Ántonia Của Tôi

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii

❊ ❊ ❊

Ở Lincoln, phần hay nhất của mùa kịch thường diễn ra vào cuối mùa, khi những đoàn nghệ thuật tên tuổi ghé qua để biểu diễn vài suất ngắn, sau chuỗi ngày dài công diễn rầm rộ ở New York và Chicago. Mùa xuân năm ấy, Lena cùng tôi đi xem Joseph Jefferson diễn vở “Rip Van Winkle” và một vở kịch về chiến tranh mang tên “Shenandoah”. Cô ấy cực kỳ kiên quyết trong việc tự trả tiền vé cho mình; cô bảo rằng giờ đây mình đã là người làm ăn tự lập, và không đời nào để một cậu học sinh phổ thông phải tiêu tiền vì mình. Tôi rất thích đi xem kịch cùng Lena; với cô ấy, điều gì cũng tuyệt diệu và điều gì cũng chân thật. Cảm giác ấy giống như việc cùng tham dự những buổi lễ phục hưng đức tin với một người luôn luôn được ơn cải đạo. Cô trao trọn cảm xúc của mình cho các diễn viên với một vẻ phó mặc đầy định mệnh. Phụ kiện trang phục và cảnh trí có ý nghĩa với cô ấy nhiều hơn là với tôi. Cô ngồi ngây ngất suốt vở “Robin Hood” và đắm chìm theo từng lời ca của nữ ca sĩ trầm giọng cất lên khúc “Oh, Promise Me!”

Vào khoảng cuối tháng Tư, những tấm bảng quảng cáo mà tôi hằng ngóng trông trong những ngày đó bỗng bừng sáng vào một buổi sáng nọ với các poster trắng tinh, trên đó in nổi bật hai cái tên bằng những chữ cái Gothic màu xanh đậm: tên của một nữ diễn viên mà tôi vẫn thường nghe đồn đại, và cái tên “Camille”.

Tôi ghé tòa nhà Raleigh Block đón Lena vào tối thứ Bảy, và chúng tôi thong thả đi bộ đến nhà hát. Thời tiết ấm áp và oi bức khiến cả hai chúng tôi đều có tâm trạng như đang đi nghỉ hội. Chúng tôi đến nơi từ sớm, bởi Lena thích ngắm nhìn dòng người qua lại. Trên tờ chương trình có một dòng chú thích ghi rằng phần “nhạc đệm” sẽ trích từ vở opera “Traviata”, được chuyển thể từ cùng một câu chuyện với vở kịch này. Cả hai chúng tôi đều chưa đọc kịch bản và chẳng hay biết câu chuyện nói về điều gì—dù hình như tôi từng nghe mang máng rằng đây là một tác phẩm làm rạng danh những nữ đại tài tử. “Bá tước Monte Cristo”, vở kịch mà tôi đã xem James O’Neill diễn vào mùa đông năm đó, là tác phẩm của vị Alexandre Dumas duy nhất mà tôi biết tới. Còn vở kịch này, theo tôi thấy, là sáng tác của con trai ông, và tôi đinh ninh giữa chúng sẽ có nét gì đó tương đồng gia tộc. Một cặp thỏ rừng vừa bị đuổi từ đồng cỏ ra, chắc chắn cũng chẳng ngây ngô và mù tịt về những gì đang chờ đón mình hơn là Lena và tôi.

Sự háo hức của chúng tôi bắt đầu ngay khi tấm màn nhung kéo lên, lúc gã Varville ủ dột, ngồi sưởi bên lò sưởi, đang gặng hỏi Nanine. Quả thực, đoạn đối thoại này mang một âm hưởng hoàn toàn mới lạ. Tôi chưa từng được nghe trên sân khấu những câu thoại có hồn đến vậy, những câu thoại mang sẵn tiền đề và sự mặc nhiên, hệt như lời qua tiếng lại giữa Varville và Marguerite trong cuộc chạm trán ngắn ngủi trước khi bạn bè nàng bước vào. Màn mở đầu ấy dẫn chúng tôi đến với khung cảnh xa hoa, tráng lệ và ngập tràn niềm vui lôi cuốn nhất mà tôi từng chứng kiến. Tôi chưa từng thấy những chai champagne được bật nắp trên sân khấu bao giờ—thực ra, tôi chưa từng thấy cảnh đó ở bất cứ đâu. Ký ức về bữa tiệc tùng ấy giờ đây lại khiến tôi thấy đóu bụng; còn khung cảnh khi ấy, khi trong bụng chỉ toàn bữa tối ở nhà trọ sinh viên nghèo, quả là một sự hành hạ dịu ngọt. Tôi như vẫn nhớ những chiếc ghế và bàn mạ vàng (được bồi bàn đeo găng và tất trắng vội vã sắp xếp), khăn trải bàn trắng lóa mắt, những ly ngọc thấu lấp lánh, đĩa bạc, một giỏ trái cây lớn, và những đóa hồng đỏ thắm nhất. Căn phòng ngập tràn những phụ nữ kiều diễm và những chàng trai hào hoa, họ cười nói rôm rả với nhau. Đàn ông mặc trang phục ít nhiều mang hơi hướng thời đại viết kịch; còn phụ nữ thì không. Nhưng tôi chẳng thấy có gì là bất hợp lý cả. Cuộc trò chuyện của họ như mở ra trước mắt người xem một thế giới rực rỡ mà họ đang sống; mỗi câu nói làm con người ta như từng trải và khôn ngoan hơn, mỗi câu chuyện đùa lại mở rộng thêm chân trời hiểu biết. Người ta có thể trải nghiệm sự xa hoa trụy lạc mà không hề phải bận tâm lo lắng xem phải để tay chân vào đâu trong một phòng khách thượng lưu! Khi tất cả các nhân vật cùng nói một lúc và tôi bỏ lỡ vài câu họ tung hứng với nhau, tôi thấy đau khổ vô cùng. Tôi căng cả tai lẫn mắt để bắt trọn từng lời thốt lên.

Nữ diễn viên thủ vai Marguerite lúc bấy giờ tuy đã lỗi thời nhưng lại là một gương mặt kỳ cựu. Bà từng là thành viên trong đoàn kịch danh tiếng của Daly ở New York, và sau đó trở thành một “ngôi sao” dưới sự dẫn dắt của ông. Người ta bảo rằng bà là người khó bề uốn nắn, dù bà sở hữu một thứ sức mạnh bản năng thô mộc đủ sức lay động những ai dễ xúc cảm và không quá khắt khe về nghệ thuật. Bà khi ấy đã luống tuổi, với gương mặt hốc hác và một thể chất kỳ lạ, cứng nhắc. Bà di chuyển rất khó khăn—tôi nghĩ bà bị què—hình như tôi từng nghe câu chuyện về căn bệnh cột sống nào đó. Nam chính Armand của bà thì trẻ và mảnh khảnh một cách lệch pha, một chàng trai khôi ngô nhưng vô cùng bối rối. Nhưng điều đó có hề gì? Tôi vẫn đặt trọn niềm tin vào quyền năng mê hoặc của bà đối với chàng trai ấy, vào vẻ đẹp lộng lẫy chói lọi của bà. Tôi tin bà còn trẻ, nồng nhiệt, bất cần, vỡ mộng, mang án tử hình, đầy sốt sược và khát khao khoái lạc. Tôi chỉ muốn vượt qua mép sân khấu để giúp anh chàng Armand mảnh khảnh trong chiếc áo sơ mi có viền nhún ấy thuyết phục nàng rằng trên đời này vẫn còn lòng trung thành và sự tận tụy. Cơn bệnh đột ngột của nàng giữa lúc cuộc vui đang hồi cao trào, sắc mặt tái nhợt, chiếc khăn tay nàng bấu chặt lấy đôi môi, tiếng ho bị nén lại sau những tràng cười trong khi Gaston vẫn nhẹ nhàng đánh đàn piano—tất cả đều bóp nghẹt trái tim tôi. Nhưng điều đó vẫn chưa thấm vào đâu so com sự hoài nghi cay đắng của nàng trong đoạn đối thoại dài đằng đẵng với người tình ngay sau đó. Tôi nào đâu hoài nghi sự vô cảm của nàng! Trong lúc chàng trai trẻ vô cùng chân thành tha thiết van xin nàng—được hòa âm bởi dàn nhạc với giai điệu quen thuộc trong vở “Traviata”, “misterioso, misterioso altero!”—nàng vẫn giữ nguyên sự hoài nghi cay đắng ấy, và tấm màn hạ xuống khi nàng bất chấp tất cả nhún nhảy cùng những người khác, sau khi Armand đã bị đuổi đi cùng nhành hoa của mình.

Giữa các màn hạ, chúng tôi chẳng có thời gian để mà quên đi cảm xúc. Dàn nhạc cứ tiếp tục cào miết những giai điệu “Traviata” vừa vui tươi vừa đượm buồn, vừa đơn điệu vừa xa xăm, vừa rẻ tiền mà lại vừa xé lòng. Hết màn thứ hai, tôi để mặc Lena ngồi ngắm trần nhà trong dòng nước mắt đầm đìa, còn mình thì bước ra sảnh để hút thuốc. Vừa đi đi lại lại ở đó, tôi vừa thầm tự mãn vì đã không rước theo cô tiểu thư Lincoln nào cứ lải nhải trong giờ giải lao về mấy buổi khiêu vũ của sinh viên năm dưới, hay chuyện các học viên quân sự có đi cắm trại ở Plattsmouth hay không. Dù sao thì Lena cũng là một người phụ nữ thực thụ, còn tôi là một người đàn ông.

Xuyên suốt phân cảnh giữa Marguerite và ông cụ Duval, Lena khóc sướt mướt không ngừng, còn tôi thì ngồi bất lực chẳng thể ngăn chặn chương hồi tình yêu đồng quê ấy đi đến hồi kết, lòng nơm nớp lo sợ sự trở lại của chàng trai trẻ mà niềm hạnh phúc vô biên sắp sửa trở thành thước đo cho sự sụp đổ của anh.

Tôi đoán chẳng có người phụ nữ nào lại có ngoại hình, giọng nói và khí chất xa lạ với nàng tiểu thư đầy sức hút trong tiểu thuyết của Dumas hơn nữ diễn viên kỳ cựu đã lần đầu tiên dắt tay tôi bước vào thế giới ấy. Cách diễn giải nhân vật của bà cũng nặng nề và cứng nhắc hệt như cách phát âm của bà; bà nhấn rất mạnh vào ý tứ và vào từng phụ âm. Lúc nào bà cũng bi kịch hóa vấn đề, bị gặm nhấm bởi sự cắn rứt khôn nguôi. Sự nhẹ nhàng trong cách nhấn nhá hay cử chỉ là những thứ xa vời đối với bà. Giọng bà trầm và vang đặc: “Ar-r-r-mond!”—bà thường cất lời như thể đang triệu hồi anh ra trước vành móng ngựa phiên tòa phán quyết. Thế nhưng chừng đó câu thoại là đã quá đủ rồi. Bà chỉ việc thốt lên chúng. Bản thân những câu thoại ấy đã tự khắc tạc nên hình hài nhân vật dẫu cho phong cách của bà có ra sao.

Thế giới vô tình mà Marguerite tái gia nhập cùng Varville chưa từng rực rỡ và bất kham đến thế như trong đêm tụ hội tại phòng khách của Olympe ở màn thứ tư. Tôi nhớ có những chùm đèn pha lê treo lơ lửng trên trần, rất nhiều gia nhân mặc đồng phục, những bàn bạc mà ở đó đàn ông sát phạt nhau bên những chồng tiền vàng, và một chiếc cầu thang lớn nơi các vị khách bước vào. Sau khi tất cả đã tề tựu quanh các bàn chơi bài và chàng Duval trẻ tuổi bị Prudence cảnh cáo, Marguerite bước xuống cầu thang cùng Varville; một chiếc áo choàng tuyệt mỹ, một chiếc quạt tuyệt mỹ, những món trang sức lộng lẫy—và gương mặt của nàng! Chỉ nhìn thoáng qua là người ta đủ hiểu tình trạng của nàng ra sao. Khi Armand, với câu nói lạnh gạt đầy căm hận: “Tất cả hãy nhìn đây, tôi chẳng nợ người phụ nữ này bất cứ thứ gì!”, ném những đồng vàng và tiền giấy vào người Marguerite đang lả đi vì ngất lịm, Lena liền co rúm người lại bên cạnh tôi và lấy hai tay che kín mặt.

Tấm màn vén lên khung cảnh phòng ngủ. Đến lúc này thì trong người tôi chẳng còn dây thần kinh nào là không bị xoắn quặn lại. Riêng Nanine thôi cũng đủ khiến tôi phải khóc rồi. Tôi đem lòng yêu mến Nanine tha thiết; còn Gaston, người ta mới gắn bó xiết bao với anh chàng tốt bụng ấy làm sao! Món quà năm mới xem ra vẫn chưa quá nhiều; lúc này thì chẳng có gì là quá mức nữa cả. Tôi khóc nức nở không kìm nén được. Ngay cả chiếc khăn tay đút ở túi áo ngực, vốn diện cho oai chứ chẳng đời nào đem ra dùng, cũng đã ướt sũng từ lúc nào khi người phụ nữ cận kề cái chết ấy gục ngã lần cuối cùng vào vòng tay người tình.

Khi chúng tôi ra đến cửa nhà hát, ngoài phố trời đang mưa lấp loáng. Tôi đã cẩn thận mang theo chiếc ô dự phòng hữu ích mà bà Harling tặng nhân lễ tốt nghiệp, và che chắn cho Lena đi về dưới mái ô ấy. Đưa cô về xong, tôi thong thả đi bộ ra vùng ngoại ô nơi tôi ở. Hoa tử đinh hương đang nở rộ khắp các khoảng sân, và hương thơm sau cơn mưa của chúng, hòa quyện giữa lá non và những chùm hoa, phả vào mặt tôi mang theo một thứ vị ngọt đắng khó tả. Tôi lội qua những vũng nước và dưới những tán cây còn đọng hạt mưa, lòng tiếc thương cho Marguerite Gauthier cứ như thể nàng vừa mới qua đời ngày hôm qua, thở dài với tâm hồn của năm 1840—thứ tâm hồn đã từng thở dài biết bao lần, và giờ đây đã chạm đến tôi sau ngập tràn năm tháng cùng bao ngôn từ khác biệt, qua hình hài của một nữ diễn viên già nua gầy guộc. Đó là tư tưởng mà chẳng hoàn cảnh nào có thể vùi dập được. Dù ở bất cứ nơi đâu và vào bất cứ lúc nào vở kịch ấy được dựng lên, thì khi đó đều là tháng Tư.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Willa Cather

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.