Ántonia Của Tôi

Lượt đọc: 69 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii

❊ ❊ ❊

Khi tôi tỉnh giấc vào buổi sáng, những dải nắng dài chiếu qua cửa sổ, vươn tận vào góc khuất dưới mái hiên nơi hai đứa trẻ đang nằm. Leo đã tỉnh hẳn và đang dùng một bông hoa cúc dại khô nhặt từ đống cỏ khô để cù vào chân người anh. Ambrosch đá chân ra rồi lợ mình quay người đi. Tôi nhắm mắt lại, vờ như hãy còn ngủ. Leo nằm ngửa, giơ một chân lên và bắt đầu cử động các ngón chân. Cậu nhặt những bông hoa khô bằng ngón chân rồi khua khoắn chúng trong vạt nắng. Sau khi tự vui đùa như thế một lúc, cậu chống một khuỷu tay ngồi dậy và bắt đầu nhìn tôi, vẻ thận trọng, rồi săm soi, chớp chớp mắt dưới ánh sáng. Biểu cảm của cậu thật buồn cười; nó phớt lờ tôi một cách nhẹ bẫng. "Lão già này cũng chẳng khác gì người khác. Lão có biết bí mật của tôi đâu." Cậu có vẻ ý thức được rằng mình có khả năng tận hưởng niềm vui nhạy bén hơn những người khác; sự nhận biết nhanh nhạy khiến cậu vô cùng thiếu kiên nhẫn trước những đánh giá chậm chạp, chín chắn. Cậu luôn biết mình muốn gì mà chẳng cần phải suy nghĩ.

Sau khi mặc quần áo xong ngay trên đống cỏ khô, tôi ra cối xay gió rửa mặt bằng nước lạnh. Bữa sáng đã dọn sẵn lúc tôi bước vào nhà, và Yulka đang nướng bánh rán chảo. Ba người con lớn đã lên đường ra đồng từ sớm. Leo và Yulka sẽ lái xe ra thị trấn để đón bố, người sẽ trở về trên chuyến tàu buổi trưa.

Ántonia nói: "Trưa nay chúng ta chỉ ăn tạm bữa trưa thôi, rồi tối nay sẽ làm thịt ngỗng khi bố các con về đến nhà. Em ước gì con Martha của chị xuống thăm anh được. Nhà chúng nó giờ có xe hơi Ford rồi, nên nó trông không còn ở xa chị như trước nữa. Nhưng chồng nó lại cứ phát cuồng vì thửa ruộng và mọi thứ cứ phải thật hoàn hảo cơ, thế nên chúng nó hầu như chẳng bao giờ đi đâu được trừ ngày Chủ nhật. Thằng bé ấy khôi ngô lắm, và rồi sau này nó sẽ giàu cho mà xem. Bất cứ việc gì vào tay nó đều xuôi chèo mát mái cả. Khi chúng bế đứa bé vào đây và bóc lớp khăn quấn ra, trông nó cứ như một vị tiểu vương tử vậy; Martha chăm con khéo lắm. Chị nguôi ngoai chuyện nó ở xa mình rồi, nhưng dạo đầu thì chị cứ khóc lóc cứ như đang tẩm liệm đem chôn nó không bằng."

Chúng tôi chỉ có hai người trong bếp, trừ Anna đang đổ kem vào thùng đánh bơ. Con bé ngẩng lên nhìn tôi. "Vâng, mẹ khóc thật đấy ạ. Tụi cháu chỉ thấy xấu hổ vì mẹ thôi. Mẹ cứ đi quanh và khóc lóc, trong khi Martha thì hạnh phúc biết bao, còn tụi cháu thì ai nấy đều vui mừng. Chú Joe quả thực rất kiên nhẫn với mẹ đấy, mẹ ạ."

Ántonia gật đầu và mỉm cười một mình. "Chị biết thế là ngốc nghếch, nhưng chị không sao kìm được. Chị cứ muốn con bé ở ngay đây cơ. Nó chưa từng rời xa chị một đêm nào từ khi sinh ra cho tới lúc ấy. Nếu ngày trước Anton gây sự khó dễ về con bé khi nó còn là đứa trẻ sơ sinh, hoặc bắt chị phải để nó lại cho mẹ chị nuôi, thì chị đã chẳng thèm lấy anh ấy. Chị không thể làm thế được. Nhưng anh ấy luôn thương yêu con bé như con đẻ của chính mình vậy."

Anna bảo tôi: "Thậm chí cháu còn chẳng biết Martha không phải là chị cùng cha cùng mẹ với cháu cho đến tận khi chị ấy đính hôn với chú Joe cơ."

Đầu giờ chiều, chiếc xe ngựa chở người cha và người con trai cả trỗi bánh về đến nơi. Tôi đang đứng hút thuốc ở vườn cây ăn trái, và khi tôi bước ra chào, Ántonia từ nhà chạy xồng xộc xuống ôm chầm lấy hai cha con như thể họ đã đi vắng cả mấy tháng trời.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, "bố" đã thu hút sự chú ý của tôi. Ông thấp hơn những người con trai lớn; một người đàn ông nhỏ thó, nhàu nhĩ, với đôi gót giày mòn vẹt, và một bên vai cao hơn bên kia. Nhưng ông di chuyển rất nhanh nhẹn, toát lên một vẻ sống động, phơi phói. Ông có làn da khỏe khoắn, hồng hào, mái tóc đen dày điểm xuyết chút bạc, bộ râu mép xoăn và đôi môi đỏ thắm. Nụ cười hé lộ hàm răng chắc khỏe mà người vợ vô cùng tự hào, và khi trông thấy tôi, đôi mắt lém lỉnh, tinh anh của ông như mách bảo rằng ông đã biết rõ mọi chuyện về tôi. Trông ông tựa như một triết gia hài hước, người đã trĩu một bên vai gánh chịu những nhọc nhằn của cuộc đời, nhưng vẫn ung dung tiến bước và tận hưởng niềm vui bất cứ khi nào có thể. Ông bước tới bắt tay tôi, một bàn tay chai sạn, rám nắng ở mu bàn tay và phủ đầy lông lá. Ông mặc bộ đồ diện Chủ nhật rất dày và nóng bức giữa thời tiết này, chiếc áo sơ mi trắng không ủi bột, và chiếc cà vạt màu xanh lấm chấm những đốm trắng lớn như của một đứa trẻ, thắt thành một chiếc nơ buông xõa. Cuzak liền bắt đầu kể ngay về kỳ nghỉ của mình—vì phép lịch sự, ông nói bằng tiếng Anh.

"Này má, ước gì má thấy người ta biểu diễn múa trên dây chùng ngoài phố vào ban đêm ấy. Họ chiếu thứ ánh sáng rực rỡ vào cô ấy và cô ấy bồng bềnh trôi giữa không trung đẹp lắm, cứ như một chú chim vậy! Họ có cả gấu nhảy múa, giống như ở bên quê nhà hồi xưa ấy, rồi hai ba cái đu quay, rồi cả người ta bay bằng khinh khí tượng nữa, cái mà cậu gọi là bánh xe lớn ấy là gì hả Rudolph?"

Rudolph cất giọng nam trung trầm vang lên tham gia vào câu chuyện: "Một vòng quay Ferris ạ." Cậu cao một mét tám mươi bảy, với lồng ngực như của một thợ rèn trẻ tuổi. "Tối hôm qua tụi con đã đến dự buổi nhảy múa lớn ở phòng khiêu vũ phía sau quán rượu đấy mẹ ạ, và con đã nhảy với tất cả các cô gái, bố cũng vậy. Con chưa từng thấy nhiều cô gái xinh đẹp đến thế. Quả thực là một đám đông người Bohemia chính hiệu. Tụi con chẳng nghe thấy một từ tiếng Anh nào ngoài đường phố cả, ngoại trừ từ những người làm nghệ thuật biểu diễn, phải không bố?"

Cuzak gật đầu. "Và rất nhiều người gửi lời thăm hỏi đến em đấy, Ántonia. Anh xin phép em nhé"—ông quay sang tôi—"nửa anh kể cho cô ấy nghe." Trên đường đi về phía nhà, ông kể lại những sự cố và chuyển lời nhắn bằng thứ ngôn ngữ mà ông nói một cách trôi chảy, còn tôi tụt lại phía sau một chút, tò mò muốn biết mối quan hệ của họ đã trở nên ra sao—hoặc vẫn duy trì như thế nào. Hai người có vẻ đối xử với nhau rất đỗi thân thiện, thoải mái, vương chút nét hài hước. Rõ ràng, bà là ngọn nguồn của sự thúc đẩy, còn ông là người kìm hãm, điều chỉnh. Khi họ bước lên dốc, ông cứ liếc nhìn sang vợ từ khóe mắt để xem bà có hiểu ý mình không, hoặc bà đón nhận nó ra sao. Lúc sau tôi để ý thấy ông luôn nhìn mọi người từ khóe mắt, giống như một con ngựa kéo xe nhìn bạn cày của nó vậy. Ngay cả khi ngồi đối diện tôi trong bếp trò chuyện, ông cũng xoay đầu hơi hướng về phía chiếc đồng hồ hay cái lò sưởi và nhìn tôi bằng khóe mắt, nhưng với vẻ bộc trực và hòa nhã. Mẹo nhỏ này không gợi lên sự giả dối hay giấu giếm, mà chỉ là thói quen lâu ngày, hệt như loài ngựa vậy.

Ông mang về một tấm ảnh thiếc chụp chung giữa ông và Rudolph để bổ sung vào bộ sưu tập của Ántonia, cùng mấy túi kẹo giấy cho lũ trẻ. Ông có vẻ hơi thất vọng khi vợ đưa cho xem hộp kẹo lớn mà tôi đã mua ở Denver—bà đã không cho lũ trẻ đụng vào tối hôm trước. Ông cất hộp kẹo của mình vào chạn bát, "để dành cho lúc trời mưa," rồi liếc nhìn chiếc hộp, cười khúc khích. Ông nói: "Chắc là anh phải nghe chuyện gia đình tôi đâu có ít con rồi chứ nhỉ."

Cuzak ngồi xuống sau lò sưởi, vừa thích thú quan sát đám phụ nữ trong nhà vừa chú ý đến mấy đứa trẻ nhỏ. Hiển nhiên là ông thấy chúng vừa dễ thương vừa buồn cười. Ông vừa đi khiêu vũ với các cô gái về và quên béng mất rằng mình đã là một lão già, để rồi giờ đây chính gia đình lại khiến ông ngạc nhiên; ông có vẻ thấy việc ngần ấy đứa con đều thuộc về mình là một điều buồn cười. Khi những đứa nhỏ rón rén đến gần ông ở góc khuất, ông liên tục lấy từ trong túi ra đủ thứ đồ chơi; những con búp bê bằng giấy, một tên hề gỗ, một con heo bóng bay được thổi phồng bằng còi. Ông ra hiệu cho đứa con trai nhỏ tên là Jan, thì thầm với nó, rồi nhẹ nhàng tặng nó một con rắn giấy để không làm nó giật mình. Nhìn qua đầu thằng bé, ông bảo tôi: "Thằng này nhát lắm. Hay bị bỏ quên thế đấy."

Cuzak mang về nhà một cuộn báo tiếng Bohemia có hình minh họa. Ông mở ra và bắt đầu kể cho vợ nghe những tin tức, phần lớn dường như xoay quanh một người nào đó. Tôi nghe thấy cái tên Vasakova, Vasakova, được lặp đi lặp lại nhiều lần với vẻ đầy hứng thú, và chẳng mấy chốc tôi hỏi ông có phải đang nói về nữ danh ca Maria Vasak không.

Ông ngạc nhiên hỏi ngược lại: "Cậu biết ư? Có lẽ cậu đã nghe cô ấy hát rồi à?" Khi tôi quả quyết rằng mình từng nghe cô ấy biểu diễn, ông liền chỉ vào bức ảnh của cô và kể rằng Vasak đã bị gãy chân khi leo núi ở dãy Alps thuộc Áo, nên không thể thực hiện các hợp đồng biểu diễn được nữa. Ông tỏ ra vô cùng thích thú khi biết tôi từng nghe cô hát ở Luân Đôn và Viên; liền lấy tẩu ra châm thuốc để thưởng thức câu chuyện của chúng tôi trọn vẹn hơn. Cô ấy xuất thân từ vùng quê của ông ở Prague. Cha của ông từng hay đóng giày giúp cô thời cô còn là sinh viên. Cuzak gặng hỏi tôi đủ điều về dung mạo, độ nổi tiếng và giọng hát của cô; nhưng ông đặc biệt muốn biết liệu tôi có để ý đến đôi bàn chân nhỏ xíu của cô không, và có nghĩ rằng cô tích cóp được nhiều tiền không. Dĩ nhiên cô ấy là người phóng túng, xài sang, nhưng ông vẫn mong cô đừng vung tay quá trán để rồi lúc tuổi già sức yếu chẳng còn lại gì. Hồi còn trẻ làm việc tại Wienn, ông từng chứng kiến không ít nghệ sĩ tuổi già bóng xế mà nghèo túng, phải nhấm nháp một cốc bia suốt cả buổi tối, và "thế thì chẳng hay ho gì cho cam."

Khi mấy đứa con trai đi vắt sữa và cho gia súc ăn trở về, chiếc bàn dài đã được dọn sẵn, và hai con ngỗng nâu nhồi táo được bưng ra, hãy còn xèo xèo bốc khói trước mặt Ántonia. Bà bắt đầu cắt thịt, và Rudolph ngồi cạnh mẹ liền chuyền những chiếc đĩa đi. Khi mọi người đã được phục vụ đầy đủ, cậu nhìn ngang qua bàn về phía tôi.

– Dạo này ông có ghé qua Black Hawk không, thưa ông Burden? Thế thì chắc ông đã nghe chuyện về gia đình Cutter rồi chứ?

Không, tôi chẳng hề nghe ngóng được gì về họ cả.

– Vậy con phải kể cho ông nghe chứ, con trai, dù rằng nói về chuyện đó trong bữa tối thật là kinh khủng. Nào, tất cả các con giữ im lặng để anh Rudolph kể chuyện án mạng nhé.

– Hoan hô! Chuyện án mạng cơ à! – lũ trẻ thì thầm, vẻ thích thú và hào hứng.

Rudolph kể lại câu chuyện của mình một cách hết sức chi tiết, thỉnh thoảng có sự nhắc nhở, bổ sung từ bố hoặc mẹ.

Wick Cutter và vợ vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà mà Ántonia và tôi quá đỗi quen thuộc, theo cái cách mà chúng tôi cũng vô cùng tường tận. Họ dần trở thành những người già lom khom. Ántonia kể rằng ông ta teo tóp lại đến mức trông giống như một con khỉ vàng nhỏ tuổi, bởi vì bộ râu và chòm tóc viền quanh đầu ông ta chẳng bao giờ đổi màu. Bà Cutter vẫn giữ nguyên vẻ mặt phừng phừng đỏ gay cùng đôi mắt dại hoang dã như thuở nào, nhưng khi năm tháng trôi qua, bà mắc phải căn bệnh liệt rung khiến cái đầu cứ gật liên hồi không dứt thay vì thỉnh thoảng mới gật. Bôi tay bà run rẩy đến mức tội nghiệp thay, chẳng thể nào vẽ vời trang trí lên đồ sứ được nữa! Khi đôi vợ chồng già đi, họ ngày càng cãi vã nhiều hơn về việc phân định khối "tài sản" của mình sau khi qua đời. Bang nhà vừa thông qua một bộ luật mới, bảo đảm cho người vợ sống sót được hưởng một phần ba điền trang của chồng trong mọi hoàn cảnh. Cutter bị ám ảnh bởi nỗi sợ rằng vợ mình sẽ sống thọ hơn ông ta, và rồi rốt cuộc họ hàng bên nhà vợ—những kẻ mà ông ta vẫn luôn căm ghét cay đắng—sẽ là người thừa kế. Những cuộc cãi vã về vấn đề này vượt qua cả hàng rào rậm rạp của những bụi tuyết tùng, vang vọng ra tận ngoài đường cho bất kỳ ai muốn la cà dừng chân lắng nghe.

Một buổi sáng, cách đây hai năm, Cutter bước vào cửa hàng kim khí và mua một khẩu súng lục, miệng nói rằng ông ta chuẩn bị bắn một con chó, rồi bồi thêm rằng ông ta "tiện thể định bắn luôn một con mèo già." (Đến đây lũ khúc khích cười ngắt quãng câu chuyện của Rudolph).

Cutter đi ra phía sau cửa hàng kim khí, dựng một tấm bia lên, tập bắn chừng một tiếng đồng hồ rồi đi về nhà. Vào lúc sáu giờ tối hôm đó, khi mấy người đàn ông đang đi ngang qua nhà Cutter trên đường trở về ăn tối, họ nghe thấy tiếng súng nổ. Họ khựng lại, ngơ ngác nhìn nhau đầy ngờ vực, thì một tiếng súng nữa lại đanh vang phá nát ô cửa sổ lầu trên. Họ lao vào nhà và phát hiện Wick Cutter đang nằm trên chiếc ghế dài ở phòng ngủ trên gác, cổ bị xé rách toạc, máu chảy đầm đìa lên cuộn ga giường mà ông ta đã đặt sẵn bên cạnh đầu.

Ông ta thều thào cất tiếng: "Mời vào, các quý ông. Các anh thấy đấy, tôi vẫn còn sống và hoàn toàn tỉnh táo. Các anh là nhân chứng cho thấy tôi đã sống sót qua đời vợ tôi. Các anh sẽ tìm thấy bà ấy ở phòng riêng. Xin hãy tiến hành kiểm tra ngay lập tức để không có sự nhầm lẫn nào xảy ra."

Một người hàng xóm gọi điện thoại tìm bác sĩ, trong khi những người khác bước vào phòng của bà Cutter. Bà đang nằm trên giường, mặc váy ngủ và áo choàng, bị đạn bắn xuyên qua tim. Chắc hẳn người chồng đã lẻn vào trong lúc bà đang ngủ trưa và bắn hạ bà, ghì sát khẩu súng lục vào ngực vợ. Chiếc váy ngủ của bà đã bị sức ép từ thuốc súng làm choém cháy.

Những người hàng xóm bàng hoàng vội vã chạy quay lại chỗ Cutter. Ông ta mở mắt và cất giọng rõ mồn một: "Bà Cutter đã chết hẳn rồi các ngơi ạ, và tôi thì vẫn còn ý thức. Mọi chuyện hậu sự của tôi đều đã đâu vào đấy." Rồi, như Rudolph kể, "ông ta buông xuôi và chết."

Trên bàn làm việc của ông ta, viên điều tra tử thi tìm thấy một bức thư đề ngày lúc năm giờ chiều hôm đó. Bức thư nêu rõ rằng ông ta vừa mới bắn chết vợ mình; rằng bất kỳ di chúc nào mà bà có lén lút lập ra đi chăng nữa cũng sẽ không có hiệu lực, bởi vì ông ta là người sống sót sau vợ. Ông ta định tự sát vào lúc sáu giờ và sẽ bắn một phát đạn xuyên qua cửa sổ—nếu còn đủ sức lực—với hy vọng rằng những người qua đường sẽ nghe thấy mà chạy vào xem xét "trước khi hơi thở cuối cùng vụt tắt," như lời ông ta đã viết.

– Nào, thử hỏi có ai lại nghĩ một con người lại mang tâm địa độc ác đến thế không? – Ántonia quay sang tôi sau khi câu chuyện kết thúc. – Lại đi tước đoạt của người phụ nữ tội nghiệp ấy bất kỳ sự an ủi nào mà bà ấy đáng lẽ có thể nhận được từ số tiền của ông ta sau khi ông ta nhắm mắt xuôi tay!

– Ông đã từng nghe thấy ai tự sát chỉ vì thù hằn chưa, thưa ông Burden? – Rudolph hỏi.

Tôi đành thừa nhận là chưa. Bất kỳ luật sư nào cũng được học đi học lại rằng lòng căm thù có thể trở thành một động cơ mạnh mẽ đến nhường nào, thế nhưng trong bộ sưu tập những giai thoại pháp lý của tôi lại chẳng có câu chuyện nào sánh kịp câu chuyện này. Khi tôi hỏi khối tài sản trị giá bao nhiêu, Rudolph đáp rằng nó nhỉnh hơn một trăm nghìn đô-la một chút.

Cuzak liếc nhìn tôi đầy tinh nghịch từ khóe mắt. Ông vui vẻ nói: "Mấy ông luật sư chắc chắn vớ được một mẻ lớn rồi."

Một trăm nghìn đô-la; hóa ra đó chính là cơ ngơi đã được chắt bóp từng chút một bằng những mánh khóe buôn bán cay nghiệt biết bao, và rốt cuộc chính Cutter cũng phải chết vì nó!

Sau bữa tối, Cuzak cùng tôi dạo bước trong vườn cây ăn trái và ngồi xuống bên cối xay gió để hút thuốc. Ông kể cho tôi nghe câu chuyện đời mình cứ như thể việc biết đến nó là bổn phận của tôi vậy.

Cha ông là một thợ đóng giày, bác ông là thợ mồ hông (làm đồ lông thú), và vì là con trai út, ông được gửi đi học nghề theo nghiệp của người bác. Làm việc cho họ hàng thì chẳng bao giờ khá lên được, ông bảo vậy, thế nên khi đã thành thợ cả, ông đến Vienna làm việc tại một cửa hàng lông thú lớn và kiếm được kha khá tiền. Nhưng một gã thanh niên thích hưởng thụ thì chẳng tài nào tích cóp được gì ở Vienna; có quá nhiều cách vui chơi thú vị để đốt sạch vào mỗi đêm số tiền kiếm được ban ngày. Sau ba năm ở đó, ông đến New York. Do bị xúi giục tồi, ông nhận làm việc trong các xưởng lông thú giữa lúc đang có một cuộc đình công mà các xưởng đang trả mức lương rất cao. Phe đình công giành chiến thắng, và Cuzak bị đưa vào danh sách đen. Sẵn có trong tay vài trăm đô-la tiết kiệm, ông quyết định đến Florida để trồng cam. Từ lâu ông vẫn luôn nghĩ rằng mình rất thích trồng cam! Năm thứ hai, một đợt sương giá khắc nghiệt đã tiêu diệt cả khu vườn non trẻ của ông, rồi ông lại ngã bệnh vì sốt rét. Ông đến Nebraska để thăm người họ hàng Anton Jelinek và tìm hướng đi mới. Khi bắt đầu rảo mắt tìm kiếm xung quanh, ông nhìn thấy Ántonia, và cô chính xác là mẫu người phụ nữ mà ông hằng tìm kiếm bấy lâu. Họ cưới nhau ngay lập tức, dẫu ông phải mượn tiền của người anh họ mới đủ mua nhẫn cưới.

– Khởi nghiệp khai phá mảnh đất này và làm cho những vụ mùa đầu tiên đơm hoa kết trái quả là một công việc vô cùng gian nan, – ông nói, đẩy lùi chiếc mũ ra sau và gãi mái tóc điểm bạc. – Có những lúc tôi thấy phát bực với mảnh đất này và chỉ muốn bỏ quách đi cho rồi, nhưng vợ tôi cứ luôn miệng bảo rằng tụi mình tốt hơn hết là nên cố bám trụ lấy nó. Lũ trẻ cứ lần lượt ra đời khá nhanh, thành thử ra trông thế nào đi nữa việc chuyển đi cũng có vẻ khó khăn. Tôi đoán chắc là cô ấy đã đúng. Giờ thì chúng ta đã trả hết nợ mảnh đất này rồi. Hồi đó chúng ta chỉ mua có hai mươi đô-la một mẫu, thế mà giờ đã có người ngã giá tới một trăm đô-la. Mười năm trước chúng ta mua thêm một phần tư khoảnh nữa, và cũng đã trả gần hết tiền rồi. Chúng ta có đông con trai; chúng ta có thể canh tác được một diện tích đất lớn. Phải, cô ấy quả là một người vợ tốt đối với một người đàn ông nghèo khó. Mà cô ấy cũng đâu có quá khắt khe với tôi bao giờ. Thỉnh thoảng có khi tôi la cà uống hơi quá chén bia ngoài thị trấn, nhưng lúc về nhà cô ấy chẳng hề nặng lời một tiếng. Cô ấy chẳng tra khảo tôi điều gì cả. Vợ chồng chúng tôi vẫn luôn sống với nhau rất êm ấm, y như thuở ban đầu vậy. Lũ trẻ chẳng gây xích mích sứt mẻ tình cảm giữa chúng tôi như thỉnh thoảng vẫn xảy ra ở những nhà khác. – Ông châm thêm một tẩu thuốc khác và hít một hơi thật thỏa mãn.

Tôi nhận thấy Cuzak là một người bạn đồng hành vô cùng hợpạ. Ông hỏi tôi rất nhiều câu hỏi về chuyến hành trình qua xứ Bohemia, về Vienna, đại lộ Ringstrasse cùng những nhà hát.

– Trời đất! Tôi rất thích được quay lại đó một lần nữa, khi nào lũ con trai đủ lớn để tự canh tác mảnh đất này. Thỉnh thoảng khi đọc những tờ báo gửi từ quê nhà sang, tôi suýt chút nữa thì trốn về đấy mất, – ông thú nhận với một tiếng cười nhỏ. – Tôi chưa từng nghĩ có ngày mình lại trở thành một người đàn ông an phận thế này.

Như Ántonia đã nói, ông vẫn mang bản chất của một người thành thị. Ông thích nhà hát, những con phố rực rỡ ánh đèn, âm nhạc và những ván cờ đô-mi-nô sau một ngày làm việc vất vả. Bản tính thích giao du xã hội của ông lấn át cả bản năng tích lũy của cải. Ông thích sống trọn từng ngày từng đêm, hòa mình vào sự náo nhiệt của đám đông. Thế nhưng vợ ông vẫn xoay sở giữ chân được ông ở lại nơi trang trại này, tại một trong những vùng đất quạnh hiu nhất trên thế giới.

Tôi có thể hình dung ra anh chàng nhỏ thó ấy, tối nào cũng ngồi đây bên chiếc cối xay gió, nhấm nháp chiếc tẩu thuốc và lắng nghe sự tĩnh mịch; tiếng cọt kẹt của chiếc máy bơm, tiếng ục ục của lũ heo, thỉnh thoảng là vài tiếng kêu quang quác khi bầy gà bị con chuột cống làm cho hoảng sợ. Nhìn lại, tôi cứ có cảm giác Cuzak đã trở thành công cụ cho sứ mệnh đặc biệt của Ántonia. Đây quả là một cuộc sống tốt đẹp, điều đó không thể chối cãi, nhưng nó lại chẳng phải kiểu đời mà ông từng ao ước được sống. Tôi tự hỏi liệu cuộc đời vốn dĩ đúng đắn với một người thì có bao giờ lại đúng đắn khi dành cho hai người hay không!

Tôi hỏi Cuzak xem ông có thấy khó khăn lắm không khi phải sống thiếu vắng bầu không khí vui tươi, nhộn nhịp mà ông đã quen thuộc từ lâu. Ông gõ tẩu thuốc vào một thanh cột, thở dài rồi đút nó vào túi áo.

– Hồi đầu tôi suýt phát điên vì cô đơn đấy, – ông thành thật nói, – nhưng người phụ nữ của tôi lại có một trái tim vô cùng ấm áp. Cô ấy luôn cố gắng làm mọi điều tốt nhất có thể cho tôi. Giờ thì đỡ hơn nhiều rồi; tôi đã bắt đầu có thể vui đùa thỏa thích với mấy đứa con trai của mình rồi đây!

Khi chúng tôi rảo bước quay về nhà, Cuzak hiên ngang đội chiếc nghiêng nghiêng lệch về một bên tai và ngước nhìn lên mặt trăng. Ông thì thầm với giọng trầm ấm, cứ như vừa mới tỉnh giấc sau một giấc mơ: – Trời ạ! Cứ như thể tôi chưa từng rời xa nơi đó suốt hai mươi sáu năm trời vậy!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Willa Cather

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.