấp, tận mắt thấy thuyền tiếp ứng trúng đạn nổ tan tành, ba người cũng bị sức ép làm cho bất tỉnh. Nhất là Ngũ Bá đầu bị một mảnh gỗ văng trúng đầu, lảo đảo mấy cái rồi ngã vật ra.
Liền sau đó, bọn Nhật đuổi theo. Hai bá đầu đang không biết phải làm sao, lại tiếp mấy quả đạn pháo giội đến, ba người nằm bò sát nhau, tránh được đợt công kích đó. Cách đó không xa, mấy tên lính Nhật không kịp nằm xuống, trong nháy mắt bị chính đạn pháo của phe mình hất tung lên.
Tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Tam Bá đầu nhanh trí bảo Tứ Bá đầu mau cởi bỏ quần áo, sau đó lột quần áo từ xác mấy tên lính Nhật gần đó, nói: “Mau! Mau mặc vào!” Đoạn vừa mặc quần áo, vừa quăng bộ quân phục cho Tứ Bá đầu. Tiếp sau đó, thay quần áo cho Ngũ Bá đầu vẫn đang hôn mê, vừa mặc vừa vỗ nhẹ vào mặt Ngũ Bá đầu: Lão Ngũ, tỉnh lại mau, tỉnh lại mau!”
Thật may Ngũ Bá đầu chỉ bị mảnh gỗ văng trúng ngất đi, một lúc sau đã tỉnh lại, Tam Bá đầu, Tứ Bá đầu dìu anh ta quay ngược trở lại.
Chừng 15 phút sau, tàu Nhật đến. Đám lính Nhật và “hội đạo môn” còn sót lại lần lượt lên tàu.
Vừa lên được tàu, quân Nhật tách người của mình và “hội đạo môn” ra; người của “hội đạo môn” bị dồn xuống phía đuôi tàu, không cho quần áo và cũng chẳng cho ăn uống gì hết. Người Nhật biết rằng tai vạ lần này chắc chắn do người của “hội đạo môn” giở trò, dù vẫn chưa điều tra ra kẻ nào, nhưng cũng đừng ai nghĩ đến việc chạy thoát.
Sau khi điểm lại số người, những kẻ cầm đầu “hội đạo môn” bị dồn về phía cuối tàu chờ lên bờ thẩm vấn.
Tam Bá đầu, Tứ Bá đầu, Ngũ Bá đầu mặc quân phục, mạo hiểm trà trộn trong đám lính Nhật, rồi theo hàng ngũ vào trong khoang tàu uống rượu, ăn gỏi cá.
Canh ba nửa đêm, thuyền sắp cập bờ. Thấy đám lính Nhật xung quanh đang say ngủ, Tam Bá đầu khẽ ra hiệu, ba người lặng lẽ lẻn lên boong tàu, nhân lúc không có ai lần lượt nhảy xuống nước.
Do căng thẳng nên khi nhảy, Tam Bá đầu đập thẳng xuống nước theo phương ngang, phần bụng và hạ bộ bị áp lực nước vỗ mạnh suýt chút nữa thì ngất đi, nhưng cũng cố chịu đau bơi vào bờ.
Sau khi lên bờ, Tứ Bá đầu, Ngũ Bá đầu dìu anh ta rồi nhanh chóng biến mất vào màn đêm. Ba người thất thểu đi chừng bốn năm chục dặm thì trời hừng sáng. Phía trước có một thôn trang, đầu thôn có một cái sân phơi lúa, xung quanh có rất nhiều rơm rạ. Ba người tìm một đống rơm to khuất gió, chui vào đó ngồi co cụm cạnh nhau để giữ ấm.
Tam Bá đầu nới đai lưng quần, ngó thấy cả phần hạ bộ sưng tướng lên.
Ngũ Bá đầu thấy vậy hỏi: “Tam ca, đau không?”
Tam Bá đầu hỏi lại: “Thế cậu nghĩ có đau không?”
“Đau...”
“Mẹ kiếp nhà ngươi! Nếu không phải ông đây ra tay cứu thì ngươi đã bị đạn pháo nổ banh xác trên đảo từ lâu rồi! Đâu còn ngồi đầy mà châm với chọc!” Tam Bá đầu mắng.
Tứ Bá đầu cũng không nhịn được cười: “Tam ca bớt giận, Đông y nói: âm nang thông với tam tiêu*, lúc này chớ nên tức giận, kẻo sẽ càng sưng to đấy!”
Thuật ngữ trong Đông y.
“Ồ, thật thế sao...” Tam Bá đầu lập tức hạ hỏa.
“Hí...” Tứ Bá đầu cuối cùng cũng không nhịn được, bật cười thành tiếng.
“Mẹ kiếp, nhà ngươi cũng trêu ông à!” Tam Bá đầu chưng hửng, ngoác miệng ra chửi.
“Tam ca bớt giận... Chúng ta phải làm gì tiếp bây giờ?” Tứ Bá đầu lo lắng hỏi.
Tam Bá đầu ngước mắt nhìn ra xa, ngoài kia là một màn sương mờ mờ ảo ảo: “Ôi... Tình cảnh thế này không biết khi nào mới ngóc đầu lên được, cứ tạm tìm nơi lánh nạn đi đã.”
“Chi bằng quay lại Thượng Hải, tìm một nơi kín đáo ẩn nấp, đợi Tổ Gia gọi tập hợp?” Tứ Bá đầu nói với giọng đầy thương cảm.
“Hầy... còn không biết Tổ Gia...” Nói đến đây, Tam Bá đầu kịp kìm lại nửa vế sau có ý bất kính.
“Đúng vậy,” Ngũ Bá đầu trầm giọng, “khi đó rắn độc có ở khắp nơi, đạn pháo bay vèo vèo trên đầu, nếu không nhanh chân thì anh em ta đã thành thịt băm từ lâu rồi! Cũng không biết Tổ Gia và các anh em khác thế nào.
“Hoàng Pháp Dung cũng không biết ra sao...” Tứ Bá đầu bỗng dấy lên một niềm thương cảm. Lúc này đây anh ta mới cảm thấy hổ thẹn, cưới Hoàng Pháp Dung đã mấy năm rồi, nhưng chưa bao giờ thực sự yêu thương cô, chưa bao giờ hoàn thành trách nhiệm của người làm chồng, nay chỉ e... đã quá muộn rồi.
“Tam ca, chúng ta quay vào thành đi, có lẽ mấy hôm nữa Tổ Gia sẽ phát ám hiệu...” Tứ Bá đầu miệng thì nói vậy, nhưng trong lòng đang nghĩ đến Hoàng Pháp Dung nhiều hơn.
Tam Bá đầu khẽ thở dài, nói: “Lão Tứ, cậu hiểu đại ca ta mà, ta vốn là tên lưu manh lừa đảo trên phố, may Tổ Gia không ghét bỏ, kết nạp vào phái Giang Tướng, khi đó mới có được cơ hội thi triển quyền cước. Không ai nhớ Tổ Gia bằng ta, nhưng... với tình cảnh của ta hiện nay, đi không được, chạy cũng không xong. Bọn Nhật ăn một vố lớn như vậy, chắc chắn sẽ sục sạo truy lùng gắt gao trong thành, ngộ nhỡ bị bọn chúng phát hiện thì có chạy cũng chẳng thoát! Đến lúc đó sẽ liên lụy đến hai người!”
Ngũ Bá đầu hiểu ẩn ý trong lời Tam Bá đầu, hắng giọng nói: “Tam ca nói chí phải. Chúng ta hãy cứ cách xa Thượng Hải một chút, mà càng xa càng tốt, đợi Tam ca khỏe lại thì quay về tìm Tổ Gia và các anh em.”
Tứ Bá đầu thông minh là vậy, nhưng lúc này trong đầu chỉ có mỗi Hoàng Pháp Dung, hoàn toàn không ý thức đến vấn đề “tẩu phong”.
“Thôi được, nghe theo Tam ca vậy.” Tứ Bá đầu gật đầu nói.
Khi trời sáng, ba người vào trong thôn thuê một chiếc xe bò, đi xuống phía nam, xuôi thẳng Phúc Kiến.
Sau này, ba người tìm được một vị thầy lang, khám cho Tam Bá đầu. Thầy lang kê đơn bôi ngoài, Tam Bá đầu hằng ngày dùng khăn nóng chườm hạ bộ, sau đó bôi thuốc cao lên. Chừng một tuần sau, vết thương đã bớt sưng, cũng không còn đau nữa, nhưng thay vào đó là ngứa ngáy khó chịu. Mà ngứa còn khổ hơn cả đau, Tam Bá đầu chỉ biết nắm chặt tay, nghiến răng chịu đựng.
Một tháng sau, Tứ Bá đầu sốt ruột hỏi: “Tam ca khỏi rồi chứ, vậy chúng ta trở lại Thượng Hải thôi?”
“Ừ, để ta thử xem.” Nói rồi, Tam Bá đầu bước đi bước lại vài bước, “vẫn chưa ổn, còn hơi đau một chút...”
Tam Bá đầu đang đợi, đợi âm mưu của hắn trở thành hiện thực. Nếu thêm mấy tháng nữa mà không có động tĩnh gì thì có lẽ Tổ Gia đã đi đời, mọi việc tiếp theo sẽ dễ xử lý rồi. Vì việc này hắn ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ: phải giả vờ đau, đau thì không thể chơi gái, nếu không sẽ bị lòi đuôi. Thế nên mỗi khi đêm xuống hắn đều tưởng tượng ra cảnh chơi gái trước đây, sau đó một mình chìm đắm trong cõi thần tiên. Hôm sau, vẫn hỉ hả đi lại, miệng thì rên rỉ kêu đau.
Tứ Bá đầu rốt cuộc không thể kiên nhẫn được nữa: “Nếu không... nếu không thì tôi quay về Thượng Hải trước xem tình hình thế nào, các anh hãy đợi tin của tôi.”
Ngũ Bá đầu vội nói: “Tứ ca, ‘trích biểu bất phách kiên’, đây là luật giang hồ. Nay Tam ca bị thương, là anh em sao có thể bỏ mặc mà đi như vậy?” Trong lúc cuống Ngũ Bá đầu dùng cả tiếng lóng trong giới: “Biểu” nghĩa là cái đầu; “Trích biểu” tức là mất đầu, ý nói kẻ trong giang hồ phải trọng nghĩa khí, dù rơi đầu (chết) cũng không phản bội anh em.
Tứ Bá đầu nhìn hai người họ, lặng im không nói. Trong thoáng chốc, Tứ Bá đầu cuối cùng cũng hiểu ra, hai người họ một tung một hứng, dường như muốn “tẩu phong”, nếu cứ tranh cãi, e rằng sẽ xảy ra chuyện. Trước mặt Tổ Gia không kẻ nào dám to gan làm càn, nay Tổ Gia không có ở đây, có khác nào quần long vô thủ, như quân không tướng, mặt khác đám bá đầu còn lại đều là những kẻ bụng dạ nham hiểm, Tứ Bá đầu không dám nghĩ tiếp nữa, đành gật đầu nói: “Ngũ đệ nói rất đúng, ta nghĩ thông rồi, Tổ Gia hiện không có ở đây, Tam ca chính là... đại ca, ta nghe theo Tam ca.
“Chà!... Như vậy mới đúng chứ! Tổ Gia luôn dạy chúng ta phải có phép tắc. Tứ đệ, ta quý đệ nhất đó! Nếu như... ta nói ví dụ thôi nhé, nếu em dâu có mệnh hệ gì... đệ yên tâm, Tam ca ta hứa sẽ tìm cho đệ một cô nương tốt hơn!” Tam Bá đầu vênh váo nói.
Tứ Bá đầu vô cùng buồn bã, anh ta bỗng cảm thấy cô độc và sợ hãi, anh em đang thân thiết nay bỗng trở nên xa lạ, lời nói ý tứ nghe vô cùng chói tai, nhưng miệng lại nói: “Cảm ơn Tam ca.”
“Nay, địa bàn của chúng ta còn lại không nhiều. Anh em dù sao vẫn phải tiếp tục sống. Vì Tổ Gia, vì phái Giang Tướng, ta thấy...”, nói đến đây, Tam Bá đầu ngước lên nhìn Ngũ Bá đầu một cái, “ta thấy chi bằng ngày mai chúng ta hành nghề trở lại...” Nói đến đó, Tam Bá đầu lại nhìn Tứ Bá đầu, “nhưng... như vậy có bị coi là ‘tẩu phong’ không nhỉ?”
Tứ Bá đầu nhịn đến đỗi mặt đỏ lựng lên, không nói gì. Ngũ Bá đầu hỏi anh ta: “Tứ ca, anh nói gì đi chứ!”
Tứ Bá đầu vẫn lặng im không nói.
Ngũ Bá đầu ngẩng lên nói: “Lão ngũ ta vào nghề muộn, nếu nói câu gì thất thố, xin hai vị đại ca hãy cứ mắng mỏ chỉ bảo nhé. Cái gọi là ‘tẩu phong’ là khi Đại sư bá vẫn còn mà vẫn cố tình hành nghề ở nơi khác, cố ý phá hoại tông pháp của phái Giang Tướng, đó là đại nghịch bất đạo, tội đáng phải chết, nhưng... tình hình hiện nay không như vậy, chúng ta dù sao cũng phải sống, sống để mà đi tìm Tổ Gia, vì thế đây không được coi là ‘tẩu phong’! Sau này Tổ Gia có biết, chắc cũng sẽ thông cảm cho chúng ta!”
“Ừ, Ngũ đệ nói rất phải. Ý lão Tứ thế nào?” Tam Bá đầu chuyển để tài, chằm chằm nhìn Tứ Bá đầu.
Tứ Bá đầu lòng đau như cắt, mãi sau mới rụt rè lên tiếng: “Ta... thấy... rất có lý.”
Tam Bá đầu tươi cười: “Ây dà, đành theo ý hai người anh em vậy! Làm đại ca thật khó, chao ôi!...” Nói gần nói xa, cứ như mình là chưởng môn nhân vậy.
Và thế là ba người đánh trống phất cờ, hành nghề ở Phúc Kiến.
Sau tết âm lịch, Tứ Bá đầu vẫn ngày ngày nhớ đến Hoàng Pháp Dung và Tổ Gia, muốn tìm cơ hội để bỏ trốn. Nhưng Ngũ Bá đầu để mắt đến anh ta rất kỹ, một bước không rời.
Thế nhưng ông trời có mắt, vào thời khắc quan trọng thì Giang Phi Yến xuất hiện. Sau khi Tổ Gia ngụ lại ngoại ô Thượng Hải, tết đến, ông gửi cho Giang Phi Yến một bức thư. Lúc này Giang Phi Yến mới biết tung tích của Tổ Gia. Giang Phi Yến - vị Đại sư bá một lòng tương tư, vừa yêu, vừa thương, vừa hận Tổ Gia liền vội vàng ăn tết, sắp xếp xong xuôi công việc của Đường khẩu rồi lập tức đi Thượng Hải.
Trên đường qua Phúc Kiến, bà bỗng gặp bọn Tam Bá đầu đang mở sạp hành nghề trên phố. Giang Phi Yến ngỡ mình bị hoa mắt, nếu không có Tứ Bá đầu vội chạy lại gọi một tiếng “mẹ nuôi , bà vẫn không dám tin vào mắt mình.
Sau tiếng “mẹ nuôi”, Tứ Bá đầu nước mắt như mưa, bao nhiêu tức tưởi trào dâng trong lòng. Và cũng chính tiếng gọi “mẹ nuôi” đã phá tan giấc mộng xuân thu của Tam Bá đầu và Ngũ Bá đầu.
Nay gặp được Tổ Gia rồi, Tam Bá đầu dù cố che giấu toan tính của mình trước đó, tìm nhiều lời hay ho mà báo cáo với Tổ Gia, nhưng Tổ Gia là người thông minh, kể từ giờ khắc đó ông luôn đề phòng Tam Bá đầu.
Nhưng bên ngoài, Tổ Gia vẫn ung dung như thường. Đây mới chính là Tổ Gia, ông luôn thận trọng tỉ mỉ, tuyệt đối không vì tiểu tiết mà ảnh hưởng đến đại cục, khi ai đó vẫn còn hữu dụng, ông sẽ không đả động đến. Đó cũng chính là lý do vì sao sau khi Tứ Bá đầu đem toàn bộ chân tướng sự việc nói cho Tổ Gia biết, Tổ Gia lại nói: Tự Triêm, hai đảng Quốc - Cộng vẫn có thể hợp tác kháng Nhật, lời của ta ngươi có hiểu không?” Tứ Bá đầu dằn lòng, gật gật đầu.
Đêm về, Tứ Bá đầu nghẹn ngào ôm chặt lấy Hoàng Pháp Dung: “Pháp Dung, ta không thể không có nàng, ta không thể sống thiếu nàng được...”, rồi nước mắt cứ thế dâng tràn trên khoé mắt.
“Ta sai rồi, ta sai rồi, mấy năm nay đã để nàng phải chịu ấm ức thiệt thòi...” Tứ Bá đầu vừa khóc vừa nói.
Nỗi bi ai lớn nhất trong đời người chính là khi một người đã tỉnh ngộ, nhưng người kia thì đã thay lòng.
Nước mắt Hoàng Pháp Dung cũng lặng lẽ tuôn rơi, hồi lâu sau mới khẽ khàng nói: Tự Triêm... có lẽ, chúng ta quả thật không hợp...
Nghe câu nói này, Tứ Bá đầu càng khóc to hơn: “Pháp Dung, ta sai rồi, ta sai rồi! Nàng đánh ta đi, mắng ta đi!”
Lúc này ở một căn phòng khác, có một người phụ nữ cũng đang khóc.
“Tổ Gia, mọi việc cũng xong xuôi rồi, điều cần làm chúng ta đều đã làm rồi. Ông có biết mấy tháng nay Phi Yến sống thế nào không? Mỗi ngày tôi đều đợi tin tức của ông, mỗi sáng việc đầu tiên tôi làm là đọc báo, hằng ngày đều cầu nguyện Bồ Tát. Tổ Gia, ông thấy mệt chưa? Tôi thì quá mệt mỏi rồi, chúng ta bỏ đi thôi...” Giang Phi Yến nghẹn ngào nói.
Tổ Gia cúi đầu: “Yến tỷ, bà biết không? Không phải là ta không muốn đi, ta e rằng người Nhật sắp có động thái lớn.”
“Ôi! Tổ Gia ơi, việc của Trung Quốc ông chẳng thể quản nổi đâu. Chúng ta chỉ là phái Giang Tướng nhỏ bé, là muôn vạn sinh linh trên thế gian này, cuộc sống ngắn ngủi lắm, đến tính mạng của bản thân còn không thể tự quyết được, còn nói gì đến quốc gia đại sự đây?”
“Yến tỷ, Mai sư bá nói rất đúng, từ xưa đến nay phái Giang Tướng luôn hành động theo tôn chỉ phản Thanh phục Minh, nay Đại Thanh không còn nữa, chúng ta phản ai đây? Tổ sư gia Phương Chiếu Dư sáng lập phái Giang Tướng là để thay trời hành đạo, cướp của người giàu chia cho người nghèo, thời thế thay đổi nhưng tôn chỉ này không hề thay đổi. Nay quân Nhật tiến sát từng bước, Quốc dân Đảng sa vào nội chiến, bách tính khổ sở, nhân dân lầm than, liệu chúng ta có nhẫn tâm bỏ đi được không? Huống hồ các anh em đây tốt có xấu có, chưa biết chừng lại có kẻ nối giáo cho giặc? Chúng ta giống như con trâu già, đã đeo ách lên thì cả đời không thoát thân được...”
Câu nói vừa dứt cũng là lúc Giang Phi Yến nước mắt tuôn rơi, quả thực từ khi tiếp nhận Đường khẩu từ tay Kiều Ngũ Muội, nỗi khổ cực và mệt mỏi chỉ có mình bà biết. Mặc áo lông thú, ăn tổ yến, đeo vàng bạc, mặt hoa da phấn, những thứ đó không thể khỏa lấp được nỗi đau tự sâu trong lòng. Ngồi vào vị trí đó khác gì trâu đeo ách, đeo đến lúc chết cũng chẳng thể thoát ra nổi.
Tổ Gia lau nước mắt cho Giang Phi Yến, thở dài một tiếng, nói: “Yến tỷ, ta còn muốn làm một việc sẽ khiến bà đau lòng hơn...
Giang Phi Yến chớp chớp mắt: “Việc gì cơ?”
Tổ Gia trầm tư giây lát, chầm chậm nói: “Ta muốn trừ khử Pháp Dung!
“Hả?” Giang Phi Yến đứng bật dậy, kinh hãi nhìn Tổ Gia.
“Pháp Dung là một cô gái thông minh, hơn nữa còn thông minh thái quá, mà thông minh lại đi kèm với độc ác. Nếu cứ để như vậy, ta e rằng sắp có chuyện lớn xảy ra.”
“Căn cứ vào đâu mà Tổ Gia nói như vậy?” Giang Phi Yến thắc mắc.
Tổ Gia nhìn Giang Phi Yến, trầm giọng nói: “Cô nương ấy đã hại chết Bùi Cảnh Long.”
“Sao cơ? Ai nói vậy?” Giang Phi Yến không thể tin vào tai mình.
“Yến tỷ, việc sử dụng cổ trùng trên đảo Chu San, bà biết ta biết, các bá đầu đều biết. Chúng ta biết chắc người Nhật sẽ kiểm tra đồ dùng mang theo lên đảo, mà đại sư cổ độc Nhật cũng có mặt, chúng ta đâu thể theo cách thông thường mà đem bình lớn bình nhỏ cổ trùng lên đảo được, cuối cùng bất đắc dĩ phải mạo hiểm đưa vào người cổ trùng cái. Mỗi người trong chúng ta đều ngâm thuốc giải trong miệng, đợi thủy triều dâng lên, lúc rắn độc tràn vào thì cắn vỡ thuốc giải, như vậy rắn độc mang cổ trùng đực trong người sẽ không tấn công chúng ta. Nhưng Tam Bá đầu nói với ta rằng: anh ta tận mắt trông thấy Bùi Cảnh Long bị mấy chục con rắn tấn công, cuối cùng cũng đành bất lực không cứu được, tuyệt vọng nhảy xuống biển trốn đi. Cổ trùng và thuốc giải đều do một tay Pháp Dung lo liệu, khả năng duy nhất chính là... là Pháp Dung giở trò trong thuốc giải của Bùi Cảnh Long, nên anh ta mới không thoát ra được. Một đời anh tài... vậy mà lại chết một cách không rõ ràng như vậy.”
“Hả? Tại sao Pháp Dung lại làm như vậy?” Tròng mắt Giang Phi Yến như muốn lộn ra ngoài.
“Pháp Dung từ nhỏ phải chịu khổ, bị ức hiếp nên tâm đề phòng và lòng đố kỵ rất mạnh. Ta đồ rằng cô nương ấy sợ sau này ta thu nạp Bùi Cảnh Long sẽ trực tiếp đe dọa đến vị trí của cô ta và Tự Triêm. Yến tỷ, bà thử nghĩ mà xem, người bản lĩnh nhất Đông phái và Nam phái còn ai khác ngoài Pháp Dung? Cô ta có dã tâm rất lớn, sau này tuyệt đối không được thu nạp người có tài năng như vậy vào Đường khẩu, đó gọi là một núi không thể có hai hổ. Xưa quần hùng tam quốc tranh đoạt thiên hạ, Ngọa Long, Phượng Sồ* còn đố kỵ nhau, huống chi đời này? Do đó, cô ta mới bị quỷ ám đi tới bước đó...”
Tức Khổng Minh và Bàng Thống.
“Không phải vậy chứ?” Giang Phi Yến toát mồ hôi lạnh.
“Không đâu! Mấy tháng nay mỗi khi ta nhắc đến Bùi Cảnh Long, tinh thần của Pháp Dung có gì đó không ổn, đều cố lảng tránh chuyển đề tài. Còn nữa...”
“Còn điều gì nữa?”
Tổ Gia khẽ ngập ngừng: “Còn nữa, cô nương ấy và Tự Triêm không hàn gắn được nữa rồi, nếu cứ tiếp tục như vậy, e... e rằng gây hại đến thanh danh phái Giang Tướng.”
Giang Phi Yến lập tức hiểu ngầm trong bụng: “Trước đây Pháp Dung từng nói với mình, cô ấy đối với Tổ Gia..nghĩ vậy nhưng lại nói: “Ôi! Cái con bé này, thông minh quá hóa ra hại người, hại cả mình! Tổ Gia... xin ông giơ cao đánh khẽ, tha cho Pháp Dung được không?” Giang Phi Yến đã ý thức được tính nghiêm trọng của sự việc.
Tổ Gia than thở: “Ây dà! Chẳng phải ta không cho cô ấy cơ hội, đã năm lần bảy lượt ta nhắc cô ta rằng làm người đừng quá thông minh, nhưng rốt cuộc cô ta không nghe. Yến tỷ không phải không biết phép tắc của phái Giang Tướng: kẻ bàn nghị ngông cuồng sau lưng người kế tục Đường khẩu, kẻ làm loạn Đường khẩu đều phải tội chết, nay cô ta còn giết hại Bùi Cảnh Long. Bùi Cảnh Long trên còn mẹ già 60 tuổi, dưới có vợ dại con thơ, một đời quang minh lỗi lạc, hơn nữa còn là kỳ tài Dịch học. Vì đại nghĩa dân tộc nên mới kiên quyết cùng ta lên đảo. Có lẽ anh ta đã biết lần này lên đảo lành ít dữ nhiều, nên trước khi đi từng nói với ta rằng nếu có gặp bất trắc, mẹ già xin nhờ cả vào ta. Mạng của ai chẳng là mạng? Chẳng ai muốn chết cả, mạng của Pháp Dung là mạng, mạng của Bùi Cảnh Long cũng là mạng. Pháp Dung tất phải chết để an ủi vong linh Bùi lão đệ trên trời.”
“Tổ Gia!” Giang Phi Yến cuống cuồng, “Tổ Gia!”
“Yến tỷ không cần cầu xin cho cô ta nữa!” Nói rồi, Tổ Gia phẩy tay quay lưng đi vào phòng.
“Tổ Gia! Cô ấy là con gái tôi!” Giang Phi Yến gào lên, rồi đột nhiên buông một tiếng cười gằn.
“Ha ha, Tổ Gia thật rất biết suy tính, thì ra từ lâu ông đã muốn trừ khử Pháp Dung, nhưng lại án binh bất động, đợi sau vụ lập bẫy Chu San mới ra tay hành động, như vậy vừa có thể ổn định lòng người, lại có thể khiến Pháp Dung dốc sức mà không hề oán hận, nay vừa khéo Bùi Cảnh Long chết, Tổ Gia cuối cùng cũng tìm được cái cớ hoàn hảo!”
Tổ Gia sững người, muốn nói gì đó nhưng lại kịp nuốt xuống, cuối cùng lắc đầu cảm khái: “Nếu Yến tỷ nghĩ như vậy, ta cũng không còn gì để giải thích.”
Đêm đến, Giang Phi Yến càng nghĩ càng dằn vặt: “Không được, tuyệt đối không thể để Tổ Gia giết Pháp Dung được! Ba mươi sáu kế, chuồn là thượng sách!”
Bà lén gọi Ngọc Linh, a hoàn luôn theo sát bà, thì thầm dặn dò mấy câu, cô a hoàn đó lĩnh mệnh đi ngay.
Canh năm, Giang Phi Yến sốt ruột đứng đợi ở bến thuyền, trong đêm tối có hai bóng người vội vã chạy đến.
Từ xa, Hoàng Pháp Dung thấy Giang Phi Yến thì nhanh chân chạy lại, nhoẻn miệng cười, nói: “Mẹ nuôi, sao vậy? Chị Ngọc Linh nói rằng mẹ có chuyện muốn tâm sự, mà sao lại đến đây vậy?”
Giang Phi Yến chẳng nói chẳng rằng, vung tay giáng cho Pháp Dung một cái tát, nói: “Ngươi gây đại họa rồi!” Đoạn nước mắt tuôn rơi.
Hoàng Pháp Dung tóc tai lòa xòa trước trán, ngỡ ngàng hỏi: “Mẹ nuôi, có chuyện gì vậy?”
Giang Phi Yến trầm giọng nói: “Ta hỏi con, Bùi Cảnh Long có phải do con giết không?”
Hoàng Pháp Dung cắn môi, hồi lâu sau mới khẽ gật đầu.
“Con gái à, con thật ngu ngốc! Con đã phạm phải tội tày trời rồi đó biết không! Tổ Gia... muốn giết con!” Giang Phi Yến quệt nước mắt, quay lại nói với cô a hoàn, “Mau, đưa Pháp Dung lên thuyền! Trước tiên đến Quảng Châu, về Đường khẩu lấy ít ngân lượng rồi đưa cô ấy đi Nam Dương!”*
Theo người Trung Quốc, quần đảo Nam Dương gồm dải Malaysia, Indonesia, Philippines.
“Mẹ nuôi!” Hoàng Pháp Dung hoảng loạn thốt lên một tiếng rồi quỳ thụp xuống, nước mắt như mưa, “Mẹ nuôi!”
“Con gái của ta,” Giang Phi Yến ôm Pháp Dung vào lòng, “nghe ta nói đây, đời này con chớ nên quay về! Tuyệt đối không được quay về, Tổ Gia là người đã nói là làm! Hãy quên Trương Tự Triêm đi, và quên cả Tổ Gia đi!
“Mẹ,” Hoàng Pháp Dung vùi đầu vào lòng Giang Phi Yến, nước mắt ướt đẫm cả áo bà, “mẹ, con sợ, con không muốn đi...”
“Con gái ngoan, đi được là việc tốt, đi được là việc tốt! Hãy nghe lời mẹ, trước đây Ngũ bà bà* còn sống ta không để con đi, nay rốt cuộc có cơ hội rồi, mẹ nuôi không bỏ rơi con đâu, đến đó sẽ có người đón con. Nhớ kỹ, từ nay về sau con không còn là Hoàng Pháp Dung nữa, hãy thay tên đổi họ, cố gắng làm người, cố gắng làm người tốt con nhé!”
Kiều Ngũ Muội.
“Mẹ...” Hoàng Pháp Dung nước mắt giàn giụa, cố sức gào khóc, “con sai rồi, con đã sai rồi!”
“Đi mau! Bằng không sẽ không kịp đâu! Ngọc Linh, mau đưa cô ấy đi...”
Giang Phi Yến đột nhiên im bặt, bà phát hiện có bóng người đang lẩn khuất trong bóng tối, mang theo vẻ uy nghiêm và sát khí bừng bừng.
Giang Phi Yến bất giác toàn thân run bần bật, Hoàng Pháp Dung cũng ngưng khóc, cô cũng đã thấy Tổ Gia đang chầm chậm bước đến.
“Dừng lại!” Giang Phi Yến đột nhiên lớn tiếng, “Ông đứng lại!” Bà rút súng chĩa vào Tổ Gia.
Tổ Gia vẫn bước tới.
“Ông đứng lại cho tôi!” Giang Phi Yến gào thét trong bất lực, rồi lập tức dí súng lên đầu mình.
Tổ Gia sững lại.
Hoàng Pháp Dung hai chân mềm nhũn, quỳ mọp xuống đất, thì thào nức nở: “Tổ Gia, con sai rồi...”
Tổ Gia chầm chậm đưa súng lên, chĩa vào đầu Hoàng Pháp Dung. Không gian như đặc quánh lại, chỉ còn thấy tiếng nước chảy và tiếng tim đập thình thịch.
Ngón trỏ của Tổ Gia chầm chậm đặt lên cò súng, chỉ cần đoàng một tiếng, Hoàng Pháp Dung sẽ đi đời.
Giang Phi Yến tuyệt vọng nhìn Tổ Gia, nước mắt không ngừng tuôn rơi.
“Không đúng! Không đúng!” Vào thời khắc định mệnh, a hoàn Ngọc Linh nói, “Pháp Dung là con gái của Yến nương, cho dù có dụng gia pháp cũng phải do Đại sư bá của Việt Hải Đường thực thi mới phải, Tổ sư gia Phương Chiếu Dư đã có di huấn, Tứ đại Đường khẩu không được can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tổ Gia ngài sai rồi, ngài đã sai rồi!”
Tổ Gia lại sững người.
Giang Phi Yến như vớ được cọc, nhanh chóng lấy lại tinh thần, lập tức trở lại phong thái uy nghi và minh mẫn của một vị Đại sư bá, bà đưa súng chĩa vào Hoàng Pháp Dung: “Được, ta thi hành gia pháp! Ta thi hành gia pháp đây!
Nói rồi lạnh lùng bóp cò súng, đoàng đoàng hai tiếng, Hoàng Pháp Dung đổ vật xuống.
Tổ Gia sững sờ không thốt nên lời, Ngọc Linh sợ hãi đến đỗi đưa hai tay lên bưng miệng, không dám thở mạnh.
“Tổ Gia, ông vừa ý rồi chứ?” vẻ phẫn uất ánh lên trong mắt Giang Phi Yến.
Tổ Gia im lặng không nói, quay người đi khuất vào trong bóng tối.
Một cơn gió lạnh ùa đến, Giang Phi Yến rùng mình một cái, bà đang rơi xuống tận cùng vực thẳm của tâm tư.
“Đưa nó lên thuyền, nếu mạng lớn phúc lớn thì có thể qua được đêm nay, sau khi lên bờ lập tức đưa đến bác sĩ, nếu nó chết, âu cũng là do số... Giang Phi Yến điềm tĩnh nói với Ngọc Linh.
Ngọc Linh thất thần kéo Hoàng Pháp Dung mình mẩy đầy máu lên thuyền. Người phu thuyền đã nhận mấy trăm pháp tệ liền ra sức chèo đi.
Giang Phi Yến trấn tĩnh trong giây lát, giơ khẩu súng lên, chĩa vào cánh tay nghiến răng bóp cò, máu rỉ thấm rồi tuôn ra xối xả, sau đó chĩa súng lên trời bắn hết số đạn. Tiếng súng xé toang màn đêm tĩnh mịch, tiếng chó sủa gà kêu râm ran cả một vùng.
Giang Phi Yến chạy thục mạng về chỗ ở của Tổ Gia, vào đến cửa liền kêu to: “Hỏng rồi, không xong rồi, người Nhật đang đuổi đến đây!” Tiếng kêu khiến mọi người choàng tỉnh, vội vàng mặc quần áo rồi chạy túa ra sân.
Tổ Gia nhìn Giang Phi Yến rồi nói với mọi người: “Mau tản đi!”
Ai nấy đều vội vã tản theo các ngõ hẻm, chạy một mạch không ngoảnh lại.
Trời tờ mờ sáng, trước mặt hiện ra một thôn trang, Tổ Gia bèn dừng lại.
“Pháp Dung đâu?” Tứ Bá đầu đột nhiên hỏi.
Giang Phi Yến thở dốc nói: “Pháp Dung và Ngọc Linh chặn hậu, ta chạy về báo tin. Đợi một chút, đoán chừng họ cũng sắp tới rồi...”
Một canh giờ, hai canh giờ qua đi...
Một tháng, rồi hai tháng trôi đi... xuân qua hạ tới.
“Pháp Dung đâu?” Tứ Bá đầu vẫn ngẩn ngơ trong lòng, “Pháp Dung đâu rồi?”
Sống không thấy người, chết không thấy xác, Hoàng Pháp Dung và Ngọc Linh “mất tích” theo cách như vậy.
Nửa năm sau, Giang Phi Yến cuối cùng cũng hiểu ra. Một đêm, bà lặng lẽ đến gặp Tổ Gia, nói: “Việc của Pháp Dung, xin cảm ơn ông.”
Tổ Gia mặt không chút biểu cảm: “Người chết thì đã chết rồi, đừng nhắc đến nữa.”
Đêm đó Tổ Gia biết Giang Phi Yến có lẽ không bắn trúng chỗ hiểm của Hoàng Pháp Dung, ông không kiểm tra thi thể, cũng không bồi thêm phát nào nữa. Kỳ thực, lúc đó ông cũng do dự, ông chỉ là không còn cách nào khác để an ủi vong linh Bùi Cảnh Long trên trời. Ông nhận thấy tội ác không chỉ là Hoàng Pháp Dung, mà còn là bản thân ông, và cả phái Giang Tướng nữa. Dưới lá cờ thay trời hành đạo, là điều gì đã khiến mỗi người đều trở nên độc ác như vậy? Nếu một phường giá áo túi cơm mất hết nhân tính cùng nhau thay trời hành đạo, “đạo” của họ chính là quỷ đạo, sau khi hút hết máu thịt của nhân gian, tất sẽ quay sang ăn thịt lẫn nhau. Lòng Tổ Gia mênh mang mờ mịt, ông không dám nghĩ tiếp nữa.
Hoàng Pháp Dung “mất tích”, người đau khổ nhất chính là Tứ Bá đầu, anh ta vừa mới tỉnh ngộ và thề nguyện yêu thương Hoàng Pháp Dung trọn đời, giờ đã trở thành dở ngây dở dại.
Ngày 7 tháng 7 năm 1937, Nhật Bản phát động cuộc xâm lược toàn diện Trung Quốc.