1970
Vào buổi sáng thứ Hai, sau chuyến thăm của Tate, khi Kya được đưa vào phòng xử án bởi chấp hành viên, cô giữ mắt mình tránh những người đến dự như lần trước, và nhìn sâu vào bóng cây bên ngoài. Nhưng rồi cô nghe một âm thanh quen thuộc, có lẽ là tiếng ho khẽ, và quay lại. Ở đó, trên hàng ghế đầu tiên bên cạnh Tate, là Jumpin’ và Mabel, bà đang đội chiếc mũ bon-nê đi dự lễ nhà thờ điểm những bông hồng lụa. Người ta đã xôn xao khi họ đi vào cùng Tate và ngồi ở tầng dưới trong “khu da trắng”. Nhưng khi chấp hành viên báo cáo điều này với Thẩm phán Sims, vẫn còn ở phòng ông, thẩm phán đã bảo ông này thông báo rằng mọi người có thể ngồi bất cứ đâu họ muốn trong phòng xử của ông, bất kể màu da hay tín ngưỡng của họ là gì, và nếu có ai không thích chuyện này, họ cứ việc rời đi. Thực ra, ông sẽ đảm bảo kẻ phản đối phải rời khỏi đó.
Khi thấy Jumpin’ và Mabel, Kya cảm nhận mình có thêm chút sức mạnh, và lưng cô thẳng hơn một chút.
Nhân chứng tiếp theo của bên công tố, bác sĩ Steward Cone, người khám nghiệm tử thi, có mái tóc ngả bạc cắt ngắn và đeo kính tụt quá thấp trên mũi, một thói quen buộc ông phải ngả đầu ra để nhìn qua tròng kính. Khi ông trả lời những câu hỏi của Eric, tâm trí Kya lơ đễnh nghĩ tới bầy mòng biển. Những tháng dài ở trong tù, cô đã mong nhớ chúng, vậy mà suốt từ đó, Tate vẫn cho chúng cái ăn. Chúng không bị bỏ rơi. Cô nghĩ về Big Red, về cách nó bước qua ngón chân cô khi cô ném cho chúng vụn bánh.
Người khám nghiệm ngửa đầu ra để chỉnh mắt kính, động tác lôi Kya trở lại phòng xử.
“Vậy để tóm lại, ông làm chứng rằng Chase Andrews đã chết vào khoảng giữa nửa đêm và hai giờ sáng khuya 29 rạng 30 tháng Mười, năm 1969. Nguyên nhân cái chết là tổn thương nghiêm trọng lên bộ não và cột sống do ngã qua một tấm vỉ mở trên tháp phòng cháy, cách mặt đất mười chín mét. Khi ngã xuống, cậu ấy đã đập phía sau đầu lên một cái xà, điều này được xác nhận bởi mẫu máu và tóc lấy từ đó. Tất cả điều này có đúng không, theo ý kiến chuyên môn của ông?”
“Đúng.”
“Nào, bác sĩ Cone, tại sao một chàng trai trẻ thông minh và khỏe mạnh như Chase Andrews lại bước qua một tấm vỉ mở để té từ trên cao xuống mà chết? Để loại trừ một khả năng, có cồn hay chất gì khác trong máu có thể làm suy yếu khả năng phán đoán của cậu ấy không?”
“Không, không có.”
“Chứng cứ đã trình bày trước đây cho thấy Chase Andrews đập phía sau đầu lên thanh xà đó, không phải trán.” Eric đứng trước bồi thẩm đoàn và bước một bước dài. “Nhưng khi tôi bước ra trước, đầu tôi sẽ ở trước cơ thể tôi một chút. Nếu tôi bước vào một cái lỗ ngay trước mặt tôi, đà và trọng lượng đầu tôi sẽ khiến tôi chúi về phía trước. Có đúng không? Như vậy Chase Andrews sẽ đập trán lên xà, không phải sau sọ, nếu cậu ấy bước về trước. Vậy bác sĩ Cone, phải chăng chứng cứ cho thấy Chase đang lùi lại khi cậu ấy ngã?”
“Phải, chứng cứ ủng hộ kết luận đó.”
“Vậy chúng ta cũng có thể kết luận rằng nếu Chase Andrews đang đứng quay lưng về phía tấm vỉ mở và bị ai đó đẩy, cậu ấy sẽ ngã ra sau, không phải chúi về trước, đúng không?” Trước khi Tom có thể phản đối, Eric nói nhanh, “Tôi không bảo ông khẳng định đây là chứng cứ cho thấy chắc chắn Chase bị đẩy ngã. Tôi chỉ làm rõ rằng nếu có ai đó đẩy Chase ngã ngửa qua cái lỗ, vết thương trên đầu cậu ấy sẽ trùng khớp với vết thương tìm thấy trên thực tế. Đúng chứ?”
“Phải.”
“Được rồi. Bác sĩ Cone, khi ông khám nghiệm cho Chase Andrews tại phòng khám, vào buổi sáng ngày 30 tháng Mười, cậu ấy có đeo một sợi dây chuyền vỏ sò không?”
“Không.”
Để nén cơn buồn nôn chực dâng lên, Kya tập trung vào Sunday Justice đang tự chải lông trên bậu cửa sổ. Vặn người thành một tư thế không tưởng, một chân giơ thẳng lên cao, chú liếm mé trong chóp đuôi mình. Việc tắm rửa dường như cuốn hút chú hoàn toàn và làm chú vui thích lắm.
Vài phút sau, công tố viên hỏi, “Có đúng là Chase Andrews đã mặc một cái áo khoác denim vào đêm cậu ấy chết?”
“Phải, đúng thế.”
“Và theo báo cáo chính thức của ông, bác sĩ Cone, có phải ông đã tìm thấy sợi len đỏ trên áo khoác Chase? Những sợi vải không đến từ bất cứ món đồ nào cậu ấy đang mặc?”
“Phải.”
Eric giơ lên một túi nhựa trong suốt chứa vài mẩu sợi len đỏ. “Đây có phải là những sợi chỉ đỏ được tìm thấy trên áo khoác của Chase Andrews không?”
“Phải.”
Eric giơ lên một cái túi lớn hơn đặt trên bàn mình. “Và có đúng là sợi len đỏ tìm thấy trên áo khoác của Chase khớp với sợi của chiếc nón đỏ này?” Ông đưa cái túi cho nhân chứng.
“Phải. Đây là những mẫu tôi đã dán nhãn, sợi vải từ chiếc nón và cái áo khoác khớp nhau hoàn toàn.”
“Chiếc nón này được tim thấy ở đâu?”
“Cảnh sát tìm thấy chiếc nón trong nhà của cô Clark.” Đây không phải là thông tin nhiều người biết, và những tiếng rì rầm lan khắp đám đông.
“Có chứng cứ nào cho thấy cô ấy đã đội chiếc nón không?”
“Có. Sợi tóc của cô Clark được tìm thấy trên chiếc nón.”
Ngắm Sunday Justice trong tòa án làm Kya vơ vẩn nghĩ về việc gia đình mình chưa bao giờ có thú cưng. Không một chú chó hoặc mèo nào. Vật duy nhất gần như vậy là một con chồn hôi cái – một sinh vật bóng mượt, uyển chuyển và xấc xược – sống dưới lán nhà. Má gọi cô nàng là Chanel.
Sau vài lần suýt đụng nhau, tất cả đã làm quen với nhau, và Chanel trở nên cực kỳ lịch sự, chỉ sừng lên khi bọn trẻ quấy quá. Cô nàng đến và đi, thỉnh thoảng chỉ cách người đang bước lên bước xuống bậc thềm gạch ván chừng vài bước.
Mỗi mùa xuân cô nàng dẫn bầy con đi sục sạo cướp phá rừng sồi và dọc các dòng nước. Rồi nhốn nháo chạy ra sau, nhủi vào và chạy lên con khác trong bầy thành một mớ hỗn độn đen trắng.
Ba, dĩ nhiên, luôn đe dọa sẽ xử cô chồn, nhưng Jodie, cho thấy sự trưởng thành hơn hẳn người cha, nói với vẻ mặt tỉnh rụi, “Rồi sẽ có con khác chuyển đến ở, và con luôn cho rằng một con chồn hôi mình biết thì tốt hơn một con lạ hoắc lạ huơ.” Cô mỉm cười, nghĩ tới Jodie. Rồi ngăn mình lại.
“Vậy, bác sĩ Cone, trong đêm Chase Andrews chết, đêm cậu ấy ngã ngửa qua tấm vỉ mở – một tư thế trùng khớp với việc bị đẩy ngã bởi ai đó – những sợi vải trên áo khoác cậu ấy đến từ chiếc nón đỏ được tìm ra ở nhà cô Clark. Và có sợi tóc của cô Clark trên chiếc nón.”
“Phải.”
“Cảm ơn, bác sĩ Cone. Tôi không còn câu hỏi nào nữa.”
Tom Milton thoáng nhìn qua Kya, người đang dõi mắt lên bầu trời. Căn phòng đã ngả về phía bên công tố như thể sàn bị nghiêng đi, và Kya không giúp được gì khi cô cứ ngồi cứng ngắc và xa cách – được đẽo ra từ một khối băng. Ông gạt nhẹ vài sợi tóc bạc ra khỏi trán và bước lại gần người khám nghiệm để thẩm vấn chéo.
“Chào buổi sáng, bác sĩ Cone.”
“Chào buổi sáng.”
“Bác sĩ Cone, ông đã khai rằng vết thương sau đầu Chase Andrews trùng khớp với việc cậu ấy bước lùi và té qua một cái lỗ. Có phải nếu cậu ấy tự bước ra sau và ngã xuống lỗ do tai nạn, kết quả của việc đập đầu lên thanh xà cũng sẽ hệt như thế?”
“Phải.”
“Có vết bầm nào trên ngực và cánh tay Chase trùng khớp với việc cậu ấy bị xô hoặc đẩy không?”
“Không. Dĩ nhiên là có vết thâm tím khắp người cậu ấy do cú ngã. Hầu hết ở trên lưng và chân cậu ấy. Không vết bầm nào có thể được xác định chính xác là bị gây ra do một cú xô hoặc đẩy cả.”
“Thực ra, có phải là không có bất kỳ chứng cứ nào cho thấy Chase Andrews bị đẩy qua cái lỗ?”
“Đúng thế. Không có chứng cứ nào tôi biết cho thấy Chase Andrews bị đẩy ngã.”
“Vậy, bác sĩ Cone, không có chứng cứ nào từ cuộc khám nghiệm chuyên môn của ông chứng tỏ đây là một vụ giết người và không phải là tai nạn?”
“Không.”
Tom dừng lại một chút, để câu trả lời này ngấm vào bồi thẩm đoàn, rồi tiếp tục. “Hãy nói về những sợi len đỏ tìm thấy trên áo khoác của Chase. Có cách nào để xác định những sợi chỉ đã ở trên áo khoác bao lâu rồi không?”
“Không. Chúng tôi chỉ có thể nói chúng đến từ đâu, nhưng không thể biết khi nào.”
“Nói cách khác, những sợi chỉ đó có thể đã ở trên cái áo cả năm trời, thậm chí cả bốn năm?”
“Đúng vậy.”
“Ngay cả khi cái áo khoác được giặt?”
“Phải.”
“Vậy là không có chứng cứ cho thấy những sợi chỉ bám vào cái áo khoác trong đêm Chase chết?”
“Không.”
“Có lời khai cho biết bị cáo đã quen Chase Andrews trong bốn năm trước cái chết của cậu ấy. Vậy ông nói rằng bất cứ lúc nào trong bốn năm đó, khi họ mặc hai món quần áo nọ gặp nhau, có thể sợi vải đã được chuyển từ chiếc nón sang áo khoác.”
“Từ những gì tôi đã thấy, đúng vậy.”
“Vậy sợi vải đó không chứng minh cô Clark đã ở bên Chase Andrews vào đêm cậu ấy chết. Có bất kỳ chứng cứ nào cho thấy cô Clark đã ở gần Chase Andrews tối đó không? Ví dụ, mẩu da của cô ấy trên người hoặc dưới móng tay cậu ấy, dấu tay cô ấy trên nút hoặc nút bấm áo khoác cậu ấy? Sợi tóc cô ấy trên quần áo hay trên người Chase?”
“Không có.”
“Vậy, trên thực tế, vì sợi vải đỏ có thể đã nằm trên áo khoác cậu ấy bốn năm rồi, không có bất kỳ chứng cứ nào cho thấy cô Catherine Clark ở gần Chase Andrews vào đêm cậu ấy chết?”
“Từ cuộc khám nghiệm của tôi thì đúng vậy.”
“Cảm ơn ông. Không còn câu hỏi nào nữa.”
Thẩm phán Sims tuyên bố nghỉ trưa sớm.
Tom khẽ chạm lên khuỷu tay Kya và thì thầm rằng phần thẩm vấn chéo đã diễn ra tốt đẹp. Cô khẽ gật đầu khi mọi người đứng dậy và vươn vai. Hầu như tất cả đều ở lại đủ lâu để xem Kya bị còng lại và dẫn ra khỏi phòng.
Trong lúc tiếng chân Jacob vang vọng xa dần dọc hành lang sau khi để cô lại trong buồng, Kya ngồi phịch xuống giường cô. Khi cô mới bị tống giam, họ không cho cô đem ba lô vào tù nhưng để cô lấy vài món đồ mang theo trong một túi giấy nâu. Cô thò tay vào túi và lôi ra mẩu giấy có số điện thoại và địa chỉ Jodie trên đó. Từ khi tới đây, cô nhìn nó hầu như mỗi ngày và nghĩ tới việc điện cho anh, gọi anh đến với cô. Cô biết anh sẽ tới, và Jacob đã nói cô có thể dùng điện thoại. Nhưng cô vẫn chưa làm thế. Làm sao cô nói được mấy lời: Xin hãy tới gặp em; em đang ở tù, bị buộc tội sát nhân.
Cẩn thận, cô để mẩu giấy trở vào trong túi và lấy ra chiếc la bàn Chiến tranh Thế giới thứ Hai Tate tặng cô. Cô để cây kim lắc về phía bắc và ngắm nó đứng im lại. Cô áp nó lên tim mình. Có nơi đâu mà một người cần đến la bàn hơn trong này chứ?
Rồi cô thì thầm vài lời của Emily Dickinson:
Ta quét dọn trái tim,
Cất Tình Yêu đi khuất
Chẳng muốn dùng đến nữa
Chẳng bao giờ, bao giờ.