1969
Ngày 28 tháng Mười năm 1969, Kya ghé bến Jumpin’ để chào tạm biệt ông như đã hứa, rồi lái thuyền ra cầu tàu thị trấn, nơi những người đánh cá hoặc câu tôm như mọi khi dừng công việc lại và dõi theo cô. Phớt lờ họ, cô cột thuyền và kéo một chiếc vali bạc màu – lôi ra từ sâu trong tủ đồ cũ của má – lên Phố Main. Cô không có ví, nhưng đã nhét vào ba lô đầy sách, chút thịt muối, bánh mì, với một số tiền nhỏ, sau khi chôn hầu hết tiền tác quyền trong một hộp thiếc gần phá nước. Trong dịp này, cô trông khá bình thường, mặc váy Sears, Robuck màu nâu, áo trắng và mang giày đế bằng. Những người giữ cửa hàng bận bịu làm việc, tiếp khách hàng, quét vỉa hè, mọi người đều dán mắt vào cô.
Cô đứng ở góc đường dưới tấm biển Trạm dừng xe buýt và chờ đến khi chiếc buýt Trailways, thắng xe rít lên, đậu két lại đó và che khuất biển cả. Không ai lên hay xuống khi Kya bước về phía trước và mua một vé tới Greenville từ tài xế xe. Khi cô hỏi ngày và giờ trở về, ông đưa cô một tờ lịch trình in sẵn rồi cất vali của cô vào chỗ. Cô ôm chặt chiếc ba lô và bước lên xe. Trước khi cô có thời gian nghĩ nhiều về nó, chiếc xe, có vẻ dài như cả con phố, đã lái khỏi thị trấn Vũng Barkley.
Hai ngày sau lúc 1:16 chiều, Kya bước xuống chiếc buýt Trailways chạy về từ Greenville. Bấy giờ ngoài phố còn có nhiều người hơn trước, dõi theo và thì thầm khi cô hất mái tóc dài qua vai và nhận chiếc vali từ tài xế. Cô băng qua đường đến cầu tàu, bước lên thuyền, rồi lái thẳng về nhà. Cô muốn dừng lại báo Jumpin’ mình đã về như từng hứa, nhưng có nhiều thuyền khác đang xếp hàng chờ xăng trước bến của ông, thế nên cô nghĩ hôm sau sẽ trở lại. Hơn nữa, như vầy cô sẽ về với lũ mòng biển sớm hơn một chút.
Vậy là sáng hôm sau, ngày 31 tháng Mười, khi tấp thuyền vào bến Jumpin’, cô gọi ông và ông bước ra từ cửa tiệm nhỏ.
“Chào Jumpin’, cháu chỉ muốn báo ông là cháu về rồi. Mới về hôm qua.” Ông không nói gì khi bước lại gần Kya.
Ngay khi cô bước lên cầu tàu, ông lên tiếng, “Cô Kya. Ta…”
Cô nghiêng đầu. “Chuyện gì vậy ông? Có chuyện không ổn ạ?
Ông đứng nhìn cô. “Kya, cháu đã nghe tin dề Chase chưa?”
“Chưa. Tin gì vậy ạ?”
Ông lắc đầu. “Chase Andrews chết rồi. Chết vào nửa đêm khi cháu ở Greenval.”
“Cái gì?” Kya và Jumpin’ cùng nhìn sâu vào mắt nhau.
“Họ tìm thấy hắn xáng hôm qua dưới chưng tháp phòng cháy củ với một… chà, họ nói cổ hắn bị gãy dà sọ hắn bị đập bể. Họ đoán hắn té từ trên tháp xuống.”
Môi Kya vẫn hé ra.
Jumpin’ nói tiếp. “Cả thị trấn đang xôn xao lắm. Có người cho là tai nạn, nhưng tin đồn là cảnh sát trưởng hông chắc vậy. Mẹ của Chase phát điên, nói là có hành vi phạm tội ở đây. Đúng là một mớ lộng xộng.”
Kya hỏi, “Tại sao họ nghi ngờ có hành vi phạm tội…?”
“Một tấm vỉ trên xàng tháp mở toang, và hắn té thẳng qua đó, và họ thấy điểm đó đáng ngờ. Có người nói mấy tấm vỉ bị để mở suốt vì bọn trẻ cứ quậy phá chênh đó, và Chase có thể té vì tai nạn. Nhưng có kẻ gào là giết người rồi.”
Kya im lặng, nên Jumpin’ tiếp tục kể. “Một lý do là, khi Chase được tìm thấy, hắn hông đeo sợi dây chuyền vỏ sò vẩng đeo mổi ngày suốt nhìu năm nay, và vợ hắn nói hắn có đeo nó trong đêm rời khỏi nhà, chước khi tới gặp bố mẹ ăng tối. Lun đeo nó, cô vợ bảo vậy.”
Miệng Kya khô khốc khi nghe nhắc tới sợi dây chuyền.
“Rồi, hai đứa trẻ tìm thấy Chase, chà, chúng nghe cảnh sát trưởng nói hông có dấu chân nào ở hiện trường cả. Hông một dấu nào. Như có ai đó đã xóa đi chứng cớ. Mấy thằng nhỏ bô lô ba la về chuyện đó khắp thị trấn.”
Jumpin’ bảo Kya về thời điểm tổ chức tang lễ nhưng biết cô sẽ không tới. Chuyện đó sẽ là một cảnh tượng đáng chú ý lắm với các nhóm thêu ong và nghiên cứu Kinh thánh trong làng. Chắc chắn những lời đồn đoán sẽ đề cập tới Kya. Ơn Chúa là con bé ở tận Greenval vào giờ hắn chết, không thì họ xẻ gán tội cho con bé, Jumpin’ nghĩ.
Kya gật đầu với Jumpin’ và dập dềnh trên sóng về nhà. Cô đứng trên bờ đất bùn của phá nước, thì thầm một đoạn thơ của Amanda Hamilton:
Đừng bao giờ đánh giá thấp
trái tim,
Những việc nó làm
Lý trí chẳng sao hiểu được.
Tim sai khiến, tim cảm nhận.
Nếu không, giải thích thế nào
Con đường em đã chọn,
Và anh đã chọn
Lối dài băng qua đây?