1970
Thẩm phán Sims bước vào phòng xử án và gật đầu về phía bàn biện hộ. “Anh Milton, anh đã sẵn sàng gọi nhân chứng đầu tiên cho bên biện hộ chưa?”
“Tôi đã sẵn sàng, thưa tòa.”
“Tiến hành đi.”
Sau khi nhân chứng lập lời thề và ngồi xuống, Tom bảo, “Vui lòng cho biết tên bà và công việc bà làm ở Vũng Barkley.” Kya ngẩng đầu lên đủ để thấy người phụ nữ thấp người, cao tuổi, có mái tóc tím-trắng uốn xoăn mà nhiều năm trước từng hỏi sao lúc nào cô cũng đi mua tạp phẩm một mình. Có lẽ giờ bà đã thấp hơn và tóc xoăn hơn, nhưng trông bà vẫn giống hồi trước đến đáng kinh ngạc. Bà Singletary có thể nhiều chuyện và hách dịch, nhưng bà đã cho Kya cái vớ lưới Giáng sinh với chiếc còi xanh vào mùa đông sau khi má đi mất. Đó là tất cả Giáng sinh mà Kya từng có.
“Tôi là Sarah Singletary, và tôi là nhân viên bán hàng của tiệm Piggly Wiggly ở Vũng Barkley.”
“Sarah, có đúng là từ chỗ máy tính tiền trong tiệm Piggly Wiggly, bà có thể thấy trạm xe buýt Trailways không?”
“Đúng thế, tôi thấy nó rất rõ.”
“Vào ngày 28 tháng Mười năm ngoái, bà có thấy bị cáo, cô Catherine Clark, đứng chờ tại trạm xe buýt vào lúc 2:30 chiều?”
“Có, tôi đã thấy cô Clark đứng đó.” Khi nói câu này, Sarah đưa mắt nhìn Kya và nhớ lại cô bé từng nhiều năm liền đi chân trần vào tiệm. Không ai hay biết, nhưng trước khi Kya đếm được, Sarah đã cho cô bé thêm vài đồng lẻ – số tiền mà bà phải lấy từ ví của mình để bù vào khoản hụt đi. Dĩ nhiên, Kya có một khoản tiền ít ỏi cực kỳ, nên Sarah chỉ góp vài đồng năm xu với mười xu, nhưng việc đó hẳn đã giúp được cô bé.
“Cô ấy đã đợi bao lâu? Và bà tận mắt thấy cô ấy bước lên chuyến xe lúc 2:30 chiều chứ?”
“Cô ấy chờ khoảng mười phút, tôi nghĩ vậy. Tất cả chúng tôi đều thấy cô ấy mua vé từ tài xế, đưa ông ta vali của mình, rồi bước lên xe. Xe chạy, và cô ấy chắc chắn đã vào trong đó.”
“Và tôi tin là hai hôm sau, bà cũng đã thấy cô ấy trở lại vào ngày 30 tháng Mười trên chiếc xe 1:16 chiều. Có đúng vậy không?”
“Đúng vậy, hai ngày sau, một lúc sau 1:15 chiều, tôi nhìn lên khi chiếc xe buýt dừng lại, và cô Clark đã bước xuống từ trên đó. Tôi chỉ cho mấy cô nhân viên khác thấy cô ấy.”
“Rồi cô ấy làm gì?”
“Cô ấy đi tới bến, lên thuyền mình và lái về phía nam.”
“Cảm ơn, Sarah. Vậy là được rồi.”
Thẩm phán Sims hỏi, “Có câu hỏi nào không, anh Eric?”
“Không, thưa tòa, tôi không có câu hỏi. Thực ra, từ danh sách nhân chứng, tôi thấy bên biện hộ dự định gọi nhiều người dân thị trấn ra làm chứng rằng cô Clark đã lên và xuống xe buýt Trailways vào ngày và giờ như bà Singletary đã nói rõ. Bên công tố không bác bỏ lời khai này. Thực ra, nó phù hợp với lập luận của chúng tôi là cô Clark đã lên hai chuyến xe đó vào những ngày giờ đó và nếu tòa đồng ý, chúng ta không cần thiết phải nghe những nhân chứng khác nói về vấn đề này nữa.”
“Được rồi, cô Singletary, cô có thể lui xuống. Anh thấy sao, anh Milton? Nếu bên công tố chấp nhận sự thật là cô Clark đã lên chuyến xe buýt 2:30 ngày 28 tháng Mười năm 1969, và trở lại vào khoảng 1:16 ngày 30 tháng Mười năm 1969, anh có cần gọi những nhân chứng khác lên xác nhận điểm này nữa không?”
“Không, thưa tòa.” Nét mặt ông điềm tĩnh, nhưng bên trong Tom rủa thầm. Chứng cứ ngoại phạm của Kya, rằng cô đã ra khỏi thị trấn vào thời điểm Chase chết, là một trong những luận chứng mạnh nhất của bên biện hộ. Nhưng Eric đã thành công làm giảm sức mạnh của bằng chứng ngoại phạm bằng cách đơn giản là chấp nhận nó, thậm chí nói rằng ông ta không cần nghe lời chứng rằng Kya đã đến và rời khỏi Greenville giữa ban ngày. Nó không ảnh hưởng tới lập luận của bên công tố vì họ khẳng định Kya đã trở lại Barkley trong đêm để thực hiện vụ giết người. Tom đã thấy trước nguy cơ nhưng nghĩ rằng bồi thẩm đoàn nhất định phải nghe lời chứng, để hình dung Kya rời khỏi thị trấn giữa ban ngày và không trở lại cho đến sau vụ việc. Giờ, họ sẽ nghĩ chứng cứ ngoại phạm của cô thậm chí không đủ quan trọng để xác nhận.
“Được rồi. Hãy tiếp tục với nhân chứng tiếp theo của anh.”
Hói và béo lùn, áo khoác cài nút chật cứng trên cái bụng tròn căng, ông Lang Furlough làm chứng rằng ông ta sở hữu và điều hành Nhà nghỉ Ba Núi ở Greenville và rằng cô Kya đã ở tại nhà nghỉ từ ngày 28 đến 30 tháng Mười, năm 1969.
Kya ghét phải nghe cái gã tóc bóng dầu này, người mà cô không bao giờ nghĩ mình sẽ gặp lại, vậy mà giờ gã ở đây, nói về cô như thể cô không ở đó. Ông ta kể đã đưa cô đến tận phòng nhưng không nhắc tới việc mình đã nấn ná lại quá lâu. Cứ nghĩ ra đủ thứ lý do để ở trong phòng cô cho đến khi cô mở cửa, tỏ ý mời ông ta đi khỏi. Khi Tom hỏi sao ông ta biết chắc lúc nào cô Clark đi ra đi vào nhà nghỉ, ông ta cười khà khà và nói cô là kiểu phụ nữ mà đàn ông để ý. Ông ta thêm rằng cô khác lạ ra sao, không biết cách dùng điện thoại, đi bộ từ trạm xe buýt với một cái vali, và gói theo bữa ăn tối.
“Ông Furlough, đêm sau đó, 29 tháng Mười năm 1969, đêm Chase Andrews mất mạng, ông đã làm việc tại bàn tiếp tân suốt cả đêm. Có đúng vậy không?”
“Đúng vậy.”
“Sau khi cô Clark trở về phòng lúc mười giờ sau bữa ăn tối với biên tập viên của cô ấy, ông có thấy cô ấy rời khỏi đó nữa không? Bất cứ lúc nào trong đêm 29 rạng 30 tháng Mười, ông có thấy cô ấy ra ngoài rồi trở về phòng không?”
“Không. Tôi ở đó cả đêm và chẳng bao giờ thấy cô ấy ra khỏi phòng hết. Như tôi đã nói, phòng cô ấy ở ngay đối diện quầy tiếp tân, nên tôi sẽ thấy nếu cô ấy đi khỏi.”
“Cảm ơn, ông Furlough, chỉ vậy thôi. Nhân chứng của anh đấy.”
Sau vài phút thẩm vấn chéo, Eric tiếp tục. “Được rồi, ông Furlough, tới lúc này chúng ta đã biết ông có rời chỗ tiếp tân để về căn hộ riêng hai lần, sử dụng nhà vệ sinh rồi trở lại; cậu bé giao hàng đưa tới pizza; ông trả tiền cho cậu bé, vân vân; bốn vị khách nhập phòng, hai vị trả phòng; và giữa tắt cả những việc đó, ông đã hoàn tất bản kê khai số thu của ông. Giờ tôi cho rằng, ông Furlough, trong tất cả cái hỗn loạn đó, có rất nhiều lần cô Clark có thể lặng lẽ bước ra ngoài, nhanh chóng băng qua đường, mà ông không hề trông thấy. Chuyện đó chẳng phải hoàn toàn có thể xảy ra sao?”
“Chà, tôi đoán là có thể. Nhưng tôi đâu có thấy gì. Tôi không thấy cô ấy ra khỏi phòng tối đó – đó là điều tôi muốn nói.”
“Tôi hiểu điều đó rồi, ông Furlough. Và cái tôi muốn nói là rất có thể cô Clark đã ra khỏi phòng, đi bộ tới trạm xe buýt, đón xe tới Vũng Barkley, giết Chase Andrews và trở lại phòng mình, và ông không hề thấy cô ấy vì ông quá bận bịu với công việc của ông. Không còn câu hỏi nào nữa.”
★ ★ ★
Sau giờ nghỉ trưa, khi mọi người đã yên vị và thẩm phán đã ngồi vào chỗ, Scupper bước vào phòng xử án. Tate quay lại nhìn cha cậu, vẫn trong bộ quần yếm và đôi bốt hải quân vàng, bước dọc lối đi. Scupper không định tới dự phiên xử vì bận việc, ông sẽ nói thế, nhưng chủ yếu sự quyến luyến con trai ông dành cho cô Clark làm ông ngạc nhiên và bối rối. Dường như Tate chưa từng có cảm xúc với bất cứ người con gái nào khác, và ngay cả khi đã trưởng thành, có nghề nghiệp vững vàng, cậu vẫn yêu người phụ nữ lạ lùng, bí ẩn đó. Người phụ nữ đang bị buộc tội giết người.
Rồi giữa trưa hôm đó, đứng trên thuyền mình, lưới nằm một đống lùng nhùng quanh ủng, Scupper nặng nề thở hắt ra. Khuôn mặt ông nóng bừng vì hổ thẹn khi ông nhận ra bản thân mình – như vài người chẳng biết gì trong thị trấn – đã ôm định kiến với Kya vì cô lớn lên ở đồng lầy. Ông nhớ Tate đã hãnh diện khoe với ông cuốn sách đầu tiên Kya viết về vỏ sò, và chính ông đã ngạc nhiên trước năng khiếu khoa học và nghệ thuật của cô gái. Cuốn nào cô ra ông cũng mua về một quyển nhưng không nói cho Tate biết. Rõ ngớ ngẩn.
Ông đã rất tự hào về con trai, tự hào vì cậu luôn biết mình muốn gì và cách để đạt được nó. Chà, Kya cũng làm được điều tương tự trong hoàn cảnh gian khó hơn nhiều.
Làm sao ông có thể không ở đó vì Tate? Không có gì quan trọng ngoài việc ủng hộ con trai mình. Ông buông lưới xuống dưới chân, bỏ chiếc thuyền đầm mình trong bến, và đi bộ thẳng tới phòng xử án.
Khi ông tới hàng ghế đầu tiên, Jodie, Jumpin’ và Mabel đứng dậy để ông len vào và ngồi xuống cạnh Tate. Hai cha con họ gật đầu với nhau, và nước mắt dâng lên trong mắt cậu.
Tom Milton chờ cho Scupper ngồi xuống, sự im lặng bao phủ hoàn toàn, rồi nói, “Thưa tòa, bên biện hộ cho gọi Robert Foster.” Mặc áo khoác vải tweed, cà vạt, và quần kaki, ông Foster có dáng người thon gọn, chiều cao trung bình, ánh mắt hiền từ và bộ râu cắt ngắn. Tom hỏi tên và công việc của ông.
“Tôi tên Robert Foster, và tôi là biên tập viên cao cấp của Công ty Xuất bản Harrison Morris ở Boston, Massachusetts.” Kya, tay đặt lên trán, nhìn chằm chằm xuống đất. Biên tập viên của cô là người duy nhất cô biết không nghĩ về cô với biệt danh Cô gái Đồng lầy, người đã tôn trọng cô, thậm chí có vẻ ngạc nhiên và thán phục trước hiểu biết và tài năng của cô nữa. Giờ ông đang ở trước tòa, trông thấy cô tại bàn bị cáo, mang trên mình cáo buộc sát nhân.
“Ông có phải là biên tập viên những cuốn sách của cô Catherine Clark không?”
“Phải. Cô ấy là một nhà tự nhiên học, họa sĩ và cây bút hết sức tài năng. Một trong những tác giả chúng tôi yêu quý nhất.”
“Ông có thể xác nhận rằng mình đã đến Greenville, Bắc Carolina vào ngày 28 tháng Mười năm 1969, và đă gặp cô Clark vào cả hai ngày 29 và 30 không?”
“Đúng là như thế. Tôi tới dự một hội nghị nhỏ và có dư chút thời gian ở đó nhưng không đủ để tới chỗ cô ấy, vậy nên tôi mời cô Clark tới Greenville để chúng tôi có thể gặp nhau.”
“Ông có thể cho chúng tôi biết chính xác thời gian ông chở cô ấy về nhà nghỉ tối 29 tháng Mười năm ngoái không?”
“Sau cuộc gặp mặt, chúng tôi ăn tối ở khách sạn và tôi chở Kya về lại nhà nghỉ của cô ấy lúc 9:55 tối.”
Kya nhớ lại lúc cô đứng trên ngưỡng cửa phòng ăn, nhìn gian phòng đầy những chiếc bàn thắp nến lung linh dưới các chùm đèn dìu dịu. Ly rượu vang cao trên khăn trải bàn trắng toát. Các thực khách ăn mặc lịch lãm trò chuyện bằng giọng thì thầm, trong khi cô mặc váy và áo kiểu đơn giản. Cô và Robert đã dùng cá hồi Bắc Carolina tẩm hạnh nhân, gạo hoang, rau chân vịt trộn kem và bánh mì mềm. Kya cảm thấy thư thái khi ông giữ cho cuộc trò chuyện được trôi chảy bằng sự lịch thiệp dễ dàng, bám vào những chủ đề tự nhiên vốn quen thuộc với cô.
Bây giờ nhớ lại, cô kinh ngạc không biết bằng cách nào mình xoay xở được. Nhưng thực ra, nhà hàng, với tất cả những cái lấp lánh của nó, vẫn không hoành tráng bằng bữa dã ngoại yêu thích nhất của cô. Hồi cô mười lăm, Tate đã đi thuyền đến lán một bình minh, và sau khi cậu quấn một cái mền quanh vai cô, họ đã đi sâu vào trong đất liền, qua mê cung lạch nước tới một khu rừng cô chưa bao giờ thấy. Họ đi bộ cả dặm tới rìa một cánh đồng nước ngập, nơi cỏ mọc lên xuyên bùn, và tại đó cậu đã trải khăn dưới những nhánh dương xỉ to như tán lọng.
“Giờ chúng ta chờ,” cậu nói, rồi rót trà nóng ra từ bình thủy và mời cô “bánh chồn viên”, một loại bánh nướng từ hỗn hợp bột bánh mì, xúc xích nóng và phô mai cheddar sắc vị mà cậu đã nấu cho dịp đó. Dù đang ngồi giữa phòng xử án lạnh lẽo lúc này, cô vẫn nhớ hơi ấm của bờ vai cậu chạm vào cô dưới tấm chăn, trong khi họ nhấm nháp bữa sáng dã ngoại.
Họ không phải chờ lâu. Một chốc sau, có tiếng náo động om sòm như đại bác vang tới từ phía bắc. “Chúng tới đó,” Tate bảo.
Một đám mây mỏng, đen xuất hiện ở chân trời và khi lướt về phía họ, chúng vút lên cao. Tiếng líu ríu ngày càng to và chói lói khi đám mây nhanh chóng lấp đầy bầu trời cho đến khi chẳng còn một chấm xanh nào nữa. Hàng trăm ngàn con ngỗng tuyết, vỗ cánh, kêu vang và chao lượn, bao phủ thế giới. Những mảng cuộn xoáy lượn tròn và chao nghiêng để hạ cánh. Có lẽ cả nửa triệu đôi cánh trắng cùng xòe ra đồng loạt, khi những cặp chân hồng-cam thõng xuống, và một cơn bão tuyết chim đổ bộ đất liền. Đúng thực là một cơn bão vùng cực khi mọi thứ trên Trái đất, gần và xa, đều biến mất cả. Lần lượt từng con, rồi từng đợt mười con, rồi cả trăm con ngỗng đáp xuống chỉ cách vài bước từ chỗ Kya và Tate đang ngồi dưới cây dương xỉ. Bầu trời trống đi khi khoảng đồng ngập nước đầy lên cho đến khi nó được phủ kín một lớp lông trắng ngần.
Không nhà hàng sang trọng nào có thể sánh bằng cảnh đó, và những viên bánh chồn cho nhiều hương vị và cảm giác hơn cả cá hồi tẩm hạnh nhân.
“Ông đã thấy cô Clark đi vào phòng phải không?”
“Dĩ nhiên. Tôi mở cửa phòng cho cô ấy và chờ cô ấy vào trong an toàn trước khi lái xe đi.”
“Ông có gặp lại cô Clark ngày hôm sau không?”
“Chúng tôi đã hẹn gặp nhau ăn sáng, nên tôi đón cô ấy lúc 7:30. Chúng tôi ăn tại tiệm bánh nướng chảo Stack ‘Em High. Tôi đưa cô ấy về lại nhà nghỉ lúc 9:00. Và đó là lần cuối tôi gặp cô ấy cho tới hôm nay.” Ông nhìn Kya, nhưng cô cụp mắt xuống bàn.
“Cảm ơn, ông Foster. Tôi không còn câu hỏi nào nữa.”
Eric đứng lên và hỏi, “Ông Foster, tôi tự hỏi tại sao ông ở Khách sạn Piedmont, là khách sạn tốt nhất trong khu vực, trong khi công ty ông chỉ trả cho cô Clark – một cây bút tài năng, tác giả được yêu quý nhất, như ông nói – ở một nhà nghỉ rất cơ bản, Nhà nghỉ Ba Núi?”
“Chà, dĩ nhiên, chúng tôi đã mời, thậm chí đề nghị cô Clark tới ở tại Piedmont, nhưng cô ấy nhất quyết ở nhà nghỉ.”
“Vậy ư? Cô ấy biết tên nhà nghỉ sao? Cô ấy đặc biệt yêu cầu được ở tại Ba Núi à?”
“Phải, cô ấy viết thư nói rằng cô ấy muốn ở tại Ba Núi.”
“Cô ấy có nói tại sao không?”
“Không, tôi không biết vì sao.”
“Chà, tôi có thể biết đấy. Đây là bản đồ du lịch của Greenville.” Eric vung vẩy tấm bản đồ xung quanh khi tiến lại gần bục nhân chứng. “Ông có thể thấy đây, ông Foster, là Khách sạn Piedmont – khách sạn bốn sao mà các ông mời cô Clark tới ở – nằm trong khu vực trung tâm thành phố. Nhà nghỉ Ba Núi, trái lại, nằm trên Cao tốc 258, gần trạm xe buýt Trailways. Thực ra, nếu ông đã nghiên cứu bản đồ như tôi, ông sẽ thấy Ba Núi là nhà nghỉ gần nhất với trạm xe buýt…”
“Phản đối, thưa tòa,” Tom nói to. “Ông Foster không phải là chuyên gia về đường lối ở Greenville.”
“Không, nhưng tấm bản đồ là vị chuyên gia đó. Tôi hiểu anh đang đi tới đâu rồi, Eric, và tôi cho phép điều đó. Tiếp tục đi.”
“Ông Foster, nếu một người dự tính có một chuyến đi ngắn ra trạm xe buýt vào lúc nửa đêm, cũng hợp lý thôi khi thay vì Piedmont họ chọn Ba Núi. Đặc biệt là nếu họ định đi bộ. Tất cả những gì tôi cần từ ông là lời xác nhận rằng cô Clark đã đặc biệt yêu cầu được ở Ba Núi chứ không phải Piedmont.”
“Như tôi đã nói, cô ấy yêu cầu ở Ba Núi.”
“Tôi không còn gì để hỏi nữa.”
“Thẩm vấn ngược lại?” Thẩm phán Sims hỏi.
“Vâng, thưa tòa. Ông Foster, ông đã làm việc với cô Clark bao nhiêu năm rồi?”
“Ba năm.”
“Mặc dù chưa từng gặp cô ấy trước chuyến đi Greenville tháng Mười năm ngoái, liệu ông có cho rằng mình hiểu cô Clark khá rõ qua thư từ suốt những năm qua hay không? Nếu có, ông mô tả cô ấy thế nào?”
“Có, tôi cho rằng mình hiểu. Cô ấy là một người rụt rè, hiền dịu, tôi tin là thế. Cô ấy thích ở một mình trong chốn hoang sơ; phải mất một thời gian tôi mới thuyết phục được cô ấy tới Greenville. Chắc chắn cô ấy sẽ tránh những đám đông người.”
“Đám đông người như cái ta sẽ bắt gặp tại khách sạn lớn như Piedmont?”
“Đúng vậy.”
“Thực ra, ông không nghĩ là chẳng có gì bất ngờ sao, ông Foster, khi cô Clark – người thích ở một mình – sẽ chọn một nhà nghỉ nhỏ, hơi hẻo lánh thay vì một khách sạn lớn sầm uất ngay ở trung tâm? Rằng lựa chọn này phù hợp với tính cách cô ấy?”
“Phải, tôi nghĩ thế.”
“Hơn nữa, không hợp lý sao khi cô Clark, vì không quen thuộc với phương tiện đi lại công cộng và biết mình phải đi bộ từ trạm xe buýt tới khách sạn rồi trở lại, mang theo một cái vali, đã quyết định chọn khách sạn hoặc nhà nghỉ gần nhất với trạm xe buýt?”
“Phải.”
“Cảm ơn ông. Thế là đủ rồi.”
Khi Robert Foster rời khỏi bục nhân chứng, ông đến ngồi với Tate, Scupper, Jodie, Jumpin’ và Mabel, đằng sau Kya.
★ ★ ★
Buổi chiều đó, Tom gọi cảnh sát trưởng trở lại làm nhân chứng tiếp theo.
Kya biết từ danh sách nhân chứng của Tom rằng không còn nhiều người nữa để gọi, và ý nghĩ đó làm cô muốn bệnh. Phần tranh luận kết thúc diễn ra tiếp theo, rồi kế là phán quyết. Chỉ cần còn một dòng nhân chứng ủng hộ cô, cô có thể hy vọng được tha bổng hoặc ít nhất là trì hoãn lời kết tội. Nếu việc xét xử cứ kéo dài mãi mãi, một phán quyết sẽ không bao giờ được đưa ra. Cô cố đưa tâm trí mình về quãng đồng ngỗng tuyết để sao lãng như vẫn làm từ hồi vụ xử mở ra, nhưng thay vào đó, cô chỉ thấy hình ảnh nhà tù, chấn song và những bức tường xi măng ẩm ướt. Thỉnh thoảng chen vào trong trí một cái ghế điện. Nhiều đai buộc.
Đột nhiên, cô cảm thấy mình không thở nổi, không thể ngồi đây thêm một phút nào, đầu cô quá nặng không thể ngẩng lên. Cô hơi thõng người, và Tom từ chỗ cảnh sát trưởng quay sang Kya khi đầu cô gục xuống bàn tay. Ông chạy đến bên cô ngay lập tức.
“Thưa tòa, tôi đề nghị một quãng nghỉ ngắn. Cô Clark cần được nghỉ.”
“Chấp thuận. Tòa giải tán để nghỉ trong mười lăm phút.”
Tom dìu cô đứng dậy và mau chóng đưa cô qua cửa hông vào phòng hội nghị nhỏ, tại đó cô buông mình vào một chiếc ghế. Ngồi cạnh cô, ông hỏi, “Chuyện gì vậy? Kya, có chuyện gì không ổn sao?”
Cô vùi mặt vào tay. “Sao ông còn hỏi thế? Chẳng phải rõ quá sao? Làm sao có ai chịu nổi cảnh này? Tôi cảm thấy muốn bệnh, quá mệt để ngồi ở đó. Tôi có phải ở đó không? Phiên tòa không thể tiếp tục mà không có tôi sao?” Tất cả những gì cô có thể, tất cả những gì cô muốn, là trở lại buồng giam của mình và cuộn tròn bên Sunday Justice.
“Không, tôi e là không. Trong những vụ án có mức phạt tử hình, như vụ này, luật pháp yêu cầu cô phải có mặt.”
“Nếu như tôi không thể thì sao? Nếu như tôi từ chối? Tất cả những gì họ có thể làm là tống tôi vào tù.”
“Kya, đó là luật pháp. Cô phải có mặt, và dù sao đi nữa, cô có mặt sẽ tốt hơn. Bồi thẩm đoàn có thể dễ dàng kết tội một bị cáo vắng mặt. Nhưng Kya, không còn bao lâu nữa cả.”
“Vậy cũng không làm tôi cảm thấy khá hơn, ông không thấy sao? Chuyện tiếp theo còn tệ hơn cả thế này.”
“Chúng ta chưa biết mà. Đừng quên, chúng ta có thể kháng cáo nếu vụ xét xử này không diễn ra như ý.”
Kya không trả lời. Ý nghĩ kháng cáo làm cô cảm thấy muốn bệnh thêm, lại bị buộc phải diễu qua những phòng xử án khác, xa đồng lầy hơn nữa. Có thể ở những thị trấn lớn hơn. Một bầu trời không mòng biển. Tom bước ra khỏi phòng và trở lại với một ly trà đá ngọt và một túi đậu phộng muối. Cô nhấm nháp trà; từ chối túi đậu. Vài phút sau, chấp hành viên gõ cửa và dẫn họ trở vào phòng xử án. Tâm trí Kya cứ trôi vào rồi dạt ra khỏi hiện tại, chỉ chớp được vài mẩu lời khai.
“Cảnh sát trưởng Jackson,” Tom nói, “bên công tố khẳng định rằng cô Clark đã lẻn ra khỏi nhà nghỉ giữa khuya và đi bộ từ Ba Núi tới trạm xe buýt – một quãng đường mất ít nhất hai mươi phút. Rồi cô ấy bắt chuyến xe đêm lúc 11:50 từ Greenville về Vũng Barkley, nhưng xe chạy muộn, nên mãi đến 1:40 sáng cô ấy mới tới Barkley. Họ khẳng định rằng từ trạm xe buýt Barkley, cô ấy đi bộ ra cầu tàu thị trấn – mất ba bốn phút – rồi đi thuyền tới vũng nhỏ gần tháp phòng cháy – ít nhất hai mươi phút nữa – đi bộ tới tháp, thêm tám phút; trèo lên nó trong bóng tối như mực, ít nhất thêm bốn hoặc năm phút; mở tấm vỉ, vài giây; chờ Chase – không tính được – rồi lặp lại tất cả theo trình tự ngược lại.
“Chuỗi hành động đó phải mất ít nhất một giờ bảy phút, và đó là chưa kể thời gian chờ Chase. Nhưng chuyến xe buýt quay về Greenville mà cô ấy phải bắt lại khởi hành chỉ sau năm mươi phút kể từ khi cô tới. Do đó, sự thật đơn giản là: không có đủ thời gian để cô ấy thực hiện tội ác này. Không phải sao, cảnh sát trưởng?”
“Nó sẽ rất khít khao, đúng thế. Nhưng cô ta có thể đi bộ nhanh từ thuyền tới tháp phòng cháy và trở lại, rút ngắn được một vài phút ở đâu đó.”
“Rút ngắn được vài phút ở đâu đó sẽ không đủ. Cô ấy cần thêm tới hai mươi phút nữa. Làm sao cô ấy kiếm ra hai mươi phút?”
“Chà, có lẽ cô ta không hề dùng tới chiếc thuyền; có lẽ cô ta đi bộ hoặc chạy từ trạm xe buýt trên Phố Main, theo đường cát tới tháp phòng cháy. Vậy thì sẽ nhanh hơn đường biển.” Từ chỗ ngồi tại bàn công tố, Eric Chastain trừng mắt nhìn cảnh sát trưởng. Eric đã thuyết phục được bồi thẩm đoàn là có đủ thời gian để Kya thực hiện tội ác và trở lại xe buýt. Họ không cần thuyết phục gì nhiều. Hơn nữa, họ có một nhân chứng tốt hơn, người câu tôm, đã làm chứng rằng anh ta thấy cô Clark đi thuyền tới tháp.
“Ông có chứng cứ cho thấy cô Clark đi bộ tới tháp không, cảnh sát trưởng?”
“Không. Nhưng đi đường bộ là một giả thuyết tốt.”
“Giả thuyết!” Tom quay sang bồi thẩm đoàn. “Thời điểm dành cho các giả thuyết là trước khi ông bắt cô Clark, trước khi ông nhốt cô ấy trong tù suốt hai tháng trời. Sự thật là ông không thể chứng minh cô ấy đi đường bộ, và không có đủ thời gian cho cô ấy đi đường biển. Không còn câu hỏi nào nữa.”
Eric đối mặt với cảnh sát trưởng để thẩm vấn chéo. “Cảnh sát trưởng, có phải vùng nước gần Vũng Barkley chịu ảnh hưởng của những dòng chảy mạnh, dòng chảy rút xa bờ và sóng dội, vốn có thể tác động đến tốc độ của thuyền không?”
“Phải, đúng thế. Ai sống ở đây cũng biết điều đó.”
“Một người biết tận dụng những dòng chảy như vậy có thể lái thuyền rất nhanh tới cái tháp từ bến cảng. Trong trường hợp đó, việc rút ngắn hai mươi phút trong chuyến đi hai chiều là hoàn toàn có thể. Không phải vậy sao?” Eric rất khó chịu khi phải đề ra một giả thuyết nữa, nhưng tất cả những gì ông ta cần là một ý tưởng có vẻ hợp lý để bồi thẩm đoàn có thể bám vào và cuốn họ theo.
“Phải, đúng thế.”
“Cảm ơn ông.” Ngay khi Eric quay đi khỏi bục nhân chứng, Tom lập tức đứng lên để thẩm vấn ngược lại.
“Cảnh sát trưởng, có hay không, ông có chứng cứ nào cho thấy đã có một dòng chảy, dòng rút xa bờ hoặc gió mạnh vào đêm 29 rạng 30 tháng Mười, vốn có thể rút ngắn thời gian cho ai đó đi thuyền từ bến cảng Vũng Barkley tới tháp phòng cháy không, hay chứng cứ nào cho thấy cô Clark đi bộ tới tháp?”
“Không, nhưng tôi chắc chắn là có…”
“Cảnh sát trưởng, việc ông chắc hay không chẳng có gì khác biệt. Ông có chứng cứ cho thấy đã có dòng chảy rút xa bờ chảy mạnh vào đêm 29 tháng Mười năm 1969 hay không?”
“Không, tôi không có.”