Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
33: Vết Sẹo
33: Vết Sẹo

❊ ❊ ❊

1968

Một sáng mùa đông năm 1968, Kya ngồi tại bàn bếp, phết lên giấy những vệt màu nước cam hồng, phác họa hình dáng bụ bẫm của một cây nấm. Cô đã hoàn tất cuốn sách về chim biển và đang thực hiện một cuốn hướng dẫn nhận biết các loài nấm dại. Đã có kế hoạch cho một cuốn khác về bướm với ngài.

Đậu mắt đen, hành tím và thịt muối đang được đun trong cái nồi móp cũ trên lò củi, Kya vẫn thích nó hơn cái bếp mới. Đặc biệt là vào mùa đông. Mái nhà bằng thiếc hát rì rầm dưới cơn mưa lâm thâm. Rồi đột ngột, tiếng một chiếc xe tải chật vật lăn trên cát vọng xuống lối mòn dẫn tới lán. Ầm ầm át cả tiếng mái nhà. Nỗi hốt hoảng dâng lên, cô bước tới cửa sổ và thấy một chiếc bán tải đỏ đang nặng nề lăn giữa những vết lún lầy lội.

Ý nghĩ đầu tiên của Kya là bỏ chạy, nhưng chiếc xe đã dừng lại trước hiên. Thụp xuống dưới bệ cửa sổ, cô dõi theo khi một người đàn ông mặc quân phục xanh lá xám bước xuống. Gã chỉ đứng đó, cửa xe mở hé, nhìn qua rừng cây, mắt lướt dọc theo lối mòn dẫn tới phá nước gần nhà. Rồi nhẹ nhàng đóng cửa lại, gã bước qua màn mưa tới của hiên và gõ lên đó.

Kya buột miệng rủa thầm. Hẳn là gã này bị lạc, sẽ hỏi đường rồi vọt đi thôi, nhưng cô không muốn đối phó với gã. Cô có thể nấp hoài trong bếp, hy vọng gã bỏ đi. Nhưng rồi cô nghe gã gọi. “Này! Có ai ở nhà không? Xin chào!”

Bực bội mà cũng tò mò, cô băng qua phòng khách mới bày biện lại để ra cửa. Người lạ, cao lớn với mái tóc đen thẫm, đang đứng trên bậc thềm đẩy cửa hiên ra, cách cô năm bước. Đồng phục của anh ta trông cứng đến nỗi có thể tự đứng được, như thể nó đang giữ chặt cả người anh ta. Ngực áo anh ta đầy huy chương chữ nhật màu mè. Nhưng đập vào mắt hơn cả là một vết sẹo đỏ sần sùi cắt đôi khuôn mặt người lạ, chạy từ tai trái và dừng lại trên miệng anh ta. Kya hít mạnh một hơi.

Ngay tức thời cô trở lại cái ngày chủ nhật Phục sinh khoảng sáu tháng trước hôm má bỏ đi mãi mãi. Hát vang bài Rock of Ages, Kya và má tay trong tay đi qua phòng khách vào nhà bếp, rồi nhặt lên những quả trứng đủ màu sặc sỡ họ đã sơn hồi tối hôm qua. Mấy anh chị khác của Kya đã ra ngoài câu cá, nên cô và má có thời gian đi giấu trứng, rồi cho gà và bánh vào lò. Các anh chị đã quá tuổi chơi trò săn tìm quà, nhưng họ vẫn chạy quanh sục sạo, giả vờ không thấy gì cả, rồi giơ mỗi kho báu khám phá được lên cao, phá ra cười.

Má và Kya đang ra khỏi bếp với mấy giỏ trứng cùng mớ thỏ sô-cô-la mua ở tiệm năm xu một hào thì ba vòng qua góc nhà từ hành lang bước vào.

Giật chiếc mũ Phục sinh từ trên đầu Kya và vung vẩy nó, ông gào lên với má, “Cô kím đau ra tiền cho mấy tứ xa xỉ này hả? Mũ bon-nê với giày da bóng lộn? Mớ trứng và sô-cô-la thỏ quý hóa? Nói xem. Từ đaukím ra?”

“Thôi nào, Jake, xin anh im đi. Hôm nay là lễ Phục sinh; mấy món này là cho tụi nhỏ.”

Ông đẩy má lùi lại. “Cô đi làm điếm, chính là vậy đấy. Đó là cách cô kím tiền hả? Trả lời tôi ngay.” Ông nắm lấy hai cánh tay má và lắc bà mạnh đến nỗi khuôn mặt bà chừng như rung lạch cạch quanh đôi mắt, vốn vẫn đứng im và mở thật to. Trứng văng khỏi giỏ và lăn lảo đảo thành những vệt màu nhàn nhạt khắp sàn nhà.

“Ba, ngừng lại đi, xin ba!” Kya kêu lên rồi bật khóc.

Ông giơ tay tát mạnh vào má con bé. “Im miệng, thứ khóc nhè quấy quá! Cởi hếch mấy cái váy ngớ ngẩn và giày dép xa xỉ đó ra. Chúng là thứ đồ điếm.”

Con bé thụp xuống, bưng mặt, đuổi theo những quả trứng do má tự tay sơn phết.

“Tôi đang nói với cô đó! Cô kím tiền từ đau hả?” Ông cầm lên cái cời lửa bằng sắt ở góc phòng và đi về phía má.

Kya thét lớn hết mức và túm chặt tay ba khi ông quất cái cời lên ngực má. Máu tươm ra trên chiếc váy hoa như những chấm bi đỏ. Rồi một cơ thể to lớn vụt xuống hành lang, Kya ngẩng nhìn thì thấy Jodie nhào tới vật ngã ba từ đằng sau, khiến cả hai đổ kềnh ra đất. Anh nó chặn giữa ba má và thét bảo Kya cùng má chạy mau, thế là họ chạy. Nhưng trước khi quay đi, Kya thấy ba vung cái cời quật ngang mặt Jodie, cằm của anh méo đi một cách đáng sợ, máu phọt ra. Cảnh đó giờ đây tái hiện trong chớp mắt trong tâm trí Kya. Hình ảnh anh cô sụm xuống sàn, nằm giữa những quả trứng tím hồng và sô-cô-la thỏ. Kya cùng má chạy qua bãi cọ, nấp trong một bụi cây. Váy bà loang máu, bà cứ lẩm bẩm là không sao cả, những quả trứng không bị vỡ, và họ vẫn có thể nấu thịt gà. Kya không hiểu sao họ cứ nấp ở đó – con bé chắc rằng anh mình sắp chết, cần được giúp đỡ, nhưng nó quá sợ hãi để mà nhúc nhích. Họ chờ một lúc lâu rồi lẻn trở vào nhà, nhìn qua cửa sổ để biết chắc ba đã đi khỏi.

Jodie nằm lạnh ngắt trên sàn, máu chảy thành vũng quanh người cậu, và Kya òa lên rằng anh đã chết rồi. Nhưng má lay Jodie dậy và chuyển cậu lên ghế sô-pha, rồi ngồi đó vá mặt cậu lại bằng kim may của bà. Khi tất cả đã chìm vào im lặng, Kya chộp lấy cái mũ bon-nê trên sàn và ào chạy vào rừng, rồi dùng hết sức ném nó vào một bụi cỏ răng cưa.

Giờ cô nhìn thẳng vào cặp mắt của người lạ đứng ở hiên nhà và khẽ gọi, “Jodie.”

Anh mỉm cười, vết sẹo méo đi, và đáp lại, “Kya, anh đã hy vọng em có ở nhà.” Họ nhìn chăm chăm, tìm kiếm nhau trong ánh mắt đã già hơn hẳn. Jodie không thể biết anh đã ở bên cô suốt những năm tháng đó, hàng chục lần anh chỉ đường cho cô đi giữa đồng lầy, dạy cô về lũ diệc và đom đóm lần nữa rồi lần nữa. Hơn bất kỳ ai khác, cô đã muốn gặp lại má hoặc Jodie. Trái tim cô đã xóa đi vết sẹo và mọi nỗi đau đi cùng nó. Hèn gì mà tâm trí cô đã chôn vùi cảnh tượng nọ; hèn gì má lại bỏ đi. Bị quất lên ngực bằng một cái cời. Kya một lần nữa thấy lại vết ố đã chà phai trên chiếc váy hoa là vết máu.

Jodie muốn ôm cô, siết chặt cô trong tay, nhưng khi anh tiến về phía cô, cô cúi đầu thật thấp, hơi nghiêng sang bên trong nỗi ngại ngùng to lớn và lùi lại. Thế nên anh chỉ bước lên hiên nhà.

“Anh vào đi,” cô nói, rồi dẫn anh vào phòng khách nhỏ đầy ắp mẫu vật.

“Ô,” Jodie thốt lên. “Phải rồi. Anh đã thấy sách của em, Kya. Anh không biết chắc có phải là em không, nhưng phải, giờ anh có thể chắc chắn. Cuốn sách tuyệt lắm.” Jodie đi lòng vòng xem bộ sưu tập, lại còn xem cả căn phòng với số đồ đạc mới, đưa mắt nhìn dọc hành lang về phía những phòng ngủ. Không muốn tọc mạch gì, chỉ đón nhận tất cả.

“Anh có muốn uống trà hay cà phê không?” Cô không biết anh tới thăm hay để ở lại. Anh cô muốn gì sau tất cả những năm qua?

“Có cà phê thì tuyệt. Cảm ơn em.”

Trong bếp, Jodie nhận ra lò sưởi cũ cạnh bên bếp ga và tủ lạnh mới. Anh khẽ vuốt lên bàn bếp cũ mà cô vẫn giữ nguyên. Với tất cả lịch sử tróc sơn của nó. Cô rót cà phê ra ly, và họ ngồi xuống.

“Vậy ra anh là một người lính.”

“Hai chuyến tới Việt Nam. Anh sẽ ở trong quân đội thêm vài tháng nữa. Họ đã đối xử tốt với anh. Trả tiền cho anh học xong đại học – kỹ sư cơ khí, Học viện Công nghệ Georgia. Việc tối thiểu anh có thể làm là ở lại một thời gian nữa.”

Georgia không xa đây lắm – Jodie có thể ghé lại sớm hơn. Nhưng giờ anh đã ở đây rồi.

“Tất cả các anh đã bỏ đi,” Kya nói. “Ba ở lại một thời gian sau anh, nhưng rồi ông cũng đi mất. Em không biết ở đâu, không biết ông còn sống hay không nữa.”

“Em ở đây một mình từ đó đến giờ ư?”

“Phải.”

“Kya, lẽ ra anh không nên để em lại với con quỷ đó. Anh đau khổ lắm, cảm thấy tồi tệ về việc đó suốt nhiều năm. Anh là một thằng hèn, một thằng hèn ngu xuẩn. Mấy cái huy chương khốn kiếp này chẳng có nghĩa lý gì.” Jodie quẹt lên ngực. “Anh đã bỏ em, một cô gái nhỏ, ở lại một mình để sinh tồn trong chốn đầm lầy với một gã điên. Anh không mong em sẽ tha thứ cho anh, mãi mãi.”

“Jodie, không sao rồi. Lúc đó anh cũng chỉ là một đứa nhỏ. Anh có thể làm gì chứ?”

“Anh có thể trở lại khi đã lớn hơn. Ban đầu anh chỉ cố gắng sống qua ngày trên những con hẻm Atlanta.” Jodie cười khẩy. “Anh rời khỏi đây với bảy mươi lăm xu trong túi. Chôm chúng từ số tiền ba để trong bếp; lấy chúng mặc dù biết rằng em sẽ thiếu tiền. Anh xoay xở sống qua ngày bằng đủ thứ việc linh tinh cho đến khi quân đội nhận anh. Sau huấn luyện là thẳng tới chiến tranh. Khi anh về nhà, một thời gian quá dài đã trôi qua, anh nghĩ em đã rời khỏi đây từ lâu, cũng bỏ chạy. Đó là lý do anh không viết thư; anh đăng ký trở lại quân đội như một kiểu tự trừng phạt. Cái anh đáng phải chịu vì đã bỏ lại em. Rồi sau khi tốt nghiệp Học viện Công nghệ, vài tháng trước, anh thấy sách của em trong một cửa hàng. Catherine Danielle Clark. Tim anh vỡ ra và nhảy lên mừng vui cùng lúc. Anh phải tìm gặp em – nghĩ rằng anh sẽ bắt đầu từ đây và lần theo dấu vết em.”

“Vậy, giờ anh em mình ở đây rồi.” Cô mỉm cười lần đầu tiên. Ánh mắt Jodie vẫn như ngày xưa. Khuôn mặt đổi thay với những tổn thương từ cuộc sống, nhưng ánh mắt vẫn là cửa sổ mở vào cái đã từng, và cô thấy anh mình trong đó. “Jodie, em rất tiếc là anh đã lo lắng vì để lại em. Em chưa từng trách anh. Chúng ta là nạn nhân, không phải kẻ có tội.”

Jodie mỉm cười. “Cảm ơn em, Kya.” Nước mắt dâng lên, và họ cùng ngoảnh đi chỗ khác.

Cô ngập ngừng rồi nói, “Chuyện này có thể khó tin, nhưng có một thời gian, ba đã đối xử tốt với em. Ông ít uống hơn, dạy em câu cá, và ba với em đã đi thuyền ra ngoài rất nhiều lần, đi khắp đồng lầy. Nhưng rồi dĩ nhiên, ông đã uống trở lại và bỏ em tự vệ một mình.”

Jodie gật đầu. “Ừ, anh đã thấy phần đó trong con người ông một đôi lần, nhưng ông luôn trở lại với chai rượu. Ông từng nói với anh là việc đó có liên quan tới chiến tranh. Anh đã đích thân ra trận và thấy những thứ có thể đẩy một người tìm đến rượu. Nhưng lẽ ra ông không nên trút nó lên vợ và mấy đứa con mình.”

“Còn má thì sao, các anh chị khác?” cô hỏi. “Anh có bao giờ nghe tin họ, có biết họ đã đến chỗ nào không?”

“Anh không biết gì về Murph, Mandy hay Missy. Anh sẽ không nhận ra nếu lướt ngang họ trên đường phố. Đến giờ anh nghĩ họ đã tản mác theo cơn gió. Nhưng má, Kya này, đó là một lý do khác khiến anh muốn tìm em. Có chút tin tức về má.”

“Chút tin tức? Là gì vậy? Nói em nghe đi.” Một cơn ớn lạnh chạy từ cánh tay tới đầu ngón tay Kya.

“Kya, đó không phải tin tốt. Anh chỉ mới biết hồi tuần trước. Má đã mất từ hai năm trước rồi.”

Cô gập người lại, vùi mặt vào tay. Những tiếng rên nhỏ phát ra từ cổ họng. Jodie định ôm cô, nhưng cô tránh anh mình.

Jodie nói tiếp. “Má có một người chị, Rosemary, dì đã cố tìm chúng ta thông qua Hội Chữ Thập Đỏ khi má mất, nhưng họ không tìm được. Rồi vài tháng trước họ tìm ra anh thông qua quân đội và giúp anh liên hệ với Rosemary.”

Bằng giọng khào khào, Kya lẩm bẩm, “Má vẫn còn sống cho đến hai năm trước. Suốt từng ấy năm, em vẫn chờ má bước lên lối dẫn vào nhà.” Cô đứng dậy và vịn vào bồn rửa. “Tại sao má không trở lại? Tại sao không ai nói cho em biết má ở đâu? Giờ thì đã quá muộn rồi.”

Jodie bước lại gần em gái và mặc dù cô cố quay đi, anh đã choàng tay qua người cô. “Anh xin lỗi, Kya. Lại ngồi đi. Anh sẽ cho em biết những điều dì Rosemary đã nói.”

Anh chờ cô, rồi tiếp lời, “Má bệnh nặng vì bị suy sụp nặng nề sau khi rời bỏ chúng ta và đến New Orleans – đó là nơi má đã lớn lên. Má bệnh về cả thể chất lẫn tinh thần. Anh vẫn còn nhớ chút chút về nơi đó. Anh đoán mình khoảng năm tuổi khi cả nhà rời đi. Tất cả những gì anh nhớ là một tòa nhà đẹp đẽ, cửa sổ lớn nhìn ra một khu vườn. Nhưng khi chúng ta tới đây, ba không cho ai hé miệng nói về New Orleans, ông bà, hay bất cứ thứ gì về nó. Nên tất cả đã bị xóa sạch.”

Kya gật đầu. “Em chẳng bao giờ biết.”

Jodie tiếp tục. “Dì Rosemary bảo ông bà đã phản đối cuộc hôn nhân của ba má ngay từ đầu, nhưng má bỏ tới Bắc Carolina với chồng, không một xu dính túi. Về sau, má bắt đầu viết thư cho dì Rosemary và kể dì nghe tình hình của má – sống trong một cái lán ở đầm lầy cùng một gã say xỉn thường xuyên đánh đập vợ con. Rồi một ngày, nhiều năm sau, má xuất hiện trước mặt dì. Má mang đôi giày cao gót giả da cá sấu mà má rất quý. Chưa tắm và chưa chải tóc nhiều ngày.

“Suốt mấy tháng trời má câm lặng, không nói một lời. Má ở trong căn phòng cũ của mình ở nhà ông bà ngoại, gần như không ăn uống. Dĩ nhiên, họ có mời bác sĩ tới, nhưng không ai giúp được gì. Ông ngoại liên hệ cảnh sát trưởng ở Vũng Barkley để hỏi xem chúng ta có ổn không, nhưng văn phòng cảnh sát nói họ thậm chí không cố gắng để theo dõi tình hình cư dân đồng lầy.”

Kya phát ra những tiếng sụt sịt ngắt quãng.

“Cuối cùng, gần một năm sau, má lên cơn kích động và bảo dì Rosemary rằng má nhớ là đã bỏ lại các con. Rosemary giúp má viết thư cho ba, hỏi xem liệu má có thể đón chúng ta tới sống ở New Orleans hay không. Ba viết thư trả lời rằng nếu má trở lại hay liên hệ với bất kỳ đứa con nào, ông sẽ đánh chúng ta đến không nhận ra được nữa. Má biết ông có thể làm chuyện như vậy.”

Lá thư trong phong bì xanh lam. Má đã xin đón Kya về, đón tất cả bọn họ. Má đã muốn gặp cô. Nhưng kết qua của lá thư lại khác. Lời thư đã làm ba điên tiết và trở lại uống rượu, rồi Kya cũng mất nốt cả ông. Cô không nói với Jodie rằng mình vẫn giữ tro của lá thư trong một chiếc lọ nhỏ.

“Dì Rosemary kể rằng má không bao giờ kết bạn, không bao giờ ăn tối với gia đình hay giao tiếp với bất kỳ ai. Má không cho phép mình có một cuộc sống hay chút niềm vui nào. Sau một thời gian, má bắt đầu nói chuyện nhiều hơn, và tất cả những gì bà nói là về mấy đứa con. Dì Rosemary nói má đã yêu chúng ta suốt cả đời nhưng bị đông cứng trong một nơi tồi tệ nào đó vì tin rằng chúng ta sẽ bị hại nếu má trở lại và bị bỏ mặc nếu má không quay về. Má không bỏ chúng ta để đi sống sung sướng vui vẻ; má đã phát điên và gần như không biết mình đã bỏ đi.”

Kya hỏi, “Má đã mất ra sao?”

“Bị bệnh bạch cầu. Dì Rosemary nói hẳn là bệnh có thể chữa khỏi, nhưng má từ chối dùng mọi loại thuốc. Cứ yếu dần yếu dần, rồi ra đi hai năm về trước. Rosemary nói má mất như cách bà đã sống. Trong bóng tối, trong im lặng.”

Jodie và Kya ngồi lặng thinh. Kya nghĩ về bài thơ của Galway Kinnell mà má đã gạch dưới trong cuốn sách:

Thật nhẹ lòng vì nó đã qua đi:

Cuối cùng chỉ còn niềm thương xót

Cho thôi thúc được sống nhiều hơn

…Tạm biệt.

Jodie đứng dậy. “Đi theo anh, Kya, anh muốn cho em thấy cái này.” Anh dẫn cô ra ngoài tới chiếc bán tải và họ trèo vào sau xe. Cẩn thận, anh giở một tấm vải dầu và mở một thùng các-tông lớn, rồi lần lượt từng cái một, lấy ra và tháo mở những bức sơn dầu. Anh dựng nó quanh sàn xe. Một bức vẽ ba cô bé – Kya cùng các chị – ngồi xổm bên bờ phá, ngắm lũ chuồn chuồn bay. Một bức khác vẽ Jodie và các anh giơ lên một xâu cá.

“Anh mang theo chúng phòng khi em vẫn ở đây. Dì Rosemary gửi chúng cho anh. Dì nói suốt từng ấy năm trời, ròng rã ngày đêm, má đã vẽ chúng ta.”

Một bức tranh vẽ cả năm đứa con như thể cả bọn đang cùng nhìn họa sĩ. Kya nhìn chăm vào mắt những người anh, người chị của mình, đang nhìn lại vào cô.

Thì thầm, cô hỏi, “Ai là ai?”

“Sao cơ?”

“Không có bức hình nào. Em không biết mặt họ. Ai là ai vậy anh?”

“Ồ.” Jodie không thở nổi, rồi cuối cùng cũng nói, “Ừm, đây là Missy, chị lớn nhất. Rồi tới anh Murph. Chị Mandy. Dĩ nhiên chú nhóc dễ thương này là anh. Và đó là em.”

Jodie cho cô thời gian, rồi bảo, “Nhìn cái này này.”

Trước mặt anh là một bức tranh sơn dầu rực rỡ đến ngạc nhiên, vẽ hai đứa trẻ ngồi giữa những vòng xoáy cỏ xanh và hoa dại. Cô bé còn nhỏ xíu, có lẽ chỉ mới lên ba, mái tóc đen dài xõa xuống bờ vai nhỏ. Cậu bé, hơi lớn hơn một chút, với mái tóc vàng loăn xoăn, đang chỉ vào một chú bướm vua, đôi cánh đen và cam của nó xòe ra trên một bông hoa cúc. Bàn tay cậu đặt trên cánh tay cô bé.

“Anh nghĩ đó là Tate Walker,” Jodie nói. “Và em.”

“Em nghĩ anh nói đúng. Trông giống anh ấy thật. Tại sao má lại vẽ Tate?”

“Cậu ấy từng tới vài lần, câu cá với anh. Cậu ấy luôn chỉ em xem côn trùng và đủ thứ.”

“Sao em không nhớ chuyện đó?”

“Em còn nhỏ quá. Một buổi chiều Tate lái thuyền vào phá nước nhà ta khi ba đang nốc rượu từ túi của mình, đã say quắc. Em đang lững chững đi từng bước và ba lẽ ra phải trông em. Đột nhiên, chẳng vì lý do gì hết, ba nắm hai cánh tay em và lắc em mạnh đến nỗi đầu em ngửa ra sau. Rồi ông buông em xuống bùn và bắt đầu cười ngặt nghẽo. Tate nhảy ra khỏi thuyền và chạy lại chỗ em. Cậu ấy chỉ mới bảy hay tám tuổi, nhưng cậu ấy đã quát ba. Dĩ nhiên ba đã tát Tate và thét bảo cậu cút đi, đừng bao giờ trở lại không thì ba sẽ bắn cậu ấy. Đến lúc đó bọn anh đã chạy ra xem có chuyện gì. Ngay cả khi ba rủa xả và thét lác, Tate vẫn bế em lên và đưa em cho má. Cậu ấy đảm bảo em ổn cả rồi mới bỏ đi. Bọn anh vẫn thỉnh thoảng đi câu sau bận đó, nhưng cậu ấy không bao giờ tới nhà mình nữa.”

Cho đến khi anh ấy dẫn em về nhà vào lần đầu tiên em lấy thuyền ra dạo đồng lầy, Kya nghĩ. Cô ngắm nghía bức tranh – thật dịu dàng, thật bình yên. Bằng cách nào đó, tâm trí má đã kéo được cái đẹp ra từ mịt mù điên loạn. Bất cứ ai nhìn vào những bức tranh này cũng sẽ nghĩ chúng mô tả một gia đình hạnh phúc nhất, sống trên bờ biển, nô đùa dưới ánh mặt trời.

Jodie và Kya ngồi lên mép sàn xe, vẫn im lặng ngắm tranh của má.

Anh tiếp tục. “Má cô độc và chỉ có một mình. Trong hoàn cảnh đó người ta sẽ cư xử khác.”

Kya khẽ rên. “Làm ơn đừng nói với em về sự cô độc. Không cần ai phải nói với em về cách nó thay đổi một con người. Em đã sống trong nó. Em chính là sự cô độc,” Kya thì thầm với sự gay gắt nhẹ. “Em tha thứ cho má vì đã bỏ đi. Nhưng em không hiểu sao bà không trở lại – tại sao bà bỏ mặc em. Có thể anh không nhớ, nhưng sau khi má đi, anh đã kể em rằng cáo cái thỉnh thoảng phải bỏ bầy con vì nó gần chết đói hoặc bị căng thẳng cực độ. Lũ cáo nhỏ bị chết – hẳn là vẫn thế dù mẹ không bỏ chúng – nhưng cáo cái sẽ sống tiếp và lại sinh con khi hoàn cảnh tốt hơn, khi nó có thể nuôi một bầy con khác trưởng thành.

“Kể từ đó, em đã đọc rất nhiều về chuyện này. Trong tự nhiên – ở ngoài xa kia nơi loài tôm hát – những hành vi có vẻ tàn nhẫn này thực ra sẽ gia tăng số con cái của con mẹ trong suốt vòng đời nó, và do vậy gen bỏ con trong lúc căng thẳng sẽ được truyền cho thế hệ tiếp theo. Rồi những thế hệ sau, sau nữa. Việc đó cũng xảy ra ở con người. Một số hành vi mà bây giờ ta thấy là độc ác đã giúp đảm bảo sự sinh tồn của con người buổi đầu tại bất cứ đầm lầy nào họ từng sống vào thời đó. Không có chúng, chúng ta sẽ chẳng ở đây. Chúng ta vẫn cất giữ những bản năng đó trong gen, và chúng bộc lộ ra trong một số hoàn cảnh nhất định. Một phần trong chúng ta sẽ mãi là cái chúng ta trước kia, cái chúng ta phải là để tồn tại – từ hồi xưa lắm.

“Có lẽ một thôi thúc nguyên thủy nào đó – một thứ gen cổ, không còn phù hợp nữa – đã đẩy má rời bỏ chúng ta vì căng thẳng, vì nỗi kinh hoàng và nguy hiểm thực sự của việc sống với ba. Nhưng điều đó không biến việc bỏ con thành đúng; lẽ ra má phải lựa chọn ở lại. Nhưng việc biết rằng khuynh hướng đó có trong bản thiết kế sinh học của chúng ta có thể giúp ta tha thứ cho một người mẹ thất bại. Điều đó có thể giải thích chuyện má bỏ đi, nhưng em vẫn không hiểu sao bà không trở lại. Tại sao bà thậm chí không viết thư cho em. Bà có thể viết hết lá thư này tới lá thư kia, năm này qua năm khác, cho đến khi một lá đến được tay em mà.”

“Anh đoán là một số chuyện không thể giải thích được, chỉ có được tha thứ hay không. Anh không biết câu trả lời. Có thể không có đáp án nào cả. Anh xin lỗi vì đã mang tới tin xấu cho em.”

“Em không có gia đình nào, không có tin tức nào về gia đình gần cả cuộc đời em. Và giờ đây trong vòng vài phút, em tìm được một người anh và mất đi một người mẹ.”

“Anh xin lỗi, Kya.”

“Đừng, anh. Thực ra, em đã mất má nhiều năm rồi, và giờ anh đã trở lại, Jodie. Em không thể nói hết em muốn gặp lại anh đến thế nào. Đây là một trong những ngày hạnh phúc nhất và đau buồn nhất cuộc đời em.” Cô chạm lên tay Jodie bằng những ngón tay cô, và anh đã hiểu về cô đủ để biết chuyện này rất hiếm.

Họ bước trở vào lán, và Jodie nhìn những thứ đồ mới xung quanh, tường mới sơn, tủ bếp thủ công nữa.

“Làm sao em xoay xở được, Kya? Trước khi ra sách, làm sao em kiếm tiền và thức ăn được?”

“Ồ, đó là một câu chuyện dài buồn chán. Chủ yếu thì em bán vẹm, hàu và cá xông khói cho Jumpin’.”

Jodie ngửa đầu ra và cười to. “Jumpin’! Anh không nghĩ tới ông ấy nhiều năm rồi. Ông ấy còn sống chứ?”

Kya không cười. “Jumpin’ là người bạn tốt nhất của em, trong nhiều năm trời ông là người bạn duy nhất. Gia đình duy nhất của em trừ khi anh tính cả lũ mòng biển cá trích.”

Jodie nghiêm lại. “Em không có bạn ở trường à?”

“Em chỉ tới trường một ngày trong đời,” cô bật cười. “Bọn trẻ cười nhạo em, nên em không bao giờ trở lại. Dành nhiều tuần dùng mưu tránh mấy người bắt trẻ trốn học. Sau tất cả những gì anh đã dạy em, chuyện đó cũng chẳng khó lắm.”

Anh có vẻ kinh ngạc. “Làm sao em học đọc? Để viết sách?”

“Thực ra, chính Tate Walker đã dạy em biết đọc.”

“Em còn gặp cậu ấy nữa không?”

“Thỉnh thoảng.” Cô đứng dậy, nhìn về bếp. “Cà phê nữa không anh?”

Jodie cảm nhận được cuộc đời cô độc giăng lơ lửng trong bếp của em gái. Nó ở đó với mớ củ hành ít ỏi trong giỏ rau, cái dĩa duy nhất đang để khô trên kệ, ổ bánh mì ngô gói kỹ trong cái khăn lau chén, như cách làm của một bà góa già.

“Anh uống nhiều rồi, cảm ơn em. Nhưng một chuyến đi dạo đồng lầy thì sao nhỉ?” Jodie đề nghị.

“Dĩ nhiên rồi. Anh sẽ không tin đâu, em có một động cơ mới nhưng vẫn dùng chiếc thuyền cũ.”

Mặt trời đã phá vỡ những đám mây, tỏa sáng ấm áp và rực rỡ với một ngày đông lạnh. Khi cô lái thuyền đưa họ qua những con kênh hẹp và cửa sông lấp lánh, Jodie kêu lên trước một gốc cây gãy mà anh còn nhớ, trông vẫn hệt như xưa, và một ổ hải ly vẫn vun lên ở nguyên chỗ cũ. Họ cười to khi tới phá nước nơi má, Kya và các chị từng mắc cạn trong bùn.

Trở lại lán nhà, Kya gom các món lại làm một bữa tiệc dã ngoại, rồi hai anh em ăn trên bờ cát cùng lũ mòng biển.

“Em còn nhỏ quá khi họ bỏ đi,” cô nói. “Kể em nghe về các anh chị khác đi anh.” Thế là Jodie kể cô nghe chuyện về Murph, anh hai, người đã cõng cô trên vai đi khắp nơi trong rừng.

“Trên đường đi em cứ cười suốt. Anh Murph sẽ chạy chầm chậm rồi quay ngoắt lại với em vắt vẻo trên đó. Một lần em cười dữ đến nỗi tè dầm ngay lên cổ Murph luôn.”

“Ôi không! Em không có.” Kya ngửa người ra, cười nắc nẻ.

“Có, em đã làm vậy đấy. Murph kêu lên nhưng vẫn tiếp tục đi, chạy thẳng xuống phá cho đến khi anh ấy ngập dưới nước, và em vẫn cưỡi trên vai anh ấy. Tất cả bọn anh cùng nhìn theo – má, Missy, Mandy và anh – cười tới ra nước mắt. Má phải ngồi bệt xuống đất, bà cười quá trời mà.”

Tâm trí Kya vẽ ra hình ảnh đi cùng những câu chuyện đó. Những mảnh vụn và mẩu nhỏ của gia đình mà Kya chưa bao giờ nghĩ là mình có được.

Jodie tiếp tục. “Chính chị Missy là người khởi xướng việc cho lũ mòng biển ăn đó.”

“Cái gì? Thật ạ! Em cứ tưởng em tự bắt đầu làm vậy chứ, sau khi mọi người đã bỏ đi.”

“Không, chị ấy cho lũ mòng biển ăn mỗi ngày khi có thể. Missy đặt tên cho tất cả bọn chúng. Chị gọi một con là Big Red, anh nhớ vậy. Em biết đó, theo chắm đỏ trên mỏ chúng.”

“Không phải là cùng con chim đó, dĩ nhiên – chính em cũng đã qua vài thế hệ Big Red của mình. Nhưng ở kia, con bên trái đó, là Big Red hôm nay.” Cô cố gắng kết nối với người chị đã cho cô bầy mòng biển này, nhưng chỉ thấy gương mặt trong tranh vẽ. Vậy là đã nhiều hơn cái mà cô từng có.

Chấm đỏ trên mỏ một chú mòng biển cá trích, Kya biết, không chỉ để trang trí. Chỉ khi chim non mổ vào đó thì chim bố mẹ mới nhả thức ăn bắt được ra cho con. Nếu chấm đỏ bị che mờ để chim non không gõ vào, bố mẹ sẽ không cho chúng ăn và chúng sẽ chết. Ngay cả trong tự nhiên, trách nhiệm làm bố mẹ cũng là một lằn ranh mỏng manh hơn người ta tưởng.

Hai anh em ngồi đó một lúc, rồi Kya nói, “Em không nhớ được gì nhiều cả.”

“Vậy là em may đó. Cứ giữ vậy đi.”

Họ cứ ngồi đó như vậy, lặng im. Không hồi tưởng lại.

★ ★ ★

Cô nấu một bữa tối miền Nam như má sẽ nấu: đậu mắt đen với hành tím, thịt lợn muối chiên, bánh mì ngô với da heo giòn, đậu lima nấu trong bơ và sữa. Bánh cobbler mâm xôi với kem sữa béo và chút bourbon Jodie mang tới. Trong khi họ dùng bữa, Jodie ngỏ ý muốn ở lại vài ngày, nếu có thể, và cô nói anh được chào đón ở lại bao lâu tùy thích.

“Giờ chỗ này là đất của em rồi, Kya. Em đã giành được nó. Anh vẫn đóng tại căn cứ Fort Benning một thời gian nữa, nên anh không thể ở lại lâu. Sau đó chắc anh sẽ kiếm một công việc tại Atlanta để chúng ta giữ liên lạc với nhau; anh muốn gặp em thường xuyên nhất có thể. Biết em vẫn ổn là tất cả những gì anh mong muốn trong cuộc đời.”

“Em cũng thích thế, Jodie. Lúc nào được thì anh cứ tới nhé.”

Chiều tối tiếp theo, khi họ ngồi trên bờ biển, mũi sóng cù khẽ mấy ngón chân trần, Kya vui chuyện một cách khác thường, và dường như đoạn nào cũng có Tate xuất hiện. Một lần cậu dẫn đường cho cô về nhà khi cô lạc trong đồng lầy hồi còn là đứa nhỏ. Hay bài thơ đầu tiên Tate đọc cho cô. Cô nói về trò chơi lông vũ, kể chuyện cậu đã dạy cô đọc thế nào, và cho biết giờ cậu là nhà khoa học ở phòng thí nghiệm. Cậu là mối tình đầu của cô, nhưng cậu đã bỏ cô khi vào đại học, để cô chờ đợi trên bờ phá. Thế nên nó đã chấm dứt.

“Chuyện đó cách đây bao lâu rồi?” Jodie hỏi.

“Khoảng bảy năm, em đoán thế. Khi anh ấy mới tới Chapel Hill.”

“Em có gặp lại cậu ấy không?”

“Anh ấy đã trở lại để xin lỗi; nói rằng anh ấy vẫn yêu em. Anh ấy là người đề nghị em xuất bản những cuốn sách tham khảo kia. Cũng vui khi thỉnh thoảng gặp anh ấy trong đồng lầy, nhưng em sẽ không bao giờ có quan hệ tình cảm gì với Tate nữa. Không thể tin anh ấy.”

“Kya, đó là chuyện bảy năm trước rồi. Tate chỉ là cậu trai mới lớn, lần đầu tiên xa nhà, hàng trăm cô gái xinh đẹp vây quanh. Nếu Tate đã trở lại xin lỗi và nói rằng cậu ấy yêu em, có lẽ em không nên quá khắt khe với cậu ấy.”

“Hầu hết đàn ông đều cặp hết cô này tới cô nọ. Những gã không xứng đáng khệnh khạng đi tới đi lui, dụ dỗ bằng lời dối trá. Đó có lẽ là lý do má bị lừa gạt bởi người như ba. Tate không phải là gã trai duy nhất từng bỏ em. Chase Andrews thậm chí còn nói chuyện hôn nhân với em, nhưng anh ta đã cưới người khác. Thậm chí không thèm cho em biết; em đọc được tin trên một tờ báo.”

“Anh xin lỗi. Anh thực sự rất tiếc, nhưng Kya, không phải chỉ có đàn ông con trai mới thiếu thủy chung. Chính anh cũng từng bị lừa, bị đá, bị cán qua cán lại mấy lần. Hãy chấp nhận sự thật, rất nhiều lần tình yêu không có kết quả tốt. Nhưng ngay cả khi không thành, nó vẫn kết nối em với người kia, và đến cùng thì đó là tất cả những gì em có, những kết nối. Nhìn chúng ta xem; giờ anh em mình có nhau rồi, và cứ nghĩ nếu anh có con và em cũng có con, chà, đó là cả một chuỗi những kết nối mới. Và cứ thế nối dài. Kya, nếu em yêu Tate, hãy một lần mạo hiểm.”

Kya nghĩ về bức tranh má vẽ Tate và chính cô hồi còn nhỏ, đầu hai đứa trẻ chụm vào nhau, vây quanh là những đóa hoa và đàn bướm màu sắc dịu dàng, tươi sáng. Có lẽ sau cùng thì cũng có một thông điệp của má.

★ ★ ★

Vào buổi sáng thứ ba trong chuyến thăm của Jodie, hai anh em lấy ra những bức tranh của má – tất cả chỉ trừ một bức mà Jodie giữ lại – và treo vài bức lên tường. Lán nhà khoác lên một ánh sáng khác, như thể họ vừa mở ra nhiều cửa sổ hơn. Kya lùi lại và ngắm chúng – một phép màu khi lại có tranh của má trên tường nhà. Lôi ra từ ngọn lửa.

Rồi Kya cùng Jodie ra chỗ chiếc bán tải và đưa anh một túi thức ăn trưa để ăn lúc đi đường. Họ nhìn qua rừng cây, xuống lối mòn, nhìn khắp mọi chỗ trừ đôi mắt người bên cạnh.

Cuối cùng Jodie nói, “Anh nên đi thôi, nhưng đây là địa chỉ và số điện thoại của anh,” và anh chìa ra một mẩu giấy ghi chú. Cô ngừng thở, tay trái vịn chiếc xe để đứng vững trong khi tay phải đón lấy mẩu giấy từ anh. Một thứ đơn giản biết bao: địa chỉ người anh trên mẩu giấy. Một điều kỳ diệu biết bao: một gia đình cô có thể tìm được. Số điện thoại cô có thể gọi đến và anh sẽ trả lời. Cổ họng cô nghẹn lại khi anh kéo cô vào lòng, và cuối cùng, sau cả một cuộc đời, cô tựa mình vào người anh và thổn thức.

“Em không bao giờ nghĩ em còn được gặp anh. Em nghĩ anh đã đi mãi mãi.”

“Anh sẽ luôn ở đây, anh hứa. Bất cứ khi nào chuyển chỗ, anh sẽ gửi địa chỉ mới cho em. Nếu có bao giờ cần anh, em hãy viết thư hoặc gọi điện, nghe anh chứ?”

“Em sẽ làm thế. Và hãy trở lại thăm mỗi khi anh có thể.”

“Kya, đi tìm Tate đi. Cậu ấy là người tốt đấy.”

Jodie cứ vẫy tay từ cửa sổ dù đã chạy tuốt đằng xa, trong khi cô nhìn theo, vừa cười vừa khóc. Và khi xe rẽ ra đường lớn, cô có thể thấy màu đỏ chiếc bán tải qua những lỗ hổng giữa rừng như chiếc khăn choàng trắng ngày nào, cánh tay dài của anh vẫy mãi cho tới khi khuất hẳn.

: Delia Owens Thể loại: Tâm Lý Xã Hội, Lãng mạn, trinh thám TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Delia Owens

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.