Trong hai tuần đầu tháng 4 năm 1893, thời tiết tuyệt đẹp, nhưng những sự kiện tàn khốc vẫn còn lẩn quanh. Bốn công nhân của hội chợ thiệt mạng, hai người vì nứt hộp sọ, hai người vì điện giật. Những cái chết này đưa tổng số thương vong trong năm lên con số bảy. Công đoàn thợ mộc của hội chợ, nhận thức được giá trị to lớn của mình trong giai đoạn xây dựng cuối cùng này, đã nắm bắt cơ hội và đình công, đòi hỏi mức lương tối thiểu như của công đoàn và các thỏa thuận khác họ đã kiếm tìm từ lâu. Chỉ có một trong tám trụ của vòng đu quay Ferris đã được lắp đặt và công nhân vẫn chưa hoàn thành việc sửa chữa tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp. Mỗi buổi sáng, hàng trăm người leo lên mái nhà của nó; mỗi tối họ rón rén tìm cách trở xuống theo một hàng dày đặc dài ngoằng mà nhìn từ xa trông giống một đàn kiến. “Băng quét sơn trắng” của Frank Millet làm việc cật lực để sơn các tòa nhà của Sảnh Danh dự. Ở một số nơi, lớp vữa trát lên đã bắt đầu rạn nứt. Các đội vá vết nứt tuần tra công trường. Một bầu không khí của “nỗ lực lo lắng” tràn ngập trong công viên khiến Candace Wheeler, nhà thiết kế được thuê để trang trí tòa nhà Phụ nữ, liên tưởng đến “một ngôi nhà chưa đầy đủ tiện nghi chuẩn bị đón khách.”
Mặc cho các cuộc đình công của thợ mộc và tất cả công việc vẫn chưa được hoàn thành, Burnham vẫn cảm thấy lạc quan, tâm trạng của ông càng được ủng hộ bởi thời tiết tốt. Mùa đông lạnh và kéo dài, nhưng giờ không khí đượm mùi hương của những bông hoa mới nở và của mặt đất dần tan băng. Và ông được quý mến. Cuối tháng 3, ông được tiếp đón tại một bữa tiệc lớn được sắp xếp bởi Charles McKim và được tổ chức tại New York trong Vườn Madison Square - khu Vườn xưa, một công trình thanh lịch của người Moor được thiết kế bởi Stanford White, đối tác của McKim. McKim giao cho Frank Millet đảm bảo sự góp mặt của các họa sĩ tài hoa nhất Mỹ, họ ngồi bên cạnh những nhà văn, những kiến trúc sư nổi tiếng nhất và những người bảo trợ đã ủng hộ họ, những người như Marshall Field và Henry Villard61 và họ cùng nhau tôn vinh Burnham - một cách hấp tấp - vì đã làm được điều bất khả thi. Tất nhiên, họ ăn như những vị thần.
61 Henry Villard (10/04/1835 - 12/11/1900) là một nhà báo và nhà tài chính người Mỹ. Ông còn là chủ tịch đầu tiên của Công ty Đường sắt Bắc Thái Bình Dương.
Thực đơn:
Hàu Blue Point Alaska.
Vang vàng Sauternes.
SÚP.
Súp rau củ.
Crème de Celeri62.
Vang Amontillado.
KHAI VỊ.
Bít tết thăn bò. Hạnh nhân muốn.
Ô liu .vv.
CÁ.
Cá vược với sốt Hollandaise63.
Khoai tây viên Paris.
62 Một loại súp bao gồm cần tây, khoai tây, hành tây, rau bina.
63 Hollandaise là loại nước sốt thường được dùng trong các món Pháp, với bơ là thành phần chủ yếu.
Vang đỏ Miersfeiner. Sâm banh Moet Chandon.
Sâm banh Perrier Jouet,
Extra Dry Special.
MÓN CAY.
Phi lê thịt bò với nấm.
Đậu xanh.
Khoai tây Nữ công tước.
MÓN CHÍNH.
Lá lách giần.
Đậu Hà Lan.
KEM TRÁI CÂY.
Rượu pân Roma.
Thuốc lá điếu.
THỊT NƯỚNG.
Đầu vịt đỏ. Salad xà lách. Vang đỏ Pontet Canet.
TRÁNG MIỆNG.
Bánh quy nhỏ. Ga tô các loại. Kẹo dẻo. Bánh ngọt nhỏ. Trái cây các loại.
PHO MÁT. Roquefort và Camembert64. Cà phê. Sô-đa.
Rượu Cognac. Rượu mùi65. Xì gà.
64 Camembert là tên một loại phô mai có xuất xứ từ thị trấn Camembert ở vùng Normandie của Pháp.
65 Rượu mùi là một loại đồ uống pha chế có cồn, được pha trộn từ cồn tinh luyện với xi-rô đường, các loại rau quả và thảo mộc, thường được sử dụng để tráng miệng sau bữa ăn chính.
***
Báo chí cho biết Olmsted cũng có mặt, nhưng trên thực tế, ông ở Asheville, North Carolina, tiếp tục công việc của mình tại khu bất động sản của Vanderbilt. Sự vắng mặt của ông làm dấy lên những lời đồn đoán rằng ông giận dỗi vì không được chia sẻ ánh hào quang và do thiếp mời đã ghi rõ các loại hình nghệ thuật chính chỉ bao gồm hội họa, kiến trúc và điêu khắc, không đả động gì đến kiến trúc cảnh quan. Trong khi Olmsted thực sự đã đấu tranh trong suốt sự nghiệp của mình để đem lại sự tôn trọng cho kiến trúc cảnh quan như là một nhánh riêng biệt của nghệ thuật, việc ông không dự tiệc chỉ vì cảm thấy bị tổn thương không giống với tính cách của ông. Lời giải thích đơn giản nhất có vẻ là lời giải thích tốt nhất: Olmsted đã bị bệnh, công việc của ông ở khắp mọi nơi đều chậm tiến độ, ông không thích lễ nghi và trên tất cả, ông ghét di chuyển đường dài trên tàu du lịch, đặc biệt là trong thời tiết giao mùa khi các toa xe, ngay cả những toa tốt nhất của Pullman Palaces, cũng trở nên quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu ông tham dự, ông đã có thể nghe Burnham nói với quan khách: “Mỗi người trong số các ngài đều biết đến tên và thiên phú của người đi tiên phong trong trái tim và niềm tự hào của nghệ sĩ Mỹ, tác giả của các công viên thuộc thành phố của các ngài và những người khác. Ông là cố vấn tốt nhất và là người thầy tận tình của chúng tôi. Ông là người lên kế hoạch cho triển lãm, Frederick Law Olmsted... Là một nghệ sĩ, ông vẽ bằng hồ nước và rừng cây; bằng những bãi cỏ, bờ hoa và các ngọn đồi được rừng che phủ; bằng sườn núi và biển. Tối nay ông lẽ ra nên đứng ở chỗ tôi đang đứng...”
Điều đó không có nghĩa rằng Burnham muốn ngồi xuống. Ông thích thú với sự quan tâm và yêu quý chiếc “li mến thương” bằng bạc được chạm khắc chứa đầy rượu và được nhấp môi bởi từng người đàn ông tại bàn - bất chấp sự hoành hành của thương hàn, bạch hầu, lao và viêm phổi tại thành phố bên ngoài. Ông biết vẫn còn quá sớm để nhận những lời khen ngợi, nhưng bữa tiệc bóng gió về vinh quang lớn hơn sẽ đến với ông vào cuối hội chợ, tất nhiên nếu nó đáp ứng được mong đợi tỉ mỉ của thế giới.
Không nghi ngờ gì nữa, một tiến độ nhanh khủng khiếp đã diễn ra. Sáu công trình to lớn nhất của hội chợ vươn lên tại đại sảnh trung tâm tạo nên một hiệu ứng ấn tượng và đường bệ hơn cả những gì ông đã tưởng tượng. “Bức tượng Cộng hòa” của Daniel Chester French66 - biệt danh “Mary Vĩ Đại” - đặt tại trung tâm, hoàn thiện và lấp lánh, toàn bộ bề mặt của nó được dát vàng. Tính cả chân đế, bức tượng Cộng hòa cao 34 mét. Hơn hai trăm tòa nhà khác của các bang, các tập đoàn và chính phủ nước ngoài được dựng lên điểm xuyết khu vực xung quanh. Hãng tàu thủy White Star Line đã xây dựng một ngôi đền nhỏ quyến rũ tại bờ Tây Bắc đầm phá đối diện với đảo Wooded, chỉ cách hồ vài bước chân. Những khẩu súng khổng lồ của Krupp được đặt trong gian trên mặt hồ phía Nam của Sảnh Danh dự.
66 Daniel Chester French (20/04/1850 - 07/10/1931) là một trong các nhà điêu khắc nổi tiếng nhất của Mỹ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nổi tiếng với tác phẩm hoành tráng, trong đó có tượng Abraham Lincoln đang ngồi tại Đài tưởng niệm Lincoln, Washington, DC.
“Quy mô của toàn bộ hội chợ ngày càng trở nên to lớn hơn khi các công việc được tiến hành,” McKim viết cho Richard Hunt. Có phần quá to, ông viết đầy cay nghiệt, ít nhất là trong trường hợp của tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp. Tòa nhà Nông nghiệp của ông, ông viết, “phải hứng chịu sự so sánh với người láng giềng đối diện khổng lồ của nó, với kích cỡ - cao 65 mét - tính từ trục chính, chắc chắn sẽ khiến chúng ta và mọi thứ xung quanh nó bị choáng ngợp.” Ông nói với Hunt rằng, mình vừa bỏ ra hai ngày với Burnham, bao gồm hai đêm tại khu ổ chuột. “Ngài ấy vẫn duy trì công việc dưới trách nhiệm của mình và trông vẫn khỏe và tất cả chúng ta nợ ngài ấy một món nợ lớn vì sự sát sao và liên tục chú ý đến những yêu cầu nhỏ nhất của chúng ta.”
Ngay cả những cuộc đình công của thợ mộc cũng không làm khó Burnham. Dường như có rất nhiều thợ mộc không thuộc liên đoàn đang thất nghiệp sẵn sàng thế chỗ những người vắng mặt. “Với nguồn nhân công này, anh không lo sợ điều gì cả,” ông viết trong một lá thư vào ngày 6 tháng 4 cho Margaret. Ban ngày lạnh lẽo “nhưng trong trẻo, tươi sáng và đẹp đẽ, một ngày tuyệt vời để sống và làm việc.” Các công nhân đã tiến hành “tô điểm”, ông viết. “Rất nhiều vịt được thả trong các vùng đầm phá ngày hôm qua và chúng đang bơi xung quanh một cách mãn nguyện như cuộc đời sáng nay.”
Olmsted đã đặt mua hơn tám trăm con vịt và ngỗng, bảy ngàn con chim bồ câu và một số loài chim kỳ lạ vì tiếng hót của chúng, trong đó có bốn con chim diệc tuyết, bốn con cò, hai chim bồ nông nâu và hai chim hồng hạc. Đến lúc này mới chỉ có những con vịt trắng bình thường được thả xuống nước. “Trong hai hoặc ba ngày tới,” Burnham viết, “tất cả những loài chim sẽ được thả xuống nước, nơi trở nên thậm chí còn đẹp hơn so với năm ngoái.” Thời tiết vẫn đáng yêu: Sắc nét, rõ ràng và khô ráo. Vào thứ Hai, ngày 10 tháng 4, ông nói với Margaret, “Anh rất hạnh phúc.”
Trong vài ngày sau đó, tâm trạng ông đã thay đổi. Có tin đồn về việc các công đoàn khác có thể tham gia cuộc đình công của thợ mộc và khiến tất cả công việc ở công viên Jackson dừng lại. Đột nhiên, hội chợ có vẻ chậm tiến độ một cách nguy hiểm. Việc xây dựng các nhà kho cho các cuộc triển lãm ở phía cực Nam công viên vẫn chưa bắt đầu. Tất cả mọi nơi Burnham nhìn ông đều thấy các đường ray và đường tạm bợ, các xe hàng và thùng đóng gói trống rỗng. Các mớ vỏ gỗ bào lang thang trên khắp công trường. Ông thất vọng với vẻ ngoài chưa hoàn thiện của công viên và ông trở nên cáu kỉnh với vợ mình.
“Tại sao em không viết thư cho tôi hàng ngày?” Ông hỏi hôm thứ Năm. “Tôi chờ những lá thư của em trong vô vọng.”
Ông giữ một bức ảnh của Margaret trong văn phòng của mình. Mỗi khi đi ngang qua, ông cầm tấm hình lên và nhìn chằm chằm vào nó với khát khao. Ông nói với cô mình mới chỉ nhìn nó mười lần trong ngày hôm đó. Ông đã mong chờ được nghỉ ngơi sau ngày 1 tháng 5, nhưng nhận ra giờ đây cường độ công việc sẽ tiếp tục kéo dài. “Theo anh biết, công chúng coi công việc đã hoàn tất, đúng như những gì anh mong ước. Anh cho là bất kỳ ai tham gia một cuộc đua đều có những khoảnh khắc tuyệt vọng khi gần đến đích; nhưng họ không bao giờ được đầu hàng trước nó.”
Margaret gửi cho ông một cây cỏ bốn lá.
***
Tình trạng lộn xộn diễn ra trên khu đất hội chợ, nhưng không phải trên khu đất sáu mươi mốt ki-lô-mét vuông mà Buffalo Bill thuê cho chương trình của mình, giờ chính thức mang tên là “Miền Tây Hoang Dã và Những Tên Cao Bồi Hung Dữ trong thế giới của Buffalo Bill.” Ông đã khai mạc chương trình của mình vào ngày 3 tháng 4 và ngay lập tức lấp đầy đấu trường mười tám ngàn chỗ ngồi của mình. Khách thăm quan đi qua một cánh cổng kiểu Mỹ ở một bên, bên trên là lá cờ với dòng chữ “THUYỀN TRƯỞNG ĐẠI DƯƠNG, KẺ VIỄN CHINH ĐẦU TIÊN” và Buffalo Bill ở bên còn lại, dưới tên gọi “THUYỀN TRƯỞNG CỦA CÁNH ĐỒNG, KẺ VIỄN CHINH CUỐI CÙNG”.
Chương trình và khu trại của ông chiếm sáu mươi mốt ki-lô- mét vuông. Hàng trăm người da đỏ, binh lính và công nhân ngủ trong lều. Annie Oakley luôn giữ cho căn lều của cô ấm cúng, với một khu vườn cây anh thảo, phong lữ và cây đường quì bên ngoài. Bên trong, cô xếp chiếc ghế của mình, những tấm da báo, một chiếc thảm Axminster67, ghế xích đu và các đồ vật gia đình khác. Và tất nhiên kèm với một bộ sưu tập súng đa dạng.
67 Axminster là tên một nhà sản xuất thảm của Anh quốc.
Buffalo Bill luôn luôn bắt đầu chương trình của mình bằng bản nhạc “Lá Cờ Lấp Lánh Ánh Sao68” do ban nhạc Cao Bồi của ông biểu diễn. Tiếp đến là “Cuộc Duyệt Binh Vĩ Đại,” trong đó những người lính từ Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Nga diễu hành trên lưng ngựa xung quanh đấu trường. Annie Oakley xuất hiện tiếp theo, nổ súng vào một loạt các mục tiêu bất khả thi. Cô tấn công chúng. Màn chính của chương trình là một cuộc tấn công của người da đỏ vào một xe ngựa cũ, Xe Ngựa Thư Tín Củi Khô và Buffalo Bill cùng người của ông đến giải cứu. (Trong thời gian chương trình diễn ra tại London, người da đỏ tấn công chiếc xe ngựa khi nó chạy trên khu đất của lâu đài Windsor69 mang theo bốn vị vua và hoàng tử xứ Wales. Buffalo Bill là người lái xe.) Cuối chương trình, chính Cody sẽ biểu diễn tài thiện xạ lạ mắt của mình, chạy vòng quanh đấu trường trên lưng ngựa và dùng khẩu súng Winchester bắn vào những quả bóng thủy tinh được các trợ lí của ông ném lên không trung. Màn cao trào của chương trình là “Cuộc Tấn công vào Cabin Người Khai phá”, trong đó những người da đỏ từng tàn sát binh lính và thường dân tái hiện lại một cuộc tấn công giả vào một cabin chứa đầy người da trắng, chỉ để một lần nữa bị đánh bại bởi Buffalo Bill và một toán cao bồi bắn súng không đạn. Theo cùng năm tháng, Cody thay thế cuộc tấn công bằng màn diễn thậm chí còn ấn tượng hơn, “Trận chiến Little BigHorn70... cho thấy với độ chính xác về mặt lịch sử của trận chiến cuối cùng của Custer.”
68 Tên quốc ca Hoa Kỳ.
69 Lâu đài Windsor, thuộc thị trấn Windsor tại Berkshire, Anh, là lâu đài lớn nhất thế giới được biết đến vì là nơi ở của nhiều đời hoàng tộc Anh quốc.
70 Trận chiến Little Bighorn - còn gọi là trận chiến cuối cùng của Custer - là một trận đánh giữa các bộ tộc người da đỏ và Trung đoàn 7 Kị binh của quân đội Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày 25 tháng 6 năm 1876 gần sông Little Bighorn ở phía Đông bang Montana. Đây là trận đánh nổi tiếng nhất trong chiến tranh da đỏ.
Hội chợ khiến cuộc hôn nhân của Đại tá Cody gặp nhiều khó khăn. Các chương trình luôn khiến ông phải xa ngôi nhà của mình ở Bắc Platte, bang Nebraska, nhưng sự vắng mặt của ông không phải là vấn đề chính. Bill thích phụ nữ và phụ nữ thích Bill. Một ngày, vợ của ông, Louisa - “Lulu” - bất ngờ đến Chicago thăm chồng. Bà phát hiện ra “vợ” của Bill đã đến. Tại quầy lễ tân của khách sạn, một nhân viên nói với rằng bà sẽ được đưa lên “phòng ông bà Cody”.
***
Lo sợ rằng một cuộc cuộc đình công trên quy mô rộng hơn có thể gây tổn hại, thậm chí phá hủy hội chợ, Burnham tiến hành đàm phán với các thợ mộc và thợ rèn. Cuối cùng hai bên thống nhất thiết lập một mức lương tối thiểu, đồng thời trả thêm một nửa lương khi làm việc ngoài giờ và gấp đôi vào ngày chủ nhật và ngày lễ quan trọng, bao gồm cả ngày Lao động71. Những người đàn ông thuộc công đoàn lần lượt kí một hợp đồng làm việc cho đến khi kết thúc hội chợ. Sự trút bỏ gánh nặng rõ ràng này của Burnham cho thấy lòng can đảm trước đó của ông có thể chỉ là vẻ bề ngoài. “Em có thể tưởng tượng rằng dù mệt mỏi, tôi đã có thể đi ngủ trong hạnh phúc,” ông viết thư cho vợ. Sự kiệt sức của ông được thể hiện bằng sự xuất hiện của các câu cú méo mó, điều mà ông cố gắng xua đuổi. “Bọn anh ngồi từ đầu buổi chiều đến chín giờ. Cho đến khi hội chợ kết thúc thử thách này sẽ không tái diễn anh tin, do đó bức hình của em trước mặt anh bỗng đáng yêu một cách lạ thường khi nó nhìn lên từ bàn làm việc Burnham tuyên bố thỏa thuận này là một chiến thắng của hội chợ, nhưng trên thực tế những thỏa thuận hợp tác của hội chợ là một bước đột phá đối với tổ chức lao động. Những thỏa thuận đi kèm nó đã trở thành mô hình cho các công đoàn khác noi theo. Sự kiện này đã đổ thêm dầu vào các phong trào lao động vốn đã sục sôi của Hoa Kỳ - và của Chicago.
71 Ngày lễ Lao động Hoa Kỳ, được tổ chức vào thứ Hai đầu tiên của tháng 9, là ngày lễ vinh danh những người lao động.
***
Olmsted trở lại Chicago cùng bộ ba nỗi thống khổ của ông và chứng kiến nơi này tràn đầy hứng khởi còn Burnham thì xuất hiện ở khắp mọi nơi. Vào thứ Năm, ngày 13 tháng 4, Olmsted viết thư cho John, con trai ông, “Bên trong này mọi người đang có một cuộc chạy đua sôi nổi, còn bên ngoài tưởng tượng ra một sự lộn xộn kinh hoàng.” Các cơn gió thổi qua các dải đất cằn cỗi của công viên và tạo ra những trận bão bụi. Các con tàu nối tiếp các con tàu mang theo đồ vật triển lãm đáng lẽ ra đã phải được trưng bày từ lâu. Sự chậm chễ này đồng nghĩa với việc các đường ray và đường đi tạm thời phải được giữ nguyên. Hai ngày sau Olmsted viết, “Chúng ta sẽ phải chịu hậu quả vì sự chậm chạp của những người khác, khi giờ đây các hoạt động của họ ngăn cản tiến độ công việc của chúng ta.
Trong tình huống tốt nhất, các công việc quan trọng nhất của chúng ta sẽ phải được thực hiện vào ban đêm sau khi khai mạc hội chợ. Ta không thể hiểu được sự lộn xộn nhưng có hàng ngàn người đang làm việc dưới các tầng quản lí và ta cho là mình sẽ nói chuyện với tất cả, tất cả bọn họ.”
Ông quy kết trách nhiệm về mình vì cảnh quan chưa hoàn thiện, vì đã không giao công việc cho một quản lí đáng tin cậy ở Chicago sau cái chết của Harry Codman. Ngày 15 tháng 4 năm 1893, ông viết cho John, “Ta e rằng chúng ta đã sai trong việc để lại nhiều công việc cho Ulrich Phil đến vậy. Ta hi vọng Ulrich không cố ý dối trá nhưng ông ta ngoan cố đến mức lừa gạt và đánh lạc hướng chúng ta. Đúng là không thể tin cậy. Năng lượng của ông ta phần lớn đã bị tiêu hao vào những vấn đề mà lẽ ra ông ta không cần quan tâm... Tôi không thể tin tưởng ông ta mỗi ngày.”
Sự thất vọng của ông với Ulrich ngày càng tăng lên, sự tín nhiệm của ông không còn sâu sắc. Sau đó, trong một bức thư gửi cho John, ông nói, “Ulrich không cố tình lừa dối chúng ta. Khó khăn nằm ở chỗ sự hám danh của ông ta đã đi quá giới hạn; ông ta quan tâm nhiều một cách thừa thãi đến việc trở nên hoạt bát, siêng năng, nhiệt tình và hữu ích hơn là việc đạt được kết quả tốt trong KTCQ [Kiến trúc cảnh quan].” Olmsted trở nên đặc biệt cảnh giác với Ulrich vì sự chú tâm một cách mù quáng của ông ta đến Burnham. “Ông ta xuất hiện ở khắp mọi nơi trên công trường, trong tất cả các công việc và ngài Burnham cùng những người đứng đầu ban liên tục triệu tập ‘Ulrich!’ Khi kiểm tra các công trình với Burnham, ta nhận thấy anh ta liên tục nói với thư kí của mình: ‘Hãy bảo Ulrich’ - thực hiện điều này điều kia. Ta đã rầy la, nhưng nó chẳng có mấy tác dụng. Ta không bao giờ có thể tìm thấy ông ta tại nơi làm việc, trừ khi qua một cuộc hẹn đặc biệt mà ông ta sau đó chỉ chăm chăm kết thúc để đi ra ngoài.”
Trong thân tâm, Olmsted sợ rằng Burnham đã tín cẩn Ulrich.
“Ta cho rằng chúng ta đã hết thời - sự tham gia của chúng ta đã đi đến hồi kết và ta sợ rằng Burnham sẽ để chúng ta ra đi và phụ thuộc vào Ulrich - vì Burnham không có khả năng nhìn thấy sự bất tài của Ulrich và sự cần thiết của những suy nghĩ thận trọng. Ta phải thận trọng, không làm Burnham thêm buồn bực, nhất là khi cậu ta đã vô cùng quá tải.”
Những trở ngại khác nhanh chóng xuất hiện. Một lô hàng thực vật quan trọng từ California đã không đến, khiến vấn đề thiếu hụt tất cả các loài cây lại càng trầm trọng hơn. Ngay cả thời tiết tốt đang thắng thế trong vài tuần đầu của tháng 4 cũng gây nên sự chậm trễ. Trời không mưa và việc nguồn cung cấp nước của công viên vẫn chưa được hoàn thành đồng nghĩa với việc Olmsted không thể trồng cây cối trên mặt đất. Bụi do gió cuốn lên - “đám bụi gớm ghiếc,” ông nói, “cơn bão cát thường xuyên của sa mạc” kéo dài, khiến mắt ông cay xè và sạn đầy trong vòm họng đang thiêu đốt của ông. “Ta đang cố gắng giải thích vì sao có quá ít việc được hoàn thành...” ông viết. “Ta nghĩ rằng trong một thời gian công chúng sẽ vô cùng thất vọng với thành quả công việc - không hài lòng và một biện pháp mạnh sẽ được áp dụng trong những tuần tới nhằm ngăn chặn Ulrich sử dụng năng lượng bất hợp lí.”
Đến ngày 21 tháng 4, Olmsted một lần nữa nằm liệt giường “vì đau họng, viêm một chiếc răng và cơn đau khiến ông mất ngủ.” Mặc cho tất cả những điều này, tinh thần của ông dần cải thiện.
Vượt qua sự chậm trễ trước mắt và sự tráo trở của Ulrich, ông đã nhìn thấy những tiến bộ. Bờ đảo Wooded bắt đầu bật ra lá mới và hoa dày đặc. Đền thờ Nhật Bản, đền Hoo-den được chế tác tại Nhật và được lắp ráp bởi các nghệ nhân Nhật Bản, không ảnh hưởng gì nhiều đến hiệu ứng rừng cây toàn thể. Các tàu điện đã xuất hiện và trông dễ thương, đúng với những gì Olmsted kỳ vọng. Các loài thủy cầm trên các đầm phá đem đến những tia năng lượng đầy mê hoặc đối trọng với sự bao la tĩnh lặng màu trắng của Sảnh Danh Dự.
Olmsted công nhận rằng mặc dù các nguồn lực của Burnham không thể nào hoàn thành việc vá víu và sơn vào ngày 1 tháng 5 và công việc của ông còn lâu mới hoàn thành, nhưng ông đã nhìn thấy sự cải thiện rõ ràng. “Một lực lượng lao động lớn hơn được sử dụng,” ông viết, “và công việc mỗi ngày cho thấy điều đó.”
Tuy nhiên, sự lạc quan thoáng qua này sắp biến mất khi một mặt trận thời tiết mạnh mẽ đang di chuyển trên đồng cỏ, hướng về Chicago.
***
Trong thời gian này, ngày chính xác không rõ ràng, một người bán sữa rong tên là Joseph McCarthy dừng chiếc xe chở đồ của mình gần công viên Humboldt của Chicago. Đó là buổi sáng, khoảng mười một giờ. Một người đàn ông trong công viên khiến anh chú ý. Anh nhận ra mình biết người đàn ông này: Patrick Prendergast, người giao báo cho tờ Inter Ocean.
Điều kỳ lạ là, Prendergast đang đi lòng vòng. Lạ hơn nữa, gã đi với cái đầu ngả về phía sau và kéo chiếc mũ thấp đến mức nó che đi mắt mình.
Trong lúc McCarthy đang theo dõi, Prendergast đâm vào một cái cây.
***
Mưa bắt đầu rơi. Lúc đầu, nó không làm khó Burnham. Nó ngăn chặn đám bụi từ những khu đất chưa được trồng cây của công trường - điều mà, như ông thất vọng nhìn thấy, quá dư thừa - và giờ đây tất cả những mái nhà đã được hoàn tất, ngay cả mái nhà của tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp.
“Trời mưa,” Burnham viết cho Margaret vào thứ Ba, ngày 18 tháng 4, “và đây là lần đầu tiên anh muốn nó tiếp tục mưa. Các mái nhà của anh cuối cùng cũng hoàn thành và bọn anh chẳng quan tâm đến việc bị dột.”
Nhưng mưa kéo dài và trở nên nặng hạt. Vào ban đêm nó rải qua các bóng đèn điện thành từng màn dày đặc đến mức gần như một lớp lờ mờ. Nó biến bụi thành bùn, khiến ngựa loạng choạng và xe chở hàng đổ nhào. Và nó gây ra “dột” nước. Vào đêm thứ Tư, một cơn mưa rất nặng hạt ập đến công viên Jackson và ngay sau đó một dòng thác sáu mươi mốt mét đổ ào từ trần kính của tòa nhà Mỹ thuật Tự do và Công nghiệp xuống các triển lãm phía dưới. Burnham cùng một đội quân công nhân và bảo vệ hội tụ về tòa nhà, cùng nhau chiến đấu với nước dột suốt đêm.
“Đêm qua là cơn bão khủng khiếp nhất bọn anh từng gặp tại công viên Jackson,” Burnham viết cho Margaret hôm thứ Năm. “Các tòa nhà không bị hư hại ngoại trừ mái của tòa nhà Công nghiệp bị dột ở phía Đông và bọn anh đã ở lại đó đến nửa đêm để che chắn vật triển lãm. Một trong những tờ báo cho biết Genl Davis đã có mặt và tham gia giúp đỡ và rằng ông không rời khỏi tòa nhà cho đến khi tất cả đã được an toàn. Tất nhiên, Ngài D chẳng liên quan gì đến việc này.”
Mưa dường như khiến những công việc còn lại trở nên rõ ràng hơn. Cũng vào thứ Năm đó Burnham đã viết một lá thư khác cho Margaret. “Thời tiết ở đây rất xấu và đã kéo dài từ thứ Ba tuần trước, nhưng anh vẫn tiếp tục vì khối lượng công việc khổng lồ đang ở phía trước... Cường độ của tháng cuối cùng này thực sự rất lớn. Em khó có thể tưởng tượng được nó. Anh ngạc nhiên trước sự điềm tĩnh của mình.” Nhưng khó khăn, ông cho biết, đã thử thách cấp dưới của mình. “Sự căng thẳng của họ cho thấy ai được làm bằng kim loại tốt và ai không. Anh có thể nói với em rằng rất ít người đủ năng lực trước áp lực này, nhưng một số người vẫn có thể được tin tưởng. Phần còn lại phải được đốc thúc hàng giờ và họ là những người khiến anh mệt mỏi.”
Như mọi khi, ông mong mỏi hồi âm từ Margaret. Cô đã rời khỏi thành phố nhưng sẽ trở lại vào lúc khai trương. “Anh sẽ ngóng chờ em, người vợ thân yêu của anh,” ông viết. “Em phải xuất hiện khi quay trở về.”
Với Burnham, ở độ tuổi kín đáo này, đây là một bức thư cần được giữ kín đáo.
***
Ngày qua ngày đều là những thứ giống nhau: Cửa sổ mờ sương, giấy cuộn tròn vì độ ẩm của môi trường xung quanh, tiếng của mưa trên mái nhà như tiếng vỗ tay quỷ quái và ở khắp mọi nơi bốc lên mùi hôi thối của mồ hôi và len ẩm, đặc biệt là trong mớ hỗn độn của công nhân vào giờ ăn trưa. Mưa tràn vào các ống dẫn dây điện và làm chập mạch. Tại vòng đu quay, các máy bơm chạy liên tục hai mươi tư giờ với nhiệm vụ bơm nước ra khỏi các trụ, nhưng cũng không thể chiến thắng được lượng nước khổng lồ. Mưa đổ xuống từ trần của tòa nhà Phụ nữ và khiến việc trưng bày các đồ vật triển lãm phải tạm dừng. Tại công viên Midway, những người Ai Cập, Algeria và Dahomans ăn mặc thiếu vải phải hứng chịu hậu quả. Chỉ người Ireland, trong làng Ireland của bà Hart, dường như đối phó với cơn mưa một cách dễ dàng.
***
Với Olmsted, cơn mưa thực sự làm ông nản lòng. Nó rơi xuống mặt đất đã bị ngập úng và nó lấp đầy tất cả các vùng trũng trên tất cả các con đường. Vũng nước trở thành hồ. Các bánh xe của những toa xe tải nặng nề chìm sâu dưới bùn để lại những vệt và hố sâu, thêm vào danh sách các “vết thương” cần được lấp đầy, làm nhẵn và trồng cỏ lên trên.
Mặc dù trời mưa, tốc độ làm việc tăng lên. Olmsted kinh ngạc bởi số lượng công nhân tham gia. Ngày 27 tháng 4, ba ngày trước khi khai mạc, ông thông báo với công ty của mình, “tôi đã từng viết có hai ngàn công nhân tham gia làm việc - thật ngu xuẩn. Có hai ngàn người làm việc trực tiếp cho ngài Burnham. Tuần này số lượng công nhân độc quyền của các nhà thầu gấp đôi con số đó. Tính cả nhà thầu và các công nhân khai thác gỗ, hiện giờ có mười ngàn người làm việc trên công trường và có thể nhiều hơn nếu các giai tầng khác tham gia. Công việc của chúng tôi bị trì hoãn tồi tệ vì các đội không thể tìm được đủ số người cần thiết.” (Ước tính của ông vẫn còn thấp. Trong những tuần cuối cùng này, tổng số lao động trong công viên lên tới gần hai mươi ngàn). Ông vẫn còn thiếu quá nhiều cây, ông phàn nàn. “Tất cả các nguồn lực cho chúng dường như đã thất bại và sẽ đem lại kết quả tồi tệ.”
Ít nhất cái răng bị viêm mủ của ông đã được cải thiện và ông không còn nằm liệt giường. “Vết loét của tôi đã giảm,” ông viết. “Tôi vẫn phải sống bằng bánh mì và sữa, nhưng đã có thể di chuyển trong cơn mưa ngày hôm nay và đang dần hồi phục.”
Tuy nhiên, cũng vào ngày hôm đó, ông đã viết một lá thư riêng và ảm đạm hơn cả gửi đến John. “Chúng ta đang gặp vận xui. Hôm nay tiếp tục mưa lớn.” Burnham ép ông phải dùng tất cả các biện pháp, bất kể là làm tắt ăn nhanh để Sảnh Danh Dự ở trong tình trạng gần sẵn sàng. Chẳng hạn Burnham ra lệnh cho người của ông trồng đỗ quyên và cây cọ vào các chậu để trang trí khoảng sân lát gạch ngoài trời, chính xác là biện pháp tạm bợ màu mè mà Olmsted khinh thường. “Tôi không thích điều đó chút nào,” ông viết. Ông bực bội việc phải “dùng đến những cách tạm thời mà sẽ chỉ tạo nên một cảnh quan nghèo nàn vào ngày khai mạc.” Ông biết rằng ngay sau khi mở cửa, tất cả chỗ cây này sẽ phải được làm lại. Bệnh tật, sự thất vọng và cường độ công việc gia tăng đã cưỡng bức tinh thần của ông và khiến ông cảm thấy già trước tuổi. “Những bữa ăn tạm bợ tại các bàn lộn xộn, tiếng ồn và tiếng chạy gấp gáp, các vũng nước và mưa không khiến một ông già xác xơ cảm thấy thoải mái và họng cũng như miệng tôi vẫn đang trong tình trạng như vậy mà tôi vẫn phải tiếp tục nhét các thứ vào dạ dày.”
Tuy nhiên, ông không đầu hàng. Mặc cho trời mưa, ông vẫn đi lại xung quanh công trường để chỉ đạo việc trồng trọt và vẫn tham dự cuộc họp bắt buộc giữa Burnham và những nhân vật quan trọng khác vào lúc bình minh. Khối lượng công việc và thời tiết đã đảo ngược tiến trình cải thiện sức khỏe của ông. “Tôi bị cảm lạnh và đã thức cả đêm vì đau người và đang sống nhờ bánh mì nướng và trà,” ông đã viết vào thứ Sáu, ngày 28 tháng 4. “Mưa lớn và kéo dài cả ngày, việc kiểm tra tiến độ của chúng tôi thật đáng buồn.” Tuy nhiên, sự điên cuồng của việc chuẩn bị cho lễ khai mạc hôm thứ Hai vẫn không hề suy giảm. “Thật kỳ quặc khi chứng kiến các họa sĩ làm việc trên thang và giàn giáo trong cơn mưa lớn này,” Olmsted viết. “Nhiều người hoàn toàn ướt đẫm và tôi nghĩ rằng bức tranh của họ sẽ mang những đường kẻ dọc.” Ông nhận thấy rằng một công trình lớn ở cực Tây của vùng trũng trung tâm - Đài phun nước Hoa Kỳ - vẫn chưa được hoàn thiện, mặc dù nó là một công trình quan trọng của lễ khai mạc. Một lễ khai mạc thử nghiệm đã được lên kế hoạch vào ngày hôm sau, thứ Bảy. “Nó vẫn chưa sẵn sàng chút nào,” Olmsted viết, “nhưng mọi người mong rằng nó sẽ đi vào hoạt động khi Tổng thống có mặt vào thứ Hai.”
Olmsted đã phải thất vọng với công việc thuộc bộ phận mình. Ông đã hi vọng có nhiều thứ được hoàn thành hơn hiện tại. Ông biết những người khác cũng chia sẻ nỗi thất vọng của mình. “Tôi nhận được những cơn chỉ trích không đúng chỗ, bởi những người đàn ông thông minh như Burnham, vì ấn tượng của công việc chưa hoàn chỉnh và cảnh quan sơ sài,” ông viết. Ông biết rằng ở nhiều nơi, các mảnh đất trông thưa thớt, nhếch nhác và còn rất nhiều công việc phải làm - ai cũng có thể nhìn thấy những khoảng trống - nhưng phải nghe về nó từ những người khác, đặc biệt là từ một người đàn ông mà ông ngưỡng mộ và tôn trọng, khiến ông buồn bã sâu sắc.
***
Hạn chót không thay đổi. Tất cả mọi người đang phải làm quá nhiều công việc, thậm chí còn xem xét cả việc hoãn ngày khai mạc. Lễ khai mạc được dự kiến bắt đầu, sẽ bắt đầu vào sáng thứ Hai với một cuộc diễu hành từ khu Loop đến công viên Jackson, dẫn đầu là Grover Cleveland, tổng thống mới của Mỹ. Các chuyến tàu nối đuôi nhau tiến vào Chicago mang theo các chính khách, hoàng tử và các ông trùm từ khắp nơi trên thế giới. Tổng thống Cleveland đến thành phố cùng phó tổng thống và một đoàn tùy tùng các quan chức thuộc Nội các, thượng nghị sĩ, các nhà lãnh đạo quân sự cùng vợ, con cái và bạn bè của họ. Mưa át đi hơi nước bốc ra từ đầu máy xe lửa đen sì. Các công nhân khuân vác kéo những cái hòm lớn ra khỏi những chiếc xe chở hành lí. Từng đoàn xe màu đen trơn bóng như mặt nước xếp hàng trên các con đường bên ngoài nhà ga xe lửa của thành phố, đèn chờ màu đỏ sáng lên trong mưa. Nhiều giờ trôi qua.
Vào tối ngày 30 tháng 4, đêm trước ngày khai mạc, một phóng viên người Anh tên là F. Herbert Stead đã đến thăm hội chợ. Cái tên Stead rất nổi tiếng ở Mỹ vì người anh trai rất nổi tiếng của Herbert, William, là cựu biên tập viên của tờ Pall Mall Gazette ở London và người sáng lập của tờ Review of Reivews gần đây. Được giao nhiệm vụ tường thuật lại lễ khai mạc, Herbert quyết định do thám khu vực tổ chức trước khi mở cửa để nắm rõ hơn về địa hình hội chợ.
Trời mưa to khi ông bước ra khỏi xe ngựa của mình và tiến vào công viên Jackson. Các ngọn đèn sáng chói ở khắp mọi nơi khi từng đợt mưa cuốn quanh họ như khăn choàng. Các ao nước thay thế cho con đường thanh lịch của Olmsted rùng mình dưới tác động của hàng tỷ giọt nước rơi xuống. Hàng trăm xe chở hàng trống không màu đen đứng dưới ánh đèn. Gỗ xẻ, thùng rỗng và phần còn lại trong bữa ăn trưa của công nhân nằm ở khắp mọi nơi.
Toàn bộ cảnh quan vừa đau lòng vừa bối rối, “Ngày khai mạc của hội chợ đã được ấn định vào sáng hôm sau, nhưng mặt đất vẫn rải rác các mảnh vụn và rác thải - trong tình trạng, Stead viết, “lem nhem gớm ghiếc.”
Mưa kéo dài cả đêm.
***
Vào đêm muộn ngày Chủ nhật đó, khi mưa đập vào bậu cửa sổ, biên tập viên các tờ nhật báo buổi sáng của Chicago đang đặt ra các tiêu đề ấn tượng và tinh tế cho các số báo lịch sử vào thứ Hai.
Chưa bao giờ, kể từ đại hỏa hoạn Chicago năm 1871, các tờ báo của thành phố lại phấn khích bởi một sự kiện duy nhất đến vậy. Nhưng vẫn còn nhiều công việc thường ngày cần làm. Các thợ xếp chữ có kinh nghiệm đặt cỡ và chèn các mục rao vặt, tin cá nhân và các hình quảng cáo khác, lấp đầy các trang bên trong. Một vài người đêm đó làm việc với một thông báo nhỏ công bố việc khai trương một khách sạn mới, rõ ràng là một công trình xây dựng vội vàng để lợi dụng lòng mong đợi của du khách đến hội chợ. Ít nhất khách sạn này nằm ở vị trí khá đắc địa – đường 63 và Wallace tại Englewood, cách lối vào đường 63 của hội chợ một quãng ngắn qua Hẻm L.
Chủ sở hữu khách sạn gọi nó là Khách sạn hội chợ Thế giới.