Ántonia Của Tôi

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xiii

❊ ❊ ❊

Tuần tiếp theo sau lễ Giáng Sinh trời bắt đầu ấm lên, và đến Ngày Năm Mới, vạn vật xung quanh chúng tôi chìm trong một thứ bùn nhão xám xịt, còn con dốc lầy lội giữa cối xay gió và chuồng trại đang chảy dòng nước đen ngụm. Đất đen mềm nhô lên từng mảng dọc theo các lề đường. Tôi lại làm mọi công việc vặt quen thuộc, khiêng cùi, khuân củi, xách nước, và dành những buổi chiều ở chuồng ngựa để nhìn Jake tước bắp bằng máy tước tay.

Một buổi sáng, trong khoảng thời gian thời tiết đẹp trời này, Ántonia cùng mẹ cưỡi một con ngựa già xù lông đến thăm chúng tôi. Đây là lần đầu tiên bà Shimerda đến nhà tôi, và bà đi vòng quanh săm soi thảm, rèm cửa cùng đồ đạc của chúng tôi, miệng không ngớt bàn tán với con gái bằng một giọng ganh tị, phàn nàn. Trong bếp, bà chộp lấy một cái nồi sắt đặt ở góc sau lò sủi và nói: “Mấy người có nhiều thứ, nhà Shimerda hổng có.” Tôi thấy bà ngoại thật mềm lòng khi đem tặng chiếc nồi ấy cho bà ta.

Sau bữa trưa, khi bà ta đang phụ rửa chén bát, bà liền hất đầu nói: “Mấy người có nhiều đồ nấu nướng quá. Nếu tôi có đủ mọi thứ như nhà này, tôi nấu ăn ngon hơn nhiều.”

Bà ta là một kẻ già cả kiêu căng, khoác lác, và ngay cả bất hạnh cũng không thể khuất phục được bà ta. Tôi bực bội đến mức đâm ra lạnh nhạt ngay cả với Ántonia, và lắng nghe với vẻ dửng dưng khi cô bé kể rằng bố mình đang không được khỏe.

“Bố tôi buồn vì nhớ quê hương cũ. Trông ông ấy không được khỏe. Ông ấy chẳng bao giờ chơi đàn nữa. Ở quê, bố tôi chơi vĩ cầm suốt; cho những đám cưới và buổi khiêu vũ. Ở đây thì không bao giờ. Khi tôi nài nỉ ông ấy chơi đàn, bố lại lắc đầu từ chối. Mấy ngày nay, ông lấy đàn vĩ cầm ra khỏi hộp rồi dùng ngón tay gảy gảy lên mấy sợi dây, thế này này, nhưng chẳng bao giờ tấu lên khúc nhạc nào. Bố không thích cái xứ sở này.”

“Những ai không thích đất nước này thì nên ở nhà,” tôi nghiêm nghị đáp. “Có ai ép họ phải đến đây đâu.”

“Ông ấy có muốn đến đâu, đời nào!” cô bé thốt lên. “Mẹ tôi bắt ông phải đến. Lúc nào bà cũng bảo: ‘Nước Mỹ là xứ rộng lớn; lắm tiền, nhiều đất cho mấy đứa con trai, lắm chồng giàu cho mấy đứa con gái.’ Bố tôi, ông ấy khóc vì phải rời xa những người bạn cũ từng tấu nhạc cùng ông. Ông rất quý người thổi kèn dài thế này này”—cô bé ra hiệu dáng thổi kèn trombone—“Họ đi học cùng nhau và là bạn từ thủa nhỏ. Thế nhưng mẹ tôi, bà muốn Ambrosch trở thành kẻ giàu có, sở hữu nhiều gia súc.”

“Mẹ cậu,” tôi tức giận nói, “lại thèm thuồng đồ đạc của người khác.”

“Ông nội cậu giàu mà,” cô bé phản bác một cách gay gắt. “Sao ông không giúp đỡ bố tôi? Chẳng mấy chốc Ambrosch cũng sẽ giàu, rồi nó sẽ trả lại. Nó là một đứa cực kỳ khôn ngoan. Mẹ tôi đến đây vì Ambrosch đấy chứ.”

Ambrosch được xem là nhân vật quan trọng trong gia đình. Bà Shimerda và Ántonia lúc nào cũng nể nang cậu ta, dù cậu ta thường xuyên cáu kỉnh với họ và tỏ thái độ khinh miệt người cha. Ambrosch và mẹ muốn làm gì thì làm. Dù Ántonia yêu bố hơn bất cứ ai trên đời, cô bé vẫn rất e dè người anh cả của mình.

Sau khi nhìn Ántonia và mẹ con bé đi khuất qua ngọn đồi trên con ngựa khốn khổ, mang theo cả chiếc nồi sắt của chúng tôi, tôi quay sang bà ngoại—người đã bắt đầu cầm công việc vá víu lên—rồi bảo rằng tôi mong mụ già tò mò ấy đừng bao giờ đến nhà chúng tôi nữa.

Bà ngoại cười khúc khích và đưa cây kim sáng loáng xuyên qua lỗ thủng trên chiếc tất của Otto. “Bà ấy đâu có già, Jim, dù tao đoán là mày thấy bà ấy già. Không, tao cũng chẳng buồn rầu gì nếu bà ấy không bao giờ quay lại nữa. Nhưng mày thấy đấy, người ta chẳng bao giờ biết được nghèo đói sẽ bộc lộ những tính cách gì ở họ. Cảnh con cái thiếu thốn khiến một người đàn bà trở nên tham lam. Thôi, đọc cho tao nghe một chương trong ‘The Prince of the House of David’ đi. Hãy quên đi những người Bohemia nào.”

Chúng tôi có trọn ba tuần thời tiết ôn hòa, quang đãng ấy. Đàn gia súc trong chuồng ăn bắp nhanh gần bằng tốc độ những người thợ tước hột cho chúng, và chúng tôi hy vọng chúng sẽ sẵn sàng để đem bán sớm. Một buổi sáng nọ, hai con bò đực lớn, Gladstone và Brigham Young, tưởng rằng mùa xuân đã đến, liền bắt đầu trêu chọc và húc nhau qua hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa chúng. Chẳng mấy chốc chúng nổi giận. Chúng lồng lộn, dùng móng guốc cào xới lớp đất mềm, đảo mắt và hất tung đầu. Mỗi con lủi về một góc xa trong chuồng riêng, rồi lao vào nhau phi nước đại. Thịch, thịch, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng va đập của những chiếc đầu to lớn, và tiếng kêu rống của chúng làm rung chuyển cả đám xoong chảo trên kệ bếp. Giá mà chúng chưa bị cắt sừng, chắc chúng đã xé xác nhau ra rồi. Ngay sau đó, mấy con bò thịt béo tốt cũng hưởng ứng và bắt đầu húc nhau. Rõ ràng là vụ này phải được ngăn lại. Tất cả chúng tôi đứng bên cạnh và đầy thán phục nhìn Fuchs cưỡi ngựa vào chuồng cầm theo cái chĩa, hết lần này đến lần khác chọc vào mấy con bò đực, cuối cùng cũng tách được chúng ra.

Trận bão lớn trong mùa đông bắt đầu vào ngày sinh nhật lần thứ mười một của tôi, ngày hai mươi tháng Giêng. Khi tôi xuống ăn sáng hôm ấy, Jake và Otto bước vào với diện mạo trắng xoá như những người tuyết, tay thì vỗ vào nhau còn chân thì dậm thình thịch. Thấy tôi, chúng cười phá lên đầy hào hứng rồi gọi lớn:

“Lần này cậu có quà sinh nhật rồi đấy, Jim, không lẫn đi đâu được. Có hẳn một trận bão tuyết chính hiệu được đặt riêng cho cậu kìa.”

Cả ngày hôm đó bão tuyết vẫn tiếp diễn. Lần này tuyết không rơi, mà nó cứ thế trút xuống từ thiên đàng, tựa như hàng ngàn chiếc nệm lông vũ đang bị dốc ngược. Chiều hôm đó, căn bếp biến thành một xưởng mộc; mấy người thợ mang dụng cụ vào nhà và làm hai chiếc xẻng gỗ lớn có cán dài. Cả bà ngoại lẫn tôi đều không thể bước ra ngoài trời bão, thế nên Jake phải đi cho gà ăn và mang vào một lượng trứng thảm hại.

Hôm sau, đám đàn ông nhà chúng tôi phải húc tuyết cho đến tận trưa mới dọn được lối ra tới chuồng ngựa—và tuyết vẫn đang rơi! Đã mười năm nay, kể từ khi ông nội tôi đến Nebraska sống, chưa từng có trận bão nào lớn như thế này. Ông nói trong bữa trưa rằng chúng tôi sẽ không cố gắng ra chỗ đàn gia súc làm gì—chúng đủ mập mạp để có thể nhịn bắp một hoặc hai ngày; nhưng ngày mai chúng ta bắt buộc phải cho chúng ăn và làm tan băng vòi nước để chúng có thể uống. Chúng tôi thậm chí chẳng thể nhìn thấy các khu chuồng, nhưng thừa biết lũ bò đang túm tụm ở đó, nép sát dưới bờ bắc. Lượng bò đực hung dữ của chúng tôi, giờ đây đã đủ hiền lành, chắc đang đứng sưởi lưng cho nhau. ‘Phen này thì hết bén rễ gan lì nhé!’ Fuchs hớn hở nhận xét.

Vào buổi trưa hôm ấy, người ta chẳng nghe thấy tiếng gà cục tác đâu nữa. Sau bữa trưa, Jake và Otto—với bộ quần áo ẩm ướt giờ đã khô cong trên người—vươn vai duỗi những cánh tay cứng đờ rồi lại lao mình vào những đống tuyết dày. Chúng đào một đường hầm xuyên qua tuyết đi thẳng tới chuồng gà, với những bức tường vững chãi đến mức bà ngoại và tôi có thể đi lại qua lại bên trong đó. Chúng tôi tìm thấy lũ gà đang ngủ say; có lẽ chúng tưởng ban đêm đã buông xuống mãi mãi. Một chú gà trống già đang lững thững đi lại, mổ vào khối băng đặc quánh trong cái cóng đựng nước. Khi chúng tôi rọi đèn pin vào mắt chúng, bầy gà liền cất tiếng kêu quác quác inh ỏi và hoảng loạn bay lung tung, làm lông tơ bay tứ tung. Mấy con gà sao hoa đốm, đầu trọc lóc, vốn luôn bất mãn với cảnh giam cầm, liền vừa kêu ré lên vừa chạy thục mạng ra lối hầm rồi cố thọc những cái khuôn mặt xấu xí, loè loẹt của chúng xuyên qua các bức tường tuyết. Đến năm giờ chiều thì công việc chuồng trại mới vừa xong xuôi—đúng lúc phải bắt đầu làm lại từ đầu! Quả là một ngày kỳ lạ và phi tự nhiên.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Willa Cather

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.