Thung lũng Lửa từng là chốn dung thân của giống người vượn. Trong chuyến đi trước, Walt và Chet đã chạm trán chúng, từng giao tranh với bộ tộc ấy, rồi có dạo náu mình trong những hang đá phủ bóng đen thẫm trên vách núi cao. Họ thừa biết thứ gỗ lũ người vượn dùng làm giáo mác cũng rất thích hợp để đẽo cung tên.
Quay lại hang, họ tìm thấy vài ngọn giáo cũ bị vứt bỏ cùng một bó gỗ vốn được gom về làm cán giáo. Chất gỗ vừa dai, vừa đàn hồi lại uốn cong dễ dàng, việc gọt giũa chúng thành những món vũ khí hữu dụng chẳng mấy khó khăn. Gân thú lớn do người vượn xé ra được tận dụng làm dây cung, còn những nhánh cây thon nhỏ khác thì họ khía đuôi rồi hơ lửa vót nhọn làm tên.
Thế nhưng, khi đôi tay thoăn thoắt làm việc, một nỗi chán chường ủ ê bất giác bóp nghẹt tâm can Chet. Nghĩ sao mà giờ đây họ lại phải cặm cụi đẽo gọt mấy thứ vũ khí thô sơ nhường này—để chật vật tự vệ trước muôn vàn hiểm hoạ của một thế giới hoang sơ, tàn khốc! Không, chuyện này không thể là thật được... Dẫu lòng gào thét chối từ, anh vẫn hiểu mọi sự đã rồi.
Không biết bao nhiêu lần anh tự vấn liệu hành động bốc đồng trong cơn tuyệt vọng vừa rồi có phải một sai lầm khủng khiếp hay không. Nhưng câu trả lời nhận về trước sau như một: đó là lựa chọn duy nhất. Nếu lao vào Schwartzmann, anh chắc chắn sẽ mất mạng—và Walt cũng không thoát! Rồi Diane sẽ rơi vào tay gã. Chỉ có cú sốc kinh hoàng khi thấy bàn điều khiển nát vụn mới ghìm cương nổi Schwartzmann. Không, chẳng còn con đường nào khác. Ván đã đóng thuyền. Một dấu chấm hết vĩnh viễn, không thể đảo ngược!
Chet bước ra cửa hang, đăm đăm nhìn xuống con tàu nằm dưới đáy thung lũng. Từ miệng lỗ phun khí, từng cuộn khói xanh lấp lánh không ngừng tuôn trào cuồn cuộn, nuốt trọn cả phi thuyền. Tiếng Herr Kreiss cất lên bên cạnh; vị học giả cũng vừa bước tới để nhìn thêm một lần nữa.
"Kể cả nó có nằm dưới đáy biển sâu," ông nói, "thì việc tiếp cận cũng chẳng khó khăn hơn thế này là bao. Thực chất, nó đang chìm nghỉm dưới đáy một đại dương—đại dương chất độc. Thâm nhập vào một môi trường nước còn dễ thở hơn nhiều."
"Và," Chet trầm ngâm ngắt quãng, "giá như tôi có thể quay lại đó... Chỉ cần có thời gian—vài thanh kim loại—cùng mấy món đồ nghề tự chế—biết đâu tôi..."
Giọng anh nhỏ dần rồi tắt hẳn. Đoán già đoán non chuyện đã qua thì phỏng có ích gì. Nhà khoa học tiếp lời cho suy nghĩ còn dang dở của anh:
"Cậu có thể lắp ráp lại bộ điều khiển—phải, tôi cũng từng nghĩ đến nước ấy. Nhưng giờ thì đám khí ga kia đã bịt kín mọi ngả! Thôi—tốt nhất hãy gạt phăng ý nghĩ ấy đi, trừ phi chúng ta muốn phát điên."
Chet quay gót trở lại lòng hang tối tăm nồng nặc mùi xú uế. Anh thấy Harkness đang thử độ cong của cánh cung vừa làm cho Diane; Walt kiên nhẫn chỉ cho nàng cách cầm nắm sao cho mũi tên lao đi thanh thoát.
"Towahg là kẻ cuối cùng được tôi chỉ giáo đấy," Walt nói; nhìn những nếp nhăn hằn sâu trên mặt anh, Chet hiểu ngay anh chỉ đang cố tỏ ra thảnh thơi để Diane bớt sợ; "Chẳng biết thằng nhóc Towahg nhớ được bao lâu. Nó là một con vật nhỏ biết điều và giàu lòng hàm ơn."
"Towahg ư?" Kreiss thắc mắc. "Towahg là ai thế?"
"Một người vượn," Harkness đáp. "Một chú nhóc láu lỉnh và thân thiện; nó từng giúp bọn tôi một phen khi chúng tôi tới đây lần trước. Nhờ có nó mà Diane mới giữ được mạng, chuyện đó không cần bàn cãi. Tôi đã dạy nó cách bắn cung; coi như giúp giống loài của nó nhảy cóc cả trăm thế hệ về nghệ thuật tự vệ."
"Và cả nghệ thuật tấn công nữa!" Kreiss chêm vào. "Vũ trang cho một kẻ thù tiềm tàng bao giờ cũng kèm theo những mối họa."
"Ồ, Towahg thì lành lắm," Harkness trấn an nhà khoa học, "dù có thể nó đã truyền ngón nghề này cho những kẻ khác trong bộ tộc vốn chẳng mấy thiện chí."
"Lũ người ấy ở đâu? Họ sống về hướng nào?" Kreiss gặng hỏi tiếp.
"Bộ tính đến thăm hỏi xã giao hả giáo sư?" Chet bỡn cợt. "Ở trên này thì chẳng cần câu nệ mấy chuyện lễ nghi ấy đâu, Tiến sĩ."
Nhưng bộ não của Herr Doktor Kreiss dường như thiếu hẳn tế bào hài hước; ông xem câu nói đùa của Chet là thật. Câu trả lời của ông vô tình chạm đúng nỗi niềm sâu kín của Chet, khiến nụ cười trên môi anh chợt tắt ngấm.
"Không, không hề," Herr Kreiss đáp; "tôi muốn tránh xa thì có. Chúng ta đã kẹt lại đây; và sẽ phải chôn chân ở chốn này suốt quãng đời còn lại. Tôi chỉ mong những năm tháng ấy được yên thân. Tôi chẳng có bụng dạ nào đi gây hấn với đám cư dân nguyên thủy trên thiên thể này. Nơi đây còn bao điều cần khảo cứu, học hỏi. Tôi sẽ dùng phần đời còn lại cho việc đó.
"Thế bây giờ," ông hỏi, "chúng ta sẽ đi đâu? Đâu sẽ là chốn nương thân của chúng ta?"
Chet cũng đưa mắt nhìn Harkness đầy dò hỏi. "Cậu rành vùng này hơn tôi," anh gợi ý; "cậu tính sao?"
Bắt gặp ánh mắt âu lo trĩu nặng của Diane Delacouer, anh bèn tếu táo thêm:
"Chúng ta đang cần tìm một khu đất đắc địa để phân lô cao cấp, hiểu chứ. Phải là một nơi sang trọng, biệt lập, để còn sàng lọc bớt những phần tử kém văn minh. Thị trấn Dianeville chỉ dành riêng cho giới thượng lưu thôi đấy."
Thấy nét mặt ngơ ngác của nhà khoa học, Diane khẽ liếc Chet với nụ cười kín đáo đầy thích thú. Chet thầm thở phào vì mưu mẹo đã thành công: anh tuyệt đối không thể để Diane rơi vào tuyệt vọng. Harkness thong thả đáp:
"Tôi nhớ có một thung lũng; chắc tôi vẫn tìm lại được. Hồi Towahg dẫn đường cho tôi về tàu trong chuyến đi trước, tôi đã thấy một dải thung lũng nằm sau rặng đồi thứ ba. Cứ ngược lên Thung lũng Lửa, rồi men theo con suối đổ vào từ bên sườn—"
"Có nước ngọt chứ?" Chet hỏi dồn.
"Có; tôi thấy một cái hồ."
"Chỗ trú ẩn? Cây cối thế nào? Không phải mấy giống cây ăn thịt người đấy chứ?"
"Đủ cả: đất trống, đồi gò, rừng cây rậm rạp. Hồi ấy nhìn đã thấy mê; giờ thì lại càng quý hơn vàng," Walt hào hứng đáp.
"Đi nhanh lên nào," Chet giục, "tôi dẫm cả vào gót chân cậu rồi đây."
Họ xuống tới lòng thung lũng ở một điểm khá xa miệng phun khí và những đám mây độc; cuộc hành trình bắt đầu. Bài học từ đợt tấn công của lũ bò sát bay khiến họ không dám dại dột phơi mình giữa bãi đất trống, mà chỉ bám sát bìa rừng viền quanh thung lũng.
Có lúc Chet tách đoàn, lủi mất hút vào rặng cây, rồi lát sau quay lại với xác một con thú vắt ngang vai.
"Lợn mặt trăng đấy!" anh khoe với mọi người. "Muốn biết tông chi họ hàng hay chủng loài của nó thì cứ hỏi Tiến sĩ Kreiss. Tôi chỉ biết là nó có hai tảng đùi béo ngậy, và tôi sẽ nướng vài miếng lót dạ trước khi lên đường."
"Bằng cung tên đấy à?" Harkness hỏi.
Chet gật đầu. "Bách phát bách trúng," anh tự đắc, "miễn là trong cự ly ba mét. Cái con mặt mũi dị hợm này cứ đứng đực ra cho tôi ngắm, xem chừng chúng ta không lo chết đói rồi."
Mặt trời đã vọt nhanh lên đỉnh trời, soi bóng đứng bóng. Thế là nửa ngày ngắn ngủi đầu tiên của họ đã trôi qua. Lời đề nghị ăn uống của Chet nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình.
"Em vẫn chưa tin nổi chuyện này," Diane bộc bạch với hai người đàn ông; "nghĩ mà xem, thời gian như đang quay ngược lại với chúng ta. Chúng ta bị ném vào một thế giới mới hoang dại, phải sống như những người tiền sử của hàng ngàn năm trước. Ngay lúc này đây!—giữa năm một ngàn chín trăm bảy mươi ba!"
Chet nhấc tảng thịt vừa nướng chín trên miệng một lỗ phun khí nhỏ ra. "Năm một ngàn chín trăm bảy mươi ba dưới Trái Đất thôi," anh phụ họa, "chứ ở đây thì chắc đang là năm một vạn chín ngàn trước Công nguyên."
Anh cất tiếng gọi Kreiss lúc này đang mải mê bới móc một tầng đá mỏng. Vị học giả cầm trong tay một mảnh đá lửa sắc nhọn, cặm cụi nạy từng mảng vỉa quặng màu đỏ au.
"Đúng là cụ tổ Neanderthal tái thế!" Chet trêu. "Bác tìm thấy vàng hay bạc đấy? Dù là cái gì thì cũng đừng quên ăn trưa; lại đây xơi nhanh lên." Nhưng rõ ràng Tiến sĩ Kreiss lúc này đã hóa thân thành một nhà địa chất say nghề.
"Chu sa đấy," ông nói; "một loại quặng hydrargyrum!" Giọng ông đầy vẻ phấn khích, nhưng Chet chẳng mảy may bận tâm đến những thứ không thiết thực.
"Có ăn được không?" anh hỏi thẳng thừng.
"Nein, nein!" Kreiss xua tay. "Nó là thứ mà các anh vẫn gọi là thủy ngân đấy!"
"Thưa quý bà và quý ông," Chet mỉa mai, "tôi thấy ông Kreiss đây sẽ giúp ích được khối việc lớn đấy. Ông ấy vừa chọn xong địa điểm xây nhà máy nhiệt kế rồi. Chắc lát nữa ông ấy sẽ đứng ra thành lập luôn Phòng Thương mại cho mà xem."
Anh phần lại một miếng thịt chín cho Kreiss dùng sau, rồi cùng Harkness lấy lá gói kỹ số thịt còn lại, nhét chặt vào các túi áo khoác trước khi tiếp tục lên đường. Cả đoàn người lại rồng rắn cất bước dưới sự dẫn đường của Harkness.
"Hạn chế để lại dấu vết hết mức có thể," Harkness dặn dò. "Chúng ta không thể lạy ông tôi ở bụi này cho Schwartzmann biết đường mà lần theo."
Họ rời Thung lũng Lửa, men theo lòng suối cạn dẫn vào một hẻm núi nằm giữa những ngọn đồi sừng sững. Chet ngậm ngùi ngoái nhìn những vầng lửa bập bùng quen thuộc phía sau. Đó là nơi chốn duy nhất trên thế giới xa lạ này còn gợi cho anh chút cảm giác thân thuộc. Anh cứ ngoái đầu lại mãi, ngay cả khi những đụn khói lửa đã khuất dạng sau lưng; dẫu vậy, đến tận đáy lòng mình anh cũng không dám thừa nhận rằng mình quay đầu lại vì một lẽ khác.
Năm một ngàn chín trăm bảy mươi ba!—anh là đứa con của nền văn minh hiện đại. Thế nhưng sâu thẳm bên trong anh, những bản năng cổ xưa bỗng trỗi dậy mạnh mẽ—có lẽ là ký ức di truyền từ tổ tiên xa xôi. Và rồi, giữa tiếng bì bõm lội qua dòng suối nhỏ, khi đang cúi mình luồn qua những dây leo mang hình thù kỳ dị cùng những thân cây loang lổ như vảy hủi, một tiếng nói cảnh báo vô thanh bỗng dội lên trong tâm trí anh—như lời thì thầm vọng về từ tiền nhân thuở hàng trăm thế kỷ trước.
"Có kẻ đang bám theo mày!" tiếng nói cảnh giác. "Lắng tai mà nghe!—có kẻ đang lần theo dấu vết!"