1969
Một chiều tháng Bảy năm 1969, hơn bảy tháng sau chuyến thăm của Jodie, quyển Những loài chim ở bờ biển phía đông của Catherine Danielle Clark – cuốn thứ hai của cô, một tập sách đẹp đẽ đầy những chi tiết sắc sảo – xuất hiện trong hộp thư nhà. Kya lướt những ngón tay lên lớp bìa áo ấn tượng – tranh cô vẽ một chú mòng biển cá trích. Mỉm cười, cô nói, “Này, Big Red, mày được lên bìa sách rồi.”
Cầm cuốn sách mới, Kya nhẹ nhàng rảo bước tới khoảng trống giữa cụm sồi gần nhà, tìm nấm dại. Lá rụng ẩm ướt nghe man mát dưới chân khi cô tới gần một cụm nấm có mũ vàng rực. Giữa bước đi, cô khựng lại. Ở đó, nằm trên gốc cây lông vũ ngày trước là một hộp sữa nhỏ, đỏ và trắng, giống hệt cái hồi xưa. Bất ngờ, cô bật cười.
Bên trong hộp sữa, gói bằng khăn giấy, là một cái la bàn cũ do quân đội cấp đặt trong hộp bằng đồng, đã xỉn màu xanh lá xám cùng năm tháng. Cô hít vào một hơi khi trông thấy nó. Cô chưa bao giờ cần tới la bàn vì phương hướng với cô có vẻ quá rõ ràng. Nhưng vào những ngày mây giăng, khi mặt trời lẩn tránh, chiếc la bàn sẽ dẫn lối cho cô.
Một mẩu giấy gấp lại ghi: Kya yêu quý, Cái la bàn này là của ông anh từ hồi Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Ông cho anh khi anh còn nhỏ, nhưng anh chưa bao giờ dùng nó, và anh nghĩ có lẽ em sẽ tận dụng được nó một cách tốt nhất. Mến yêu, Tate. PA. Anh rất vui vì em có thể đọc mẩu giấy này!
Kya đọc mấy từ Yêu quý và Mến yêu lần nữa. Tate. Cậu bé tóc vàng trên thuyền câu, đã đưa cô về nhà trước khi bão tới, đã tặng cô những chiếc lông vũ trên một gốc cây đẫm gió sương, đã dạy cô biết đọc; chàng trai mới lớn dịu dàng đã đưa cô qua chu kỳ đầu tiên của một phụ nữ và đánh thức khao khát trong cô; nhà khoa học trẻ đã khích lệ cô xuất bản những cuốn sách của riêng mình.
Mặc dù đã tặng Tate quyển vỏ sò, cô vẫn tiếp tục nấp trong lùm cây mỗi khi thấy cậu giữa đồng lầy, lặng lẽ chèo đi để không bị trông thấy. Những tín hiệu giả dối của bầy đom đóm, tất cả những gì cô biết về tình yêu.
Cả Jodie cũng khuyên cô nên cho Tate thêm cơ hội. Nhưng mỗi lần nghĩ tới hay trông thấy cậu, trái tim cô lại nhảy từ tình yêu ngày trước sang nỗi đau bị bỏ rơi. Cô ước gì nó dứt khoát ở hẳn một bên thôi.
Vài buổi sáng sau đó, Kya lướt qua cửa sông trong màn sương sớm mịt mờ, cái la bàn nhét trong ba lô, mặc dù ít có khả năng cô cần tới nó. Cô định tìm vài loài hoa dại quý hiếm trên một lưỡi cát phủ rừng nhô ra biển, nhưng một phần trong cô lại đưa mắt khắp các kênh rạch tìm Tate.
Màn sương trở nên cứng đầu và dùng dằng mãi không đi, quấn mớ tua của nó quanh những gốc cây và cành thấp. Không khí tĩnh lặng; ngay cả lũ chim rừng cũng im tiếng khi cô lững lờ trôi về phía trước dọc dòng kênh. Gần đó, tiếng cạch, cạch vang lên khi một mái chèo đưa chậm gõ lên mép thuyền, rồi một con thuyền như bóng ma hiện ra từ màn sương mờ mịt.
Màu sắc, vốn đã nhòa đi trong mờ xám, bỗng tụ lại thành những hình thù rắn chắc khi đi vào ánh sáng. Mái tóc vàng dưới chiếc nón đỏ. Như thể đến từ một giấc mơ, Tate đứng trên đuôi chiếc thuyền câu cũ, chống mái chèo đẩy thuyền lướt tới. Kya tắt máy thuyền và chèo giật lùi vào một bụi rậm để nhìn cậu đi qua. Luôn luôn lùi lại để nhìn cậu đi qua.
Lúc mặt trời lặn, bình tĩnh hơn, trái tim đã trở vào chỗ của nó, Kya đứng trên bờ biển và nhẩm đọc:
Chẳng bao giờ đơn giản phút hoàng hôn.
Ánh chạng vạng khúc xạ và phản chiếu
Nhưng không hề có thật.
Chiều tà mang một lớp ngụy trang
Che phủ dấu vết,
Che đậy dối gian.
Chúng ta không quan tâm
Rằng hoàng hôn là lừa mị.
Chúng ta thấy những sắc màu rực rỡ,
Và chẳng bao giờ học được điều gì
Vầng dương đã chìm
Vào lòng đất
Khi chúng ta thấy vết bỏng cháy.
Hoàng hôn là một lớp ngụy trang,
Che phủ sự thật, che đậy dối gian.
AH