Ác Quỷ Thành Phố Trắng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Cống Hiến
Ngày Cống Hiến

❊ ❊ ❊

Răng Olmsted đau, tai Olmsted kêu gào và ông không thể ngủ được, nhưng trong suốt những tháng đầu năm 1892, ông duy trì một tốc độ làm việc mà sẽ gây ra hậu quả ngay cả với một người đàn ông chỉ bằng một phần ba tuổi của ông. Ông đã tới Chicago, Asheville, Knoxville, Louisville và Rochester, những nơi mà cái chân khiến ông khốn khổ. Tại Chicago, bất chấp những nỗ lực không biết mệt mỏi của trung úy Harry Codman trẻ tuổi, công việc chậm xa so với kế hoạch, nhiệm vụ phía trước ngày càng lớn hơn. Thời hạn quan trọng đầu tiên, Ngày Cống hiến 21 tháng 10 năm 1892, dường như gần đến mức không thể tin được và thậm chí còn gần hơn nếu các quan chức của hội chợ không thay đổi thời hạn ban đầu - ngày 12 tháng 10, để cho phép thành phố New York tổ chức lễ kỷ niệm Columbus của riêng nó. Xét đến những lời vu khống trước đó mà New York đã đổ lên đầu Chicago, việc trì hoãn này là một hành động ưu ái đáng ngạc nhiên.

Tiến độ xây dựng chậm trễ ở những nơi khác trên công trường là một điều khiến Olmsted đặc biệt bực bội. Khi các nhà thầu chậm tiến độ, công việc của ông cũng chậm theo. Công trình hoàn thiện của ông cũng phải hứng chịu hậu quả. Các công nhân giẫm đạp lên cây cối và phá hủy các con đường của ông. Tòa nhà Chính phủ Hoa Kỳ là một ví dụ. “Trong môi trường xung quanh,” Rudolf Ulrich, giám sát cảnh quan, báo cáo, “các loại nguyên liệu chất đống và nằm bừa bãi đến mức phải liên tục gây áp lực lên những người phụ trách mới có thể khiến công việc được bắt đầu; và kể cả khi công việc đang được thực hiện thì cũng không có ai để ý tới chúng. Những gì được hoàn thành hôm nay sẽ bị phá hỏng vào ngày hôm sau.”

Sự chậm trễ và thiệt hại khiến Olmsted tức giận, nhưng các vấn đề khác khiến ông đau đầu hơn. Không ngờ rằng mặc cho những lời dọa dẫm của Olmsted, Burnham vẫn có vẻ cho rằng các tàu hơi nước là một sự lựa chọn có thể chấp nhận được cho dịch vụ thuyền của hội chợ. Và hình như ông không có ai để chia sẻ niềm tin rằng đảo Wooded phải vắng bóng tất cả các công trình.

Hòn đảo đã liên tục bị tấn công, khơi lại cơn tức giận của Olmsted về cách khách hàng cưỡng bách nhằm vá víu cảnh quan. Mọi người đều muốn dành cho mình không gian trên đảo. Đầu tiên là Theodore Thomas, chỉ huy dàn giao hưởng Chicago, người coi hòn đảo này là các địa điểm lí tưởng, duy nhất, cho một khán thính phòng xứng đáng với tầm cỡ hội chợ. Olmsted không cho phép điều này. Tiếp đến là Theodore Roosevelt, người đứng đầu Ủy ban Dịch vụ Dân sự Hoa Kỳ và là một pháo hạm trong hình dạng con người. Hòn đảo, ông nhấn mạnh, là nơi hoàn hảo cho các cuộc triển lãm trại săn bắn của Câu lạc bộ Boone và Crockett. Với quyền lực của Roosevelt tại Washington, không quá ngạc nhiên khi các chính trị gia thuộc Ủy ban Quốc gia của hội chợ ủng hộ mạnh mẽ kế hoạch của ông. Burnham, một phần muốn giữ hòa bình, cũng kêu gọi Olmsted chấp nhận nó. “Ngài sẽ phản đối việc bãi săn đó nằm ở cực Bắc của hòn đảo, rúc vào giữa cây cối, đơn thuần là triển lãm ư? Có khi nó được che giấu kĩ đến mức chỉ có thể tình cờ phát hiện ra khi ở trên đảo và hoàn toàn vô hình nếu nhìn từ bờ hồ.”

Olmsted đã phản đối. Ông đồng ý để cho Roosevelt đặt trại của mình trên một hòn đảo nhỏ hơn, nhưng sẽ không cho phép bất kỳ tòa nhà nào, chỉ có “một vài lều, một số con ngựa, lửa trại, vân vân.” Sau này ông mới cho phép việc xây dựng một cabin thợ săn nhỏ.

Tiếp đến là chính phủ Hoa Kỳ, tìm cách đặt một triển lãm thổ dân da đỏ trên đảo và sau đó Giáo sư Putnam, giám đốc dân tộc học của hội chợ, người coi đây là một địa điểm lí tưởng cho một số ngôi làng kỳ lạ. Chính phủ Nhật Bản cũng muốn hòn đảo. “Họ đề xuất một cuộc triển lãm đền ngoài trời và nếu có thể, họ mong muốn không gian trên đảo Wooded,” Burnham viết vào tháng 2 năm 1892. Đối với Burnham, việc một thứ gì đó sẽ chiếm lĩnh hòn đảo gần như là điều không thể tránh khỏi. Cảnh quan ở đây đơn giản là quá hấp dẫn. Burnham thúc giục Olmsted chấp nhận lời đề nghị của Nhật Bản. “Có vẻ như chắc chắn đây là điều phù hợp nhất với hòn đảo và tôi không thấy nó, bằng bất kỳ cách nào, sẽ làm xấu đi các đặc điểm cơ bản mà ngài quan tâm. Họ đề xuất làm những điều tinh xảo đẹp đẽ nhất và mong muốn để lại tòa nhà như một món quà cho thành phố Chicago sau khi kết thúc hội chợ.”

Lo sợ những thứ tồi tệ hơn nhiều được thông qua, Olmsted đã đồng ý.

Tâm trạng của ông chẳng khá lên khi ông phát hiện ra trong lúc mình chiến đấu bảo vệ hòn đảo, công viên Trung tâm yêu quý của mình đã bị tấn công. Trước sự xúi giục của một nhóm nhỏ những người New York giàu có, cơ quan lập pháp bang đã lặng lẽ thông qua một đạo luật cho phép việc xây dựng một “đường đua xe” ở phía Tây công viên để những người giàu có có thể đua xe ngựa. Công chúng phản ứng đầy phẫn nộ. Olmsted tham gia với một lá thư mô tả con đường được đề xuất là “bất hợp lí, bất công và vô đạo đức.” Cơ quan lập pháp đã lùi bước.

Mất ngủ và đau đớn, khối lượng công việc khổng lồ và sự thất vọng ngày càng tăng đã xé vụn tinh thần của ông và đến cuối tháng 3, ông cảm thấy mình đang đứng trên bờ vực suy sụp cả thể chất và tinh thần. Những cơn trầm cảm liên tục tấn công ông trong suốt cuộc đời trưởng thành chuẩn bị bao vây lấy ông một lần nữa. “Khi Olmsted buồn bã,” một người bạn từng viết, “sự chán nản của ông trở nên vỡ vụn và đau khổ.”

Tuy nhiên, Olmsted tin rằng tất cả những gì mình cần là một quãng thời gian nghỉ ngơi. Theo phương pháp điều trị đương thời, ông quyết định đi nghỉ dưỡng ở châu Âu, nơi mà cảnh quan cũng sẽ làm giàu vốn hình ảnh của ông. Ông lên kế hoạch đột nhập vào các khu vườn công cộng, công viên và khu đất của hội chợ Paris cũ.

Ông giao cho con trai cả của mình, John, phụ trách văn phòng Brookline và để Harry Codman ở lại Chicago hướng dẫn các công việc tại hội chợ Thế giới. Vào phút chót, ông quyết định mang theo hai người con của mình, Marion và Rick và một chàng trai trẻ tuổi khác, Phil Codman, em trai của Harry. Đối với Marion và các chàng trai, đây hứa hẹn sẽ là một cuộc hành trình trong mơ; đối với Olmsted, nó đã trở thành một điều gì đó đen tối hơn.

Họ lên đường vào thứ Bảy ngày 2 tháng 4 năm 1892 và đến Liverpool dưới sự tấn công của cơn mưa đá và tuyết.

***

Tại Chicago, Sol Bloom nhận được một bức thư điện tín từ Pháp khiến anh giật mình. Anh đã đọc lại vài lần để chắc chắn rằng mình hiểu đúng những gì nó viết. Những người Algeria của anh, hàng tá người cùng với tất cả các loài vật nuôi và của cải vật chất, đã đang ở ngoài biển, ra khơi đến nước Mỹ và hội chợ - sớm hơn một năm so với kế hoạch.

“Họ đã đi đúng tháng,” Bloom nói, “nhưng sai năm.”

***

Olmsted thấy tuy miền quê nước Anh duyên dáng, nhưng thời tiết lại ảm đạm và tối tăm. Sau một khoảng thời gian ngắn ngủi tại nhà của người thân ở Chislehurt, ông và các chàng trai lên đường đến Paris. Con gái Marion ở lại Anh.

Tại Paris, Olmsted đã đi đến khu đất hội chợ cũ. Những khu vườn đã thưa thớt, bị đàn áp sau một mùa đông dài và các tòa nhà đã bạc màu vì thiếu chăm chút, nhưng phần còn lại của hội chợ vẫn đủ giúp ông có “một ý tưởng tương đối” về những gì hội chợ đã từng có. Rõ ràng địa điểm này vẫn còn thu hút. Trong chuyến thăm ngày Chủ nhật, Olmsted và các chàng trai đã thấy bốn ban nhạc, một quầy giải khát mở cửa và hàng ngàn người di chuyển trên các con đường. Một hàng dài đã hình thành ở dưới chân tháp Eiffel.

Olmsted kiểm tra từng chi tiết, với hội chợ Chicago luôn trong tâm trí. Các bãi cỏ “khá nghèo nàn,” các con đường rải sỏi “không dễ chịu cho mắt cũng như chân.” Ông thấy việc sử dụng các vườn hoa rộng rãi tại hội chợ Paris là một điều cần phản đối. “Với tôi,” ông viết trong một lá thư gửi John tại Brookline, “đây chắc hẳn phải là một điều cực kỳ đáng lo ngại, cầu kỳ nhưng ấu trĩ, nếu không muốn nói là man rợ và là một vết thương của triển lãm, vì chúng làm xáo trộn phẩm giá và gây tổn thương lên chiều rộng, sự thống nhất và sự điềm tĩnh của triển lãm.” Ông nhắc lại yêu cầu khăng khăng của mình rằng ở Chicago “sự đơn giản và tiết chế sẽ được thực thi, còn các hiệu ứng nhỏ lẻ và vô giá trị cần phải tránh.”

Chuyến thăm còn làm nhen nhóm lo ngại của ông rằng trong công cuộc vượt qua hội chợ Paris, Burnham và kiến trúc sư của mình quên mất điều gì làm nên một hội chợ Thế giới. Các tòa nhà tại Paris, Olmsted đã viết, “màu mè và được trang trí lòe loẹt, nhưng ít cột đúc và tượng điêu khắc hơn tôi nghĩ. Chúng cho thấy sự phù hợp với mục đích sử dụng, dường như được thiết kế dành riêng cho dịp này thay vì trở thành một tượng đài kiến trúc cố định hoành tráng như các công trình của chúng ta. Tôi không biết trong vấn đề này liệu chúng ta có sai và liệu chúng có đang trở thành các công trình kiến trúc quá oai nghiêm và bị trói buộc vì quá nhiều nỗ lực điêu khắc và các nỗ lực khác nhằm hướng đến vẻ hùng vĩ và khoa trương rực rỡ.”

Olmsted thích đi du lịch với đoàn tùy tùng trẻ trung của mình. Trong một bức thư gửi cho vợ ở Brookline, ông viết, “Anh rất vui và hi vọng sẽ khỏe hơn.” Tuy nhiên, ngay sau khi phái đoàn trở lại Chislehurst, sức khỏe của Olmsted suy giảm và chứng mất ngủ một lần nữa nữa khiến ông trằn trọc cả đêm. Ông viết cho Harry Codman, anh cũng bị một căn bệnh kỳ lạ tại ổ bụng hành hạ, “Tôi chỉ có thể kết luận rằng bây giờ tôi đã già và kiệt sức hơn mình nghĩ.”

Một bác sĩ tên là Henry Rayner đã đến Chislehurst để thăm Olmsted. Ông là một chuyên gia điều trị rối loạn thần kinh và cảm thấy bàng hoàng trước vẻ ngoài của Olmsted đến mức ông ta đề nghị đưa Olmsted đến nhà riêng của mình ở Hampstead Heath, bên ngoài London, để tự tay chăm sóc cho ông. Olmsted đồng ý.

Mặc cho sự chăm sóc tận tình của Rayner, tình trạng của Olmsted không được cải thiện; kỳ nghỉ của ông tại Hampstead Heath trở nên mệt mỏi. “Anh cũng biết tôi gần như là một người tù ở đây,” ông viết cho Harry Codman vào ngày 16 tháng 6 năm 1892. “Hàng ngày tôi đều tìm những sự cải thiện và cho đến giờ, hàng ngày tôi đều thất vọng.” Theo Olmsted, bác sĩ Rayner quá lúng túng. “Ông ấy tự tin nói rằng sau các cuộc kiểm tra giải phẫu học lặp đi lặp lại, các cơ quan của tôi không có vấn đề và tôi có thể mong đợi một cách hợp lí rằng sẽ được tiếp tục làm việc trong nhiều năm tới trong hoàn cảnh thuận lợi. Ông coi rắc rối hiện tại của tôi như là một biến thể của những rắc rối đã khiến tôi tới nước ngoài.”

Hầu hết các ngày Olmsted được xe ngựa chở qua vùng nông thôn, “trên một con đường khác nhau,” để xem các khu vườn, nghĩa trang sau nhà thờ, công viên tư nhân và các cảnh quan thiên nhiên. Gần như mọi thảm hoa đều xúc phạm ông. Ông coi chúng “ấu trĩ, thô tục, phô trương, hoặc xấc láo, lệch lạc và nghịch mắt.” Tuy nhiên, vùng nông thôn mê hoặc ông, “Không có gì ở Mỹ có thể so sánh được với các đồng cỏ hoặc với vẻ đẹp như tranh phổ biến ở nước Anh. Tôi không thể ra ngoài mà không cảm thấy vui mừng. Khi tôi viết lá thư này, quang cảnh trước mắt tôi, bị che lấp sau màn mưa, thật mê hoặc.” Ông thấy những cảnh quan đẹp nhất được tạo nên bằng sự kết hợp đơn giản và tự nhiên nhất của các loài thực vật bản địa. “Sự kết hợp tốt nhất bao gồm những cây kim tước hoa, dã tường vi ngọt, bụi gai, táo gai và cây thường xuân. Ngay cả khi không có hoa nó vẫn rất quyến rũ. Và có thể kiếm được số lượng cả trăm ngàn với giá rất thấp.”

Đôi khi những cảnh quan ông nhìn thấy thách thức tầm nhìn công viên Jackson của ông vào những lúc khác chúng lại khẳng định nó. “Ở khắp mọi nơi, cảnh trang trí đẹp nhất mà chúng tôi thấy là dây leo và cây leo đánh lừa người làm vườn. Chúng tôi không có đủ những cây leo nhỏ xinh như vây.” Ông biết có quá ít thời gian để thiên nhiên tự tạo ra một hiệu ứng như vậy. “Hãy để chúng tôi uốn dây leo và cành cây trên những cây cầu, kéo chúng buông thõng xuống nhiều nhất có thể, nhằm tạo ra bóng râm và sự phản chiếu của tán lá và sự đổ bóng vụn vỡ trên mặt nước.”

Sau tất cả, chuyến đi củng cố niềm tin của ông rằng đảo Wooded nên được để càng hoang dã càng tốt, bất kể là ngôi đền Nhật Bản. “Tôi nghĩ về giá trị của hòn đảo này nhiều hơn bao giờ hết,” ông viết thư cho Harry Codman, “và về tầm quan trọng của việc sử dụng tất cả những gì có thể, của những phương tiện hiện đại nhất để đảm bảo sự xuất hiện của các tán lá ở rìa đảo. Chúng lớn, dày đặc không thể nhìn xuyên qua, với vô vàn các vật thể nhỏ chi tiết, tạo thành nền cho hiệu ứng chung... Sẽ không thể nào có đủ cây bồ hoàng, hà bao đẳng, nho Madeira, chi khúc khắc, cây trinh nữ, bụi gai, đậu ngọt, cà độc dược, hoa bông tai, hoa hướng dương tây nhỏ và bìm bìm hoa tía.”

Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng sự hoang dã ông đang tìm kiếm sẽ phải được tỉa tót bằng tay nghề làm vườn lão luyện. Ông lo ngại rằng Chicago không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ này. “Tiêu chuẩn của người lao động Anh quốc – lái xe ngựa hoặc xe khách trong khung cảnh gọn gàng, lịch lãm và sang trọng của các khu vườn, nền đất và các con đường lớn nhỏ, cao hơn nhiều khi so sánh với một thương gia hay một nghệ sĩ bậc thầy của Chicago,” ông viết cho Codman, “và chúng ta sẽ cảm thấy hổ thẹn nếu chúng ta không thể tạo ra một tiêu chuẩn cao hơn những gì du khách cho là phù hợp.”

Nhìn chung, Olmsted vẫn tự tin rằng cảnh quan hội chợ của ông sẽ thành công. Tuy nhiên, một lo lắng mới khiến ông bận tâm. “Đám mây duy nhất tôi thấy tại hội chợ là bệnh tả,” ông viết trong một bức thư cho văn phòng tại Brookline mình. “Các tin tức từ Nga và từ Paris sáng nay thật đáng báo động.”

***

Do những người Algeria của Sol Bloom đã đến gần cảng New York, các công nhân tại công viên Midway dựng các tòa nhà cho họ ở. Bloom đến New York để gặp con tàu và đặt riêng hai toa xe lửa để mang dân làng và hàng hóa của họ đến Chicago.

Khi những người Algeria rời tàu, họ di chuyển theo mọi hướng cùng một lúc. “Tôi thấy họ bị lạc, bị chạy đè lên, hay bị tống vào tù,” Bloom nói. Dường như không có ai chỉ huy. Bloom chạy theo họ, la hét các mệnh lệnh bằng tiếng Pháp và tiếng Anh. Một người đàn ông cao lớn với nước da màu đen bước tới bên Bloom và với giọng quý tộc Anh hoàn hảo, nói, “Tôi đề nghị ngài hãy văn minh hơn. Nếu không, tôi có thể mất bình tĩnh và ném ngài xuống nước.”

Người đàn ông tự xưng là Archie và khi cả hai trò chuyện một cách hòa bình hơn, anh tiết lộ với Bloom rằng mình đã ở London một thập kỷ làm vệ sĩ cho một người đàn ông giàu có. “Hiện tại,” anh nói, “Tôi chịu trách nhiệm đưa các cộng sự của tôi đến Chicago.

Tôi chỉ biết đó là một nơi trong đất liền.”

Bloom đưa cho anh một điếu xì gà và đề nghị anh trở thành vệ sĩ và trợ lí của mình.

“Đề nghị của ngài,” Archie nói, “khá thỏa đáng.”

Cả hai người đàn ông châm điếu thuốc và nhả khói vào quang cảnh tối tăm thơm ngát tại cảng New York.

***

Burnham đã đấu tranh để đẩy nhanh tốc độ xây dựng, đặc biệt là tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp, công trình phải được hoàn thành vào Ngày Cống hiến. Vào tháng 3, chỉ còn nửa năm trước hạn chót, ông đã kích hoạt điều khoản “sa hoàng” trong hợp đồng xây dựng của mình. Ông ra lệnh cho các nhà thầu của tòa nhà Điện lực tăng gấp đôi lực lượng lao động và bắt công nhân làm việc vào ban đêm dưới ánh đèn điện. Ông đe dọa nhà thầu tòa nhà Sản xuất sẽ có số phận tương tự nếu họ không tăng tốc độ làm việc của mình.

Burnham chưa từ bỏ hi vọng vượt qua tháp Eiffel. Gần đây nhất, ông đã từ chối một ý tưởng lạ lùng nữa từ một kĩ sư trẻ sốt sắng tại Pittsburgh, người đã tham dự bài giảng của ông tại Câu lạc bộ Chiều thứ bảy. Người đàn ông này đủ tin cậy - công ty của anh ta nắm giữ hợp đồng kiểm tra tất cả các thanh thép được sử dụng trong các tòa nhà của hội chợ - nhưng điều anh đề xuất xây dựng dường như bất khả thi. “Quá mong manh,” Burnham nói với anh ta. Công chúng, ông cho biết, sẽ sợ hãi.

Một mùa xuân thù địch tiếp tục cản trở tiến độ của hội chợ. Vào lúc sáu giờ năm mươi phút sáng thứ Ba ngày 5 tháng 4 năm 1892, một trận dông bão bất ngờ phá hủy các trạm bơm mới được hoàn thành ở hội chợ và đánh đổ gần hai mươi mét chiều cao của tòa nhà bang Illinois. Ba tuần sau, một cơn bão khác phá hủy bức tường phía Nam cao gần hai trăm năm mươi mét của tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp. “Gió,” tờ Tribune tường thuật, “dường như có một mối thù với công trường của hội chợ Thế giới.”

Để tìm cách tăng tốc công việc, Burnham gọi các kiến trúc sư bờ Đông đến Chicago. Một vấn đề lờ mờ hiện ra là cách trang trí mặt tiền của các tòa nhà chính, đặc biệt là các hàng rào chắn trát vữa của tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp. Trong cuộc họp, một ý tưởng xuất hiện, hứa hẹn tăng tốc công việc một cách ấn tượng trong thời gian tới và cuối cùng sẽ giúp ấn định hội chợ trong trí tưởng tượng của thế giới như là một vẻ đẹp đến từ thế giới khác.

***

Với tất cả quyền hạn, việc trang trí mặt tiền thuộc về William Pretyman, giám đốc màu sắc chính thức của hội chợ. Burnham sau đó đã thừa nhận rằng ông thuê Pretyman “phần lớn vì tình bạn thân thiết giữa ông ta với John Root.” Pretyman không phù hợp với công việc. Harriet Monroe, người biết ông và vợ ông, đã viết, “Tài năng thiên phú của ông đã bị phản bội vì tính cách kiêu căng, ngạo mạn, không chịu cúi đầu hay thỏa hiệp. Và như vậy cuộc đời ông là một chuỗi các bi kịch vô lí.”

Vào ngày cuộc họp diễn ra, Pretyman đang ở bờ Đông. Các kiến trúc sư đã tiến hành mà không có ông. “Tôi đã hối thúc tất cả mọi người, vì tôi đang ở trong một cuộc chiến khủng khiếp chống lại thời gian,” Burnham cho biết. “Chúng tôi đã nói về màu sắc và cuối cùng ý tưởng đã đến, ‘hãy biến tất cả thành màu trắng hoàn toàn’. Tôi không nhớ ai đã gợi ý điều này. Đó có thể là một trong những điều xuất hiện trong tâm trí của tất cả mọi người cùng một lúc. Dù cho điều gì xảy ra, tôi cũng đã quyết định.”

Tòa nhà Mỏ, do Solon S. Beman người Chicago thiết kế, đã gần như hoàn thành. Nó trở thành tòa nhà thử nghiệm. Burnham ra lệnh sơn tòa nhà bằng màu trắng kem. Pretyman trở lại và cảm thấy “bị xúc phạm,” Burnham nhớ lại.

Pretyman nhấn mạnh rằng bất kỳ quyết định màu sắc nào cũng thuộc về riêng mình ông.

“Tôi không nghĩ vậy,” Burnham nói với ông. “Quyết định là của tôi.”

“Được rồi,” Pretyman nói. “Tôi sẽ thôi việc.”

Burnham không thương tiếc gì ông ta. “Ông ta là một người ủ ê và rất cáu kỉnh,” Burnham kể lại. “Tôi để ông ta đi, sau đó nói với Charles McKim rằng tôi phải có được một người thực sự có thể quản lí việc này và tôi sẽ không quyết định từ quan điểm tình bạn.”

McKim đề nghị họa sĩ New York Francis Millet, người đã tham gia vào cuộc họp về màu sắc. Burnham đã thuê ông.

Millet nhanh chóng chứng tỏ giá trị của mình. Sau một số thử nghiệm, ông quyết định chọn “bột trắng chì với dầu” là màu sơn tốt nhất cho vữa, sau đó phát triển một phương pháp sơn không dùng chổi mà thông qua một ống với một vòi phun đặc biệt được tạo nên từ một đoạn ống dẫn khí ga - hình thức phun sơn đầu tiên. Burnham đặt cho Millet và đội của ông biệt danh “Băng đản quét sơn trắng”.

***

Vào tuần đầu tiên của tháng 5, một cơn bão mạnh dội một biển mưa xuống Chicago và khiến sông Chicago đảo ngược dòng chảy. Một lần nữa nước thải đe dọa nguồn cung cấp nước của thành phố. Xác của một con ngựa đang phân hủy được phát hiện gần một trong những đường ống đầu vào.

Vấn đề phát sinh này khiến Burnham nhận ra tính cấp bách của việc hoàn thành kế hoạch lắp ống dẫn nước từ suối Waukesha đến hội chợ trước ngày khai mạc. Trước đó vào tháng 7 năm 1891, hội chợ giao hợp đồng cho Công ty Suối khoáng Hygeia, đứng đầu là một doanh nhân tên J. E. McElroy, nhưng công ty không làm được gì nhiều. Đến tháng 3, Burnham ra lệnh cho Dion Geraldine, giám đốc giám sát xây dựng của mình, hối thúc vấn đề “với áp lực tối đa và đảm bảo rằng không một sự chậm trễ nào được phép xảy ra.” Hygeia đặt đường ống từ một cơ sở trên dòng suối ở Waukesha chạy ngang qua ngôi làng nhưng đã không lường trước được mức độ phản đối của người dân. Họ lo sợ các đường ống sẽ phá vỡ vẻ đẹp cảnh quan và hút cạn dòng suối nổi tiếng của họ. McElroy Hygeia, dưới sức ép từ Burnham, chuyển sang các biện pháp cực đoan.

Vào tối thứ Bảy ngày 7 tháng 5 năm 1892, McElroy chất các đường ống, cuốc, xẻng, cùng ba trăm người lên một tàu hỏa chuyên dụng và lên đường đến Waukesha đào đường ống vào ban đêm.

Tin tức về cuộc viễn chinh đã đến Waukesha nhanh hơn chuyến tàu. Khi con tàu đến ga, ai đó đã đánh chuông báo cháy của làng và chẳng mấy chốc một lượng lớn những người đàn ông cầm gậy, súng ngắn và súng đi săn vây quanh tàu. Hai xe cứu hỏa xuất hiện, rít lên từng hơi, đội cứu hỏa sẵn sàng thổi bay những người đặt ống nước bằng nước. Một vị trưởng thôn nói với McElroy rằng nếu ông tiếp tục với kế hoạch của mình, ông sẽ không sống sót rời khỏi thị trấn.

Ngay sau đó, khoảng một ngàn người dân tham gia vào đội quân nhỏ ở nhà ga. Một nhóm những đàn ông kéo một khẩu pháo từ hội trường thị trấn và đặt nó tại nhà máy đóng chai của Hygeia.

Sau cuộc đối đầu ngắn, McElroy và những công nhân lắp đặt đường ống trở về Chicago.

Burnham vẫn muốn nước từ nơi này. Các công nhân đã đặt ống ở công viên Jackson để phục vụ hai trăm gian hàng nước suối.

McElroy từ bỏ nỗ lực lắp đặt đường ống trực tiếp vào làng Waukesha. Thay vào đó, ông đã mua con suối ở thị trấn Big Bend, cách Waukesha gần hai mươi cây số về phía Nam, vẫn thuộc hạt Waukesha. Du khách thăm quan hội chợ cuối cùng đã có thể uống nước suối Waukesha.

Việc nguồn nước này đến từ hạt thay vì ngôi làng nổi tiếng là một vấn đề nhạy cảm mà Burnham và McElroy không đào sâu.

***

Tại công viên Jackson, tất cả mọi người đã bị cuốn vào tốc độ gia tăng của việc xây dựng. Khi các tòa nhà dần mọc lên, các kiến trúc sư phát hiện thấy những sai sót trong thiết kế của họ, nhưng nhận ra lượng công việc khổng lồ đe dọa trước mắt sẽ khóa chặt những sai sót này trong đá, hoặc ít nhất là trong vữa. Frank Millet đã lén theo dõi các tòa nhà của kiến trúc sư bờ Đông khi họ vắng mặt dài ngày tại công viên, nhằm ngăn chặn một số quyết định tức thời, hạn chế những thiệt hại thẩm mĩ không thể khắc phục. Vào ngày 6 tháng 6 năm 1892, ông đã viết cho Charles McKim, nhà thiết kế của Tòa nhà Nông nghiệp, “Ngài cần viết một bức thư ghi rõ tất cả những thay đổi mà ngài muốn, nếu không ngài sẽ bị nuốt chửng. Tôi đã ngăn chặn được việc xây sàn xi măng tại tòa nhà Tròn và nhấn mạnh rằng tòa nhà phải dùng gạch... Tốn rất nhiều thời gian và bỏ rất nhiều công sức để khiến một việc đi đúng hướng, nhưng chỉ mất một giây để các mệnh lệnh sai lầm được thực hiện. Tất cả những nhận xét này là bí mật tuyệt đối và tôi viết theo cách này để mong ngài tuyên bố một cách rõ ràng và thẳng thắn những mong muốn của ngài.”

Tại tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Xây dựng, các công nhân làm việc cho nhà thầu Francis Agnew đã bắt đầu quá trình nguy hiểm, nâng các khung sắt khổng lồ. Nó sẽ hỗ trợ mái của tòa nhà và tạo ra khoảng không gian rộng rãi nhất từ trước tới nay, không bị điều cản trở hay vướng víu.

Các công nhân lắp ba đường ray song song dọc theo chiều dài của tòa nhà. Bên trên các bánh xe của toa tàu hay còn gọi là “xe tải”, họ dựng lên một “ván vận chuyển” lơ lửng trên đỉnh các tòa nhà. Nó là một trục khổng lồ bao gồm ba trụ cao chụm lại tại đỉnh với một tấm nền. Công nhân sử dụng ván vận chuyển có thể nhấc và lắp đặt hai bộ khung thép cùng một lúc. Thiết kế của George Post yêu cầu hai mươi hai bộ khung thép, mỗi bộ nặng hai trăm tấn. Chỉ riêng việc chở nguyên liệu đến công trường đã cần đến sáu trăm toa tàu.

Vào thứ Tư, ngày 1 tháng 6, nhiếp ảnh gia hội chợ Charles Arnold chụp một bức ảnh của tòa nhà để ghi lại tiến độ của nó. Bất cứ ai nhìn vào bức ảnh này cũng sẽ kết luận rằng các tòa nhà không thể nào được hoàn thành trong bốn tháng rưỡi còn lại trước Ngày Cống hiến. Các giàn giáo đã được lắp đặt nhưng mái vẫn chưa xuất hiện. Các bức tường mới chỉ bắt đầu mọc lên. Khi Arnold chụp bức ảnh, hàng trăm người đàn ông đang làm việc tại tòa nhà, nhưng quy mô của nó lớn đến nỗi không ai trong số những người đàn ông này “hiện ra” ngay lập tức. Các thang mọc từ tầng giàn giáo này lên tầng giàn giáo khác trông giống như những que diêm và khiến công trình toát lên sự mong manh. Ở phía trước sừng sững những ngọn núi chất thải xây dựng.

Hai tuần sau đó, Arnold trở lại chụp một bức ảnh khác và đã thu được một cảnh quan rất khác - một cảnh quan của sự tàn phá.

Vào đêm 13 tháng 6, chỉ sau chín giờ tối, một cơn bão bất ngờ đổ bộ vào hội chợ và nó dường như đã tập trung vào tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp. Một mảng lớn ở phía Bắc của tòa nhà sụp đổ, kéo theo một ban công ở trên cao được thiết kế để ôm vòng quanh khu vực bên trong tòa nhà. Hơn ba mươi cây số những tấm gỗ xẻ rơi xuống sàn nhà. Bức ảnh của Arnold cho thấy một người đàn ông tí hon, có thể là Burnham, đứng trước một đống gỗ vỡ tan và thép rối.

Hẳn phải là tòa nhà này, trong số tất cả các công trình khác. Nhà thầu của nó, Francis Agnew, thừa nhận rằng những bức tường đã được chống đỡ không đầy đủ nhưng đổ lỗi cho việc Burnham đã thúc ép công nhân xây dựng quá nhanh.

Giờ Burnham thậm chí còn ép họ hơn. Ông đã thực hiện lời đe dọa của mình và tăng gấp đôi số lượng công nhân làm việc tại các tòa nhà. Họ làm việc trong đêm, trong mưa, trong bầu không khí ngột ngạt. Chỉ tính riêng trong tháng 8, tòa nhà đã lấy đi ba mạng người. Ở những nơi còn lại, bốn người khác thiệt mạng và hàng chục người bị gãy xương, bỏng và trầy da rách thịt. Theo nhận xét của một nhà thẩm định sau đó, hội chợ là một nơi làm việc nguy hiểm hơn hầm mỏ.

Burnham củng cố mong muốn nhận được nhiều quyền lực hơn của mình. Các cuộc đụng độ liên tục giữa Công ty hội chợ và Ủy ban Quốc gia đã trở nên gần như không thể chịu nổi. Ngay cả các nhà điều tra của Quốc hội cũng công nhận rằng thẩm quyền chồng chéo là nguồn gốc của sự bất hòa và gia tăng những chi phí không cần thiết. Báo cáo của họ khuyến cáo rằng mức lương của Davis cần phải giảm đi một nửa, một dấu hiệu rõ ràng rằng cán cân quyền lực đã thay đổi. Công ty và Ủy ban đi đến một thỏa thuận ngừng bắn. Vào ngày 24 tháng 8 Ban chấp hành giao Burnham làm giám đốc công trường phụ trách tất cả mọi việc.

Ngay sau đó Burnham đã gửi thư cho tất cả các trưởng bộ phận của mình, bao gồm cả Olmsted. “Tôi đã nắm quyền kiểm soát cá nhân trong những công việc trên công trường của hội chợ Thế giới Hoa Kỳ,” ông viết. “Từ nay về sau và cho đến khi có thông báo mới, các ngài sẽ báo cáo và nhận lệnh từ riêng tôi.”

***

Tại Pittsburgh, chàng kĩ sư trẻ của công ty thép càng trở nên tin tưởng rằng công trình thách thức tháp Eiffel của anh có thể thành công. Anh nhờ W. F. Gronau, một đối tác trong công ty kiểm định của mình, tính toán các vấn đề khác thường có thể gây hại đến các thành phần của công trình của mình. Theo ngôn ngữ kĩ thuật, nó cho thấy rất ít “tải trọng tĩnh”, trọng lượng tĩnh của các khối gạch và thép bất động. Gần như tất cả trong số đó là “tải trọng động”, nghĩa là trọng lượng thay đổi theo thời gian, như khi một đoàn tàu đi qua một cây cầu. “Tôi chưa bao giờ thực hiện điều này,” Gronau nói. Tuy nhiên, sau ba tuần làm việc căng thẳng, ông đã đưa ra các thông số kĩ thuật chi tiết. Các con số đủ sức thuyết phục, thậm chí cả với Burnham. Trong tháng 6, Ủy ban Tài chính đồng ý rằng thứ này nên được xây dựng. Họ cấp một lô đất cho nó.

Ngày hôm sau ủy ban suy nghĩ lại và thu hồi lô đất sau một đêm mơ thấy những cơn gió kỳ dị, những thanh thép rít lên và hai ngàn mạng sống biến mất trong nháy mắt. Một thành viên của ủy ban gọi đó là một thứ “quái vật”. Các kĩ sư hô vang điệp khúc rằng nó không thể được xây dựng, ít nhất là cũng không an toàn.

Tuy nhiên, nhà thiết kế trẻ của nó vẫn không thừa nhận thất bại. Anh đã bỏ ra hai mươi lăm ngàn đô-la cho các bản vẽ và thông số kĩ thuật bổ sung và sử dụng chúng để thu hút một lực lượng các nhà đầu tư bao gồm hai kĩ sư nổi tiếng, Robert Hunt, người đứng đầu của một công ty lớn ở Chicago và Andrew Onderdonk, nổi tiếng với việc giúp xây dựng tuyến đường sắt Thái Bình Dương Canada.

Chẳng mấy chốc anh đã cảm nhận được một sự thay đổi. Người phụ trách mới của Midway, Sol Bloom, nhanh như một tia chớp và dường như nghe theo bất cứ thứ gì, càng mới lạ và giật gân càng tốt. Còn Burnham thì đã giành được quyền lực gần như tuyệt đối trong quá trình xây dựng và hoạt động của hội chợ.

Chàng kĩ sư chuẩn bị sẵn sàng cho lần thử thứ ba.

***

Trong tuần đầu tiên của tháng 9 năm 1892, Olmsted và đoàn tùy tùng trẻ của ông rời Liverpool, rời nước Anh trên con tàu Thành phố New York để về nhà. Sóng biển cao, cuộc hành trình đầy khó khăn. Những cơn say sóng đốn ngã Marion và khiến Rick liên tục buồn nôn. Sức khỏe của Olmsted lại suy sụp. Chứng mất ngủ của ông đã quay trở lại. Ông viết, “Tôi còn ốm yếu hơn cả khi tôi rời đi.”

Tuy nhiên, bây giờ ông không có thời gian để hồi phục. Ngày Cống hiến chỉ còn cách một tháng nữa và Harry Codman lại trở bệnh, bất lực vì các vấn đề dạ dày đã hành hạ anh suốt mùa hè. Olmsted đến Chicago để tiếp quản việc giám sát công việc trực tiếp trong khi Codman dưỡng bệnh. “Tôi vẫn đang bị tra tấn liên tục vì chứng đau dây thần kinh và đau răng,” Olmsted đã viết, “tôi thấy mệt mỏi và ngày càng sợ hãi vì lo lắng và bất an.”

Tại Chicago, ông nhận thấy công viên đã thay đổi. Tòa nhà Mỏ đã hoàn thiện, tòa nhà Thủy sản cũng vậy. Hầu hết các tòa nhà khác đều đang được xây dựng khẩn trương một cách phi thường, bao gồm cả tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp. Hàng trăm công nhân tụ tập quanh giàn giáo và mái nhà. Chỉ riêng sàn của tòa nhà đã ngốn đến năm trăm xe tải đinh.

Tuy nhiên, giữa tất cả các công trình đang diễn ra này, cảnh quan đã phải gánh chịu hậu quả. Các con đường tạm bợ biến công trường thành lưới mắt cáo. Các xe chở đồ đã khoét những vết nứt sâu thăm thẳm trên các con đường, lối đi và những bãi cỏ tương lai. Rác ở khắp mọi nơi. Một du khách đến thăm quan lần đầu có thể nghi ngờ liệu người của Olmsted có làm việc hay không.

Olmsted tất nhiên biết rằng các tiến bộ to lớn đã diễn ra, nhưng chúng là loại tiến bộ không dễ nhận thấy. Các đầm phá đã xuất hiện tại những nơi trước kia là vùng đất cằn cỗi. Các công trường được tôn tạo - nơi các tòa nhà mọc lên - đã không tồn tại cho đến khi các đội chăm bón của ông tạo ra chúng. Vào mùa xuân trước đó, người của ông đã trồng gần như mọi thứ tại vườn ươm của triển lãm, cộng thêm hai trăm ngàn cây, thực vật thủy sinh và dương xỉ và thêm ba mươi ngàn cành liễu, tất cả dưới sự chỉ đạo của E. Dehn - người làm vườn khéo léo của ông.

Trong khoảng thời gian còn lại trước Ngày Cống hiến, Burnham muốn người của Olmsted tập trung vào việc làm sạch các công trường và trang trí chúng với hoa và các thảm cỏ tạm thời.

Olmsted hiểu việc này là cần thiết nhưng nó mâu thuẫn với thứ mà ông muốn làm nổi bật trong suốt sự nghiệp của mình. Đó chính là những thiết kế để đem lại các hiệu ứng cảnh quan không thể đạt được trong nhiều thập kỷ qua. “Tất nhiên tác phẩm chính sẽ phải gánh chịu hậu quả,” ông viết.

Tuy nhiên, một bước tiến tích cực và rõ ràng đã diễn ra trong thời gian ông vắng mặt. Burnham đã trao nhượng quyền thầu thuyền bè cho một công ty có tên Công ty Xuồng và Tàu bè điện, công ty này sau đó đã sản xuất những tàu điện đáng yêu theo đúng những đặc điểm Olmsted mong muốn.

Vào Ngày Cống hiến, ngay cả báo chí cũng đủ lịch sự để bỏ qua sự trống vắng rõ rệt của mặt đất và cảm giác chưa hoàn thiện của tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp. Sẽ là một hành động phản bội Chicago và đất nước nếu làm ngược lại.

***

Ngày Cống hiến được cả nước mong chờ. Francis J. Bellamy, một biên tập viên của tờ Youth’s Companion, nghĩ rằng sẽ là một điều tuyệt vời nếu vào ngày này tất cả học sinh của Mỹ cùng đem đến một điều gì đó cho đất nước. Ông đưa ra một bản cam kết mà phòng Giáo dục đã gửi cho gần như tất cả các trường. Theo nguyên tắc, nó bắt đầu với “Tôi cam kết trung thành với ngọn cờ của tôi và với nền Cộng hòa…”

***

Một cuộc diễu hành lớn đưa Burnham và các quan chức khác đến tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp, nơi một đội quân thường trực gồm một trăm bốn mươi ngàn người Chicago đang lấp đầy cái sàn rộng năm trăm hai mươi tư mét vuông. Các trục ánh sáng mặt trời chiếu qua màn sương ngày càng dày đặc của hơi thở con người. Năm ngàn ghế vàng đặt trước bục diễn giả trải thảm đỏ, các doanh nhân mặc đồ đen, các ủy viên nước ngoài và giáo sĩ trong màu áo đỏ, tím, xanh lá cây và vàng an tọa. Nguyên thị trưởng Carter Harrison, một lần nữa chạy đua nhiệm kỳ thứ năm, sải bước và bắt tay, chiếc mũ nặng nề màu đen của ông làm dấy lên những lời cổ vũ từ những người ủng hộ trong đám đông. Ở phía đối diện tòa nhà, một dàn hợp xướng năm ngàn giọng cất lời hát điệp khúc “Hallelujah” của Handel với sự đệm đàn của năm trăm nhạc sĩ. Trong một thời điểm, một khán giả nhớ lại, “Chín mươi ngàn người đột nhiên bật dậy, đồng thời vẫy tay và chín mươi ngàn chiếc khăn tay màu tuyết trắng của họ; không khí bị cắt thành những hình xoắn ốc bụi bặm, làm rung cả khung sắt lớn trên trần... Người ta cảm thấy chóng mặt, như thể toàn bộ tòa nhà đang rung chuyển.”

Không gian bên trong to lớn đến mức phải sử dụng các tín hiệu dễ nhìn thấy để dàn hợp xướng biết khi nào người phát biểu đã dừng lại và một bài hát mới có thể bắt đầu. Míc vẫn chưa tồn tại, vì vậy chỉ một số ít khán giả thực sự nghe thấy các bài phát biểu. Phần còn lại, các khuôn mặt méo mó trở nên căng thẳng vì nỗ lực lắng nghe. Họ thấy những người đàn ông ở xa đang ra sức ra hiệu trong bầu không khí bức bối của những lời thì thầm, ho hắng và da giày ọp ẹp, đã át hết âm thanh của bài phát biểu. Harriet Monroe, nhà thơ và chị dâu của John Root, đã ở đó và chứng kiến khi hai diễn giả lớn nhất cả nước, Đại tá Henry Watterson đến từ Kentucky và Chauncey M. Depew của New York, thay phiên nhau phát biểu ở bục diễn thuyết, “cả hai nhà hùng biện tuôn trào những lời nói bay bổng vào đám đông khán giả đang thì thầm và xào xạc, đang không thể nghe thấy bài diễn thuyết.”

Đây là một ngày trọng đại đối với bà Monroe. Bà đã sáng tác một bài thơ dài về sự kiện này, “Khải hoàn ca Hoa Kỳ” và nằng nặc muốn những người bạn quyền lực của mình cho nó vào chương trình của ngày hôm đó. Bà quan sát, với niềm tự hào, khi một nữ diễn viên đọc và vài ngàn người ở gần có thể nghe được. Không giống như phần lớn khán giả, Monroe tin rằng bài thơ là một tuyệt tác, do đó đã thuê một máy in để sản xuất ra năm ngàn bản bán cho công chúng. Bà bán được rất ít và đổ lỗi thất bại này cho tình yêu thơ đang phai nhạt của Mỹ.

Mùa đông năm đó bà đốt tất cả các bản in thừa còn sót lại.

uật: Minh Phúc —★— ÁC QUỶ THÀNH PHỐ TRẮNG ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản: Thanh Niên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Larson

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.