Lòng biết ơn và sự phản bội kỳ thực chỉ là hai đầu của cùng một cuộc rước. Bạn đã thấy trọn vẹn những gì đáng chú ý nhất của nó khi ban nhạc và những viên chức diêm dúa đi qua.—Lịch của Pudd’nhead Wilson.
Ngày Lễ Tạ ơn. Giờ đây, xin tất cả hãy dâng lời tạ ơn khiêm nhường, thành kính và chân thành, ngoại trừ loài gà tây. Ở quần đảo Fiji, họ không dùng gà tây; họ dùng những kẻ sửa ống nước. Bạn và tôi không nên khinh miệt Fiji.—Lịch của Pudd’nhead Wilson.
Thứ Sáu sau kỳ bầu cử là một ngày mưa ở St. Louis. Trời mưa suốt cả ngày, mưa nặng hạt, dường như đang cố hết sức để gột rửa thị trấn ngập nhọ nồi này thành trắng sạch, nhưng tất nhiên là chẳng thành công. Gần nửa đêm, Tom Driscoll từ nhà hát trở về phòng trọ trong trận mưa như trút nước, anh gấp ô lại rồi bước vào nhà; nhưng khi vừa định khép cửa lại, anh phát hiện có một người khác đang bước vào—chắc hẳn là một vị khách trọ khác; người này khép cửa lại và lầm lũi bước lên lầu sau lưng Tom. Tom tìm cửa phòng mình trong bóng tối, bước vào và vặn đèn gas lên. Khi quay người lại, vừa khẽ huýt sáo, anh nhìn thấy bóng lưng của một người đàn ông. Người đó đang tự tay khép và khóa cửa phòng giùm anh. Tiếng huýt sáo của anh chợt tắt ngúm và anh cảm thấy bất an. Người đàn ông quay lại, hiện nguyên hình là một kẻ rách rưới với đống quần áo cũ kỹ, sủng nước và nhỏ giọt, để lộ ra gương mặt đen đúa bên dưới chiếc mũ sụp vành cũ nát. Tom hoảng sợ. Anh cố ra lệnh cho kẻ đó cút đi, nhưng cổ họng nghẹn đặc không thốt nên lời, và người kia đã giành phần trước. Lão cất giọng trầm trầm:
— Đứng yên—tao là mẹ mày đây!
Tom sụp xuống chiếc ghế một cách mềm nhũn và thều thào:
— Thật là đê tiện và hèn hạ—con biết chứ; nhưng con làm vậy vì muốn tốt cho mẹ thôi, thật đấy—con có thể thề mà.
Roxana đứng lặng một lúc nhìn xuống Tom trong khi anh oằn mình vì xấu hổ và tiếp tục lắp bắp những lời tự buộc tội đan xen với những nỗ lực đáng thương nhằm biện minh và làm giảm nhẹ tội lỗi của mình; rồi bà ngồi xuống, cởi mũ ra, và mái tóc nâu dài rối bù xõa tung xuống đôi vai.
— Đó chẳng phải lỗi tại mày khi mà mái tóc này không bạc phơ, —bà nói buồn bã, đưa tay chạm vào mái tóc.
— Con biết chứ, con biết chứ! Con là một tên vô loại. Nhưng con thề là con chỉ muốn tốt cho mẹ thôi. Đó quả là một sai lầm, nhưng con tưởng thế là tốt nhất, thật sự con đã nghĩ vậy.
Roxana bắt đầu khóc nghẹn ngào, và chẳng mấy chốc những lời nói cũng len lỏi thoát ra giữa những tiếng nấc. Chúng mang giọng điệu oán trách nhiều hơn là giận dữ:
— Bán một con người xuống tận miền hạ nguồn—xuống miền hạ nguồn!—vì muốn tốt cho tao ư! Tao thà đối xử với một con chó còn hơn! Giờ thì tao đã kiệt quệ và tơi tả lắm rồi, thế nên tao đoán trong người tao chẳng còn chút hơi sức nào để mà lồng lộn lên như hồi xưa khi tao bị giày vò và ngược đãi nữa. Tao không biết nữa—nhưng có lẽ là vậy. Dù sao đi nữa, tao đã chịu đựng quá nhiều đến nỗi giờ đây dường như việc than khóc lại hợp với tao hơn là gào thét.
Những lời này đáng lẽ phải làm rung động cõi lòng Tom Driscoll, nhưng nếu có, thì cảm xúc ấy đã bị lu mờ bởi một thứ mạnh mẽ hơn—thứ đã trút bỏ gánh nặng sợ đè nặng lên anh, mang lại cho tâm hồn suy sụp của anh một sự hồi phục đầy biết ơn, và lấp đầy tâm hồn nhỏ nhoi của anh bằng một cảm giác nhẹ nhõm sâu sắc. Dành mạch thận trọng, anh vẫn im thin thít và không dám đưa ra bất kỳ bình luận nào. Một khoảng lặng không tiếng động kéo dài một lúc lâu, chẳng nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng mưa đập vào ô cửa sổ, tiếng gió thở dài than vãng, và thỉnh thoảng lại có tiếng nấc nghẹn ngào phát ra từ Roxana. Những tiếng nấc thưa dần rồi cuối cùng tắt hẳn. Sau đó, kẻ trốn chạy lại cất tiếng nói:
— Vặn nhỏ ngọn đèn lại chút đi. Nhỏ nữa. Nhỏ nữa xem nào. Một kẻ đang bị săn đuổi vốn chẳng thích ánh sáng đâu. Đấy—thế là đủ rồi. Tao thấy mày ở đâu là được rồi. Tao sẽ kể cho mày nghe đầu đuôi câu chuyện, và rút ngắn nó hết mức có thể, rồi tao sẽ bảo mày phải làm những gì. Lão đàn ông đã mua tao không phải là kẻ xấu; hắn ta cũng tử tế, theo tiêu chuẩn của những chủ đồn điền; và nếu lão được toại nguyện thì tao đã trở thành một đứa ở trong nhà làm việc gia đình rồi và được thoải mái rồi: ngặt nỗi vợ lão lại là một ả người Yankee, nom chẳng mấy ưa nhìn cho cam, và ả ta liền trở mặt hằn học với tao ngay lập tức; thế là chúng đày tao ra cái khu lán trại ở ngoài đồng cùng với những tá điền làm thuê lam lũ. Ả đàn đầy đó vẫn chưa thấy thỏa mãn với chừng ấy, mà còn xúi giục gã cai thợ chống lại tao, ả ta vốn ghen tuông và độc ác đến thế là cùng; thế nên gã cai thợ bắt tao ra đồng từ trước khi trời sáng và bắt tao làm việc suốt cả ngày dài cho đến tận lúc không còn chút ánh sáng nào; và tao đã phải nhận biết bao nhiêu trận đòn roi chỉ vì không thể hoàn thành định mức công việc của những kẻ khỏe mạnh nhất. Gã cai thợ đó cũng là người Yankee, gốc ở New England, và bất kỳ ai ở miền Nam này đều hiểu điều đó có nghĩa là gì. Bọn chúng biết cách hành hạ một đứa da đen cho đến chết, và bọn chúng cũng biết cách quất roi—quất cho đến khi lưng người ta hằn lên những lằn roi như cái ván giặt đồ. Hồi đầu thì ông chủ còn nói đỡ cho tao với gã cai thợ, nhưng điều đó chẳng hay ho gì cho tao cả; bởi vì mụ vợ lão phát hiện ra, và từ đó trở đi tao cứ thế mà ăn đòn nhừ tử trong mọi hoàn cảnh—chẳng còn chút thương xót nào dành cho tao nữa.
Trái tim Tom sục sôi—cơn thịnh nộ bùng lên chống lại mụ vợ của chủ đồn điền; và hắn tự nhủ: "Chỉ tại mụ ngốc hay xen vào chuyện người khác đó, mọi chuyện đã chẳng đến nỗi rắc rối thế này." Hắn bồi thêm một lời nguyền rủa cay đắng và nặng nề nhắm vào ả.
Biểu cảm của tâm trạng ấy hằn lên một cách dữ dội trên khuôn mặt hắn, và bị ánh chớp trắngóa đột ngột rọi thấu vào khoảnh khắc ấy, biến căn phòng chập choạng âm u thành ban ngày rực rỡ. Bà cảm thấy hài lòng—hài lòng và biết ơn; bởi vì chẳng phải biểu cảm đó cho thấy đứa con trai của bà vẫn có khả năng đau xót trước những bất công mà mẹ nó phải gánh chịu và cảm thấy căm phẫn những kẻ hành hạ mình hay sao?—một điều mà trước đó bà vẫn còn hoài nghi. Nhưng tia hạnh phúc lóe lên ấy chỉ chớp nhoáng rồi vụt tắt, để lại tâm can bà chìm trong bóng tối; bởi vì bà tự nhủ: "Nó đã bán tao xuống tận miền hạ nguồn—nó chẳng thể thương cảm ai lâu đâu: chuyện này rồi cũng qua đi thôi." Rồi bà lại tiếp tục câu chuyện của mình.
— Khoảng mười ngày trước, tao đã tự nhủ rằng tao chẳng thể trụ nổi qua mấy tuần nữa vì quá kiệt sức bởi công việc khủng khiếp và những trận đòn roi, lại thêm chán chường và khốn khổ. Và tao cũng chẳng màng gì nữa—cuộc sống chẳng còn chút giá trị nào đối với tao, nếu cứ phải tiếp tục sống thế này. Chà, khi một người rơi vào tâm trạng như thế, người ta còn màng gì đến chuyện mình đang làm nữa? Có một đứa con gái da đen nhỏ gầy khoảng mười tuổi rất tốt bụng với tao, lại chẳng có mẹ, tội nghiệp con bé, và tao thương nó còn nó thì thương tao; thế rồi nó chạy ra chỗ tao làm việc và mang theo một củ khoai tây nướng, cố lén đưa cho tao,—mày thấy đấy, nó tự bớt phần của mình, bởi vì nó biết gã cai thợ chẳng cho tao ăn đủ no,—và gã ta bắt quả tang, liền dùng cây gậy dày bằng cán chổi quất một nhát vào lưng nó, khiến nó ngã dúi dụi kêu thét lên mặt đất, oằn oại và lăn lộn trong bụi bẩn như một con nhện bị dập chân. Tao không thể chịu đựng nổi. Ngọn lửa địa ngục từng bùng cháy trong tim tao bỗng chốc bùng lên, tao giật lấy cây gậy từ tay gã và đánh cho gã ngã lăn chiêng. Gã nằm đó rên rỉ và chửi rủa, lú lẫn cả đi rồi, mày biết đấy, và lũ da đen thì sợ chết khiếp. Bọn chúng xúm lại để đỡ gã dậy, còn tao thì nhảy lên lưng con ngựa của gã và phóng thẳng ra sông với tốc độ nhanh nhất có thể. Tao thừa biết chúng sẽ đối xử với mình thế nào. Ngay khi khỏe lại, gã sẽ bắt đầu đày đọa tao đến chết nếu ông chủ cho phép; còn nếu chúng không làm thế, chúng sẽ bán tao đi xa hơn xuống miền hạ nguồn, và điều đó cũng chẳng khác gì nhau. Thế nên tao định tự tử để chấm dứt mọi đau khổ. Trời lúc ấy đã chập tối. Tao đã ra đến bờ sông chỉ trong vòng hai phút. Rồi tao thấy một chiếc xuồng, và tao tự nhủ chẳng việc gì phải tự tử khi chưa đến mức cùng đường; thế nên tao buộc con ngựa lại ở bìa rừng rồi chèo xuồng trôi xuống hạ lưu, nấp dưới bóng râm của bờ vực cao và cầu nguyện cho trời mau tối sập xuống. Tao có được một lợi thế rất lớn, bởi vì ngôi nhà lớn nằm cách sông tận ba dặm và ở đó chỉ có la để cưỡi, lại chỉ có đám nô lệ cưỡi chúng, mà chúng thì chẳng đời nào chịu vội vã—chúng sẽ tạo mọi cơ hội có thể cho tao. Trước khi có ai kịp chạy về nhà rồi quay lại thì trời đã tối mịt rồi, và chúng cũng chẳng thể lần theo vết chân ngựa để tìm ra hướng đi của tao cho đến tận sáng hôm sau, hơn nữa lũ da đen sẽ tha hồ bịa đặt đủ điều dối trá để đánh lạc hướng chúng.
Chà, trời tối hẳn, và tao tiếp tục xuôi dòng nước. Tao chèo hơn hai tiếng đồng hồ, đoạn chẳng còn lo lắng gì nữa nên thôi chèo, cứ để chiếc xuồng trôi theo dòng nước và suy tính xem mình sẽ phải làm gì nếu không phải tự tử. Tao vạch ra vài kế hoạch, rồi cứ thế trôi đi, nghiền ngẫm chúng trong đầu. Chà, khi qua nửa đêm một chút, theo tao tính toán, và tao đã đi được mười lăm hoặc hai mươi dặm, tao nhìn thấy ánh đèn của một chiếc tàu thủy đậu bên bờ sông, ở một nơi chẳng có thị trấn cũng chẳng có bãi củi nào, và chẳng mấy chốc tao nhận ra hình dáng của những cái ống khói in trên nền trời đầy sao, và rồi hỡi Chúa tôi, tao suýt nhảy dựng lên vì sung sướng! Đó chính là chiếc Grand Mogul—tao từng làm tiếp viên trên con tàu đó suốt tám mùa trên tuyến đường Cincinnati và New Orleans. Tao lướt ngang qua—chẳng thấy bóng người nào động đíc ở đâu cả—chỉ nghe tiếng búa gõ lốc cốc trong phòng máy, thế là tao hiểu chuyện gì đang xảy ra—một bộ phận máy móc nào đó bị hỏng. Tao lên bờ ở phía hạ nguồn của con tàu và thả trôi chiếc xuồng, rồi bước lên, lúc đó chỉ có đúng một tấm ván cầu được bắc ra, thế là tao bước lên tàu. Trời nóng như thiêu như đốt, đám thủy thủ và công nhân khuân vác nằm ngổn ngang ngủ la liệt trên boong tàu phía trước, viên phó tàu thứ hai, Jim Bangs, đang ngồi trên cọc neo với cái đầu gục xuống, ngủ say sưa—bởi vì đó chính là cách mà phó tàu thứ hai thay ca cho thuyền trưởng!—còn lão gác ca già, Billy Hatch, thì đang gà gật ở lối cầu thang;—và tao nhận ra tất cả bọn họ; chao ôi, trông bọn chúng mới đáng yêu làm sao! Tao tự nhủ, ước gì lão chủ cũ xuất hiện lúc này và thử bắt tao xem nào—trái tim ngươi hãy vui lên đi, tao đang ở giữa những người bạn cơ mà. Thế là tao hiên ngang bước đi giữa bọn chúng, đi lên boong đặt lò hơi rồi lùi tuốt ra phía sau đuôi tàu đến hành lang khoang dành cho quý bà, và ngồi xuống chiếc ghế mà tao từng ngồi chắc là đến cả trăm triệu lần rồi, tao tự nhủ thế; và cảm giác lúc ấy thật sự là được trở về nhà, tao nói cho mày nghe đấy!
Khoảng một tiếng sau, tao nghe tiếng chuông chuẩn bị reo vang, và rồi sự huyên náo bắt đầu. Chẳng mấy chốc tao nghe tiếng cồng đánh lên. "Cho bánh xe bên ngoài đảo chiều chạy lùi," tao tự nhủ—"tao đoán là mình thừa biết thứ âm thanh ấy!" Tao lại nghe tiếng cồng vang lên lần nữa. "Tiến lên phía trước ở mạn trong," tao tự nhủ. Tiếng cồng lại vang lên. "Dừng bánh xe bên ngoài lại." Tiếng cồng lại vang lên. "Tiến lên phía bên ngoài—giờ thì chúng ta đã hướng mũi về St. Louis rồi, và tao đã thoát nạn, chẳng phải tự tử nữa." Mày thấy đấy, tao thừa biết chiếc Mogul lúc bấy giờ đang chạy tuyến St. Louis. Lúc chúng ta chạy qua đồn điền của mình thì trời vừa hửng sáng, và tao nhìn thấy một đám đông nô lệ cùng người da trắng đang lùng sục khắp dọc bờ sông, lo lắng cuống cuồng vì chuyện của tao; nhưng tao thì chẳng thèm bận tâm chút nào đến bọn chúng.
Vào khoảng thời gian đó, Sally Jackson, người từng là tiếp viên phụ của tao và giờ đã lên chức tiếp viên trưởng, bước ra hành lang, vô cùng mừng rỡ khi gặp lại tao, và tất cả các sĩ quan cũng vậy; rồi họ quyên góp cho tao hai mươi đô-la và đưa cho tao, còn Sally thì sắm cho tao đầy đủ quần áo tử tế, và khi đến đây, tao đi thẳng tới chỗ mày từng ở, rồi sau đó tao đến ngôi nhà này, nhưng họ bảo mày đi vắng nhưng ngày nào cũng trông ngóng trở về; thế nên tao không dám đi xuống miền hạ nguồn đến chỗ Dawson, bởi vì tao sợ lỡ mất mày.
Chà, thứ Hai tuần trước, tao đi ngang qua một trong những tiệm ở phố Fourth, nơi người ta dán các tờ rơi tìm nô lệ bỏ trốn và treo thưởng để bắt chúng, và tao đã nhìn thấy lão chủ của tao! Tao suýt ngã quỵ xuống đất vì quá hoảng hốt. Lão quay lưng về phía tao, đang nói chuyện với chủ tiệm và đưa cho hắn ta mấy tờ giấy—hình như là mấy tờ giấy thông báo tìm nô lệ, và tao chính là đứa nô lệ đó. Lão đang treo thưởng—đúng thế đấy. Tao đoán có đúng không, mày nghĩ sao?
Tom dần chìm vào trạng thái kinh hoàng tột độ, và lúc này hắn tự nhủ: "Mình tiêu đời rồi, dù sự việc có xoay chuyển theo hướng nào đi nữa! Lão ta đã nói với mình rằng lão nghi ngờ có điều gì đó không ổn trong vụ mua bán đó. Lão bảo lão nhận được thư từ một hành khách trên tàu Grand Mogul nói rằng Roxy đã đến đây bằng con tàu đó và mọi người trên tàu đều tường tận vụ việc; thế nên lão nói việc cô ta đến đây thay vì trốn sang một tiểu bang tự do trông có vẻ bất lợi cho mình, và rằng nếu mình không tìm ra cô ta giúp lão, và cho thật nhanh chóng, lão sẽ gây phiền phức cho mình. Mình chưa từng tin câu chuyện đó; mình không thể ngờ cô ta lại tuyệt tình đến mức vứt bỏ mọi bản năng làm mẹ để đến đây, khi thừa biết nguy cơ sẽ đẩy mình vào rắc rối không thể cứu vãn. Và suy cho cùng, cô ta lại đang ở đây! Thế mà mình lại ngu ngốc thề thốt rằng sẽ giúp lão tìm ra cô ta, cứ nghĩ hứa như vậy là hoàn toàn an toàn. Nếu mình mạo hiểm giao nộp cô ta, cô ta—cô ta—nhưng làm sao mình cứu nổi bản thân đây? Mình buộc phải làm thế hoặc trả tiền, mà tiền đâu ra chứ? Mình—mình—chà, mình nghĩ rằng nếu lão chịu thề là sẽ đối xử tử tế với cô ta từ nay về sau—và chính cô ta cũng nói lão là một người tốt—và nếu lão chịu thề không bao giờ để cô ta bị vắt kiệt sức lao động, hay bị bỏ đói, hay—"
Một tia chớp lóe lên làm lộ rõ khuôn mặt xanh xao của Tom, méo mó và cứng đờ vì những suy nghĩ lo âu đó. Roxana cất giọng sắc bén ngay lúc ấy, và trong giọng nói mang theo sự e sợ:
— Vặn đèn sáng lên xem nào! Tao muốn nhìn rõ mặt mày hơn. Đấy nào—để tao ngắm mày kỹ xem. Chambers, mặt mày tái mét như cái áo sơ mi rồi kìa! Mày đã gặp lão ta chưa? Lão có đến tìm mày không?
— C-có.
— Khi nào?
— Trưa thứ Hai.
— Trưa thứ Hai ư! Lão đang bám theo dấu vết của tao à?
— Lão—chà, lão nghĩ là thế. Ý tao là, lão hy vọng là thế. Đây là tờ thông báo mà mày thấy đây.
Hắn lấy nó ra từ trong túi áo.
— Đọc cho tao nghe xem nào!
Bà đang thở hổn hển vì xúc động, và trong đôi mắt bà lóe lên một thứ ánh sáng mờ đục mà Tom không thể chắc chắn đó là ý gì, nhưng dường như có điều gì đó đe dọa ẩn chứa trong đó. Tờ truyền đơn có hình khắc gỗ thô kệch quen thuộc vẽ một người phụ nữ da đen đội khăn vấn đang chạy, vác trên vai cái bói hàng thường thấy gắn vào gậy, với dòng tiêu đề in đậm: "Thưởng 100 Đô-la." Tom đọc lớn tờ truyền đơn—ít nhất là phần mô tả Roxana, nêu tên người chủ, địa chỉ của lão ở St. Louis và địa chỉ của văn phòng môi giới ở phố Fourth; nhưng hắn cố tình bỏ qua chi tiết rằng những ai muốn nhận tiền thưởng cũng có thể liên hệ với ông Thomas Driscoll.
— Đưa tờ giấy đây cho tao!
Tom đã gấp nó lại và đang đút vào túi. Cảm giác lạnh toát sống lưng đang lan dọc xuống, nhưng hắn cố tỏ ra thản nhiên hết sức có thể:
— Tờ giấy á? Ơ kìa, nó có ích gì cho mày đâu, mày có biết chữ đâu. Mày đòi lấy nó làm gì?
— Đưa tờ giấy đây cho tao!
Tom đưa nó cho bà, nhưng với vẻ miễn cưỡng mà hắn không thể che giấu hoàn toàn.
— Mày đọc hết cho tao nghe chưa?
— Chắc chắn là tao đọc hết rồi.
— Giơ tay lên và thề đi.
Tom làm theo. Roxana cẩn thận cất tờ truyền đơn vào túi, đôi mắt vẫn đăm đăm dán chặt vào mặt Tom suốt thời gian đó; rồi bà nói:
— Mày đang nói dối!
— Tao bịa chuyện về nó làm gì chứ?
— Tao không biết—nhưng mày đang nói dối. Dù sao thì đó cũng là ý kiến của tao. Nhưng thôi, không bàn chuyện đó nữa. Khi nhìn thấy lão ta, tao sợ đến mức suýt không lết nổi về nhà. Sau đó tao đưa cho một gã nô lệ một đô-la để đổi lấy bộ quần áo này, và từ đó đến nay, kể cả ngày lẫn đêm, tao chưa hề đặt chân vào ngôi nhà nào cho đến tận bây giờ. Ban ngày tao bôi đen mặt trốn trong tầng hầm của một ngôi nhà cổ đã bị thiêu rụi, còn ban đêm thì ra bến tàu lục lọi các thùng đường và bao ngũ cốc để kiếm chút gì ăn qua ngày, chẳng dám mọc mặt đi mua thứ gì cả, và suýt chết đói. Và tao không dám bén mảng lại gần nơi này cho đến cái đêm mưa gió này, khi mà xung quanh hầu như chẳng có bóng người nào. Nhưng tối nay tao đã đứng trong con hẻm tối từ lúc màn buông xuống, chờ mày đi qua. Và giờ tao ở đây.
Bà chìm vào suy tư. Chát chốc sau, bà cất lời:
— Mày gặp lão ta vào trưa thứ Hai tuần trước à?
— Đúng vậy.
— Còn tao gặp lão vào giữa chiều hôm đó. Lão đã đi tìm mày phải không?
— Đúng.
— Lão đưa tờ thông báo cho mày vào lúc đó à?
— Không, lúc đó người ta chưa in xong.
Roxana ném cho hắn một cái nhìn đầy nghi kỵ.
— Mày đã giúp lão làm tờ thông báo đó à?
Tom tự nguyền rủa bản thân vì đã phạm phải một sai lầm ngớ ngẩn như vậy, và cố gắng chữa thẹn bằng cách nói rằng hắn vừa sực nhớ ra là trưa thứ Hai lão ta mới đưa tờ thông báo cho mình. Roxana nói:
— Mày lại đang nói dối rồi, chắc chắn thế.
Rồi bà đứng thẳng người dậy và giơ ngón tay lên:
— Thế thì bây giờ! Tao sắp hỏi mày một câu, và tao muốn biết mày định lẩn tránh nó thế nào. Mày thừa biết lão ta đang truy lùng tao; và nếu mày trốn đi, thay vì ở lại đây giúp lão, lão sẽ biết có điều gì đó mờ ám trong chuyện này, và khi đó lão sẽ đi hỏi thăm về mày, việc đó sẽ dẫn lão đến gặp ông của mày, và ông mày sẽ đọc tờ thông báo và thấy rằng mày đã đem bán một người da đen tự do xuống miền hạ nguồn, và tao nghĩ mày hiểu rõ tính ông ấy chứ! Ông ấy sẽ xé nát di chúc và đá cổ mày ra khỏi nhà. Thế nên, giờ thì mày hãy trả lời câu hỏi này cho tao: chẳng phải mày đã nói với lão ta rằng tao chắc chắn sẽ đến đây, rồi mày sẽ dàn xếp để lão giăng bẫy bắt lấy tao đó sao?
Tom nhận ra rằng cả những lời dối trá lẫn lý lẽ biện bạch đều chẳng thể cứu vãn được nữa—hắn đã lọt vào tròng, chiếc ốc vít đã siết chặt, và hoàn toàn không có đường thoát thân. Khuôn mặt hắn bắt đầu biến sắc trở nên gớm ghiếc, rồi chẳng mấy chốc, hắn gầm gừ lên:
— Chứ tao biết làm sao được? Mày tự thấy đấy, tao đang rơi vào tay lão ta và chẳng thể thoát ra nổi.
Roxy trừng phạt hắn bằng một cái nhìn đầy khinh bỉ một lúc, đoạn cô nàng nói:
— Mày có thể làm gì ư? Mày sẵn sàng làm kẻ phản bội Judas với chính mẹ ruột của mình chỉ để cứu lấy cái bộ da vô tích sự của mày! Có ai trên đời này tin nổi không?—Đến con chó còn chẳng thối tha đến thế! Mày chính là tên khốn nạn đê tiện và bỉ ổi nhất từng được sinh ra trên đời này—và tao chính là kẻ phải chịu trách nhiệm về điều đó!—rồi bà nhổ nước bọt vào người hắn.
Hắn chẳng dám tỏ thái độ oán giận. Roxy trầm ngâm giây lát, rồi nói tiếp:
— Giờ thì tao sẽ bảo mày phải làm những gì. Mày sẽ lấy số tiền mà mày đã dành dụm đưa cho lão ta, rồi bắt lão phải chờ cho đến khi mày có thể đến gặp Quan tòa để lấy số còn lại và chuộc tự do cho tao một lần nữa.
— Lạy Chúa! Mày đang nghĩ cái quái gì thế hả? Lại đi xin ông ấy ba trăm đô-la lẻ à? Thế tao sẽ bịa ra lý do gì để xin số tiền đó đây, hả trời?
Câu trả lời của Roxy được thốt ra bằng một giọng điệu bình thản và đều đặn:
— Mày sẽ nói với ông ấy rằng mày đã bán tao đi để trả nợ cờ bạc, rằng mày đã lừa dối tao và cư xử như một kẻ đồi bại, và rằng tao bắt mày phải lấy số tiền đó để chuộc tao về.
— Mày điên thật rồi sao! Ông ấy sẽ xé nát bản di chúc thành trăm mảnh chỉ trong vòng một nốt nhạc—mày không biết điều đó hay sao?
— Có chứ, tao thừa biết là đằng khác.
— Thế mà mày lại tưởng tao ngốc đến mức đi gặp ông ấy thật đấy à?
— Tao chẳng tưởng tượng gì sất—tao biết chắc mày sẽ phải đi. Tao biết điều đó vì mày thừa hiểu nếu mày không kiếm ra số tiền đó, tao sẽ tự mình đi gặp lão ta, và rồi lão sẽ bán mày xuống miền hạ nguồn, để xem mày thấy thế nào!
Tom đứng phắt dậy, run rẩy và đầy kích động, trong mắt lóe lên một tia sáng tàn độc. Hắn sải bước ra cửa và bảo rằng mình phải rời khỏi cái nơi ngột ngạt này một lát để hít thở không khí trong lành cho đầu óc tỉnh táo lại rồi mới tính tiếp phải làm gì. Cánh cửa không mở được. Roxy cười nhạt, rồi nói:
— Tao giữ chìa khóa rồi, cục cưng ạ—ngồi xuống đi. Mày chẳng cần phải làm cho đầu óc tỉnh táo lên để tìm xem mình phải làm gì đâu—tao biết rõ mày sẽ phải làm gì rồi.
Tom ngồi xuống, luồn tay qua mái tóc với vẻ bất lực và tuyệt vọng. Roxy cất giọng hỏi:
— Lão ta đang ở trong ngôi nhà này phải không?
Tom ngẩng phắt lên với vẻ mặt ngạc nhiên, rồi hỏi:
— Sao mày lại nghĩ ra cái ý quái gở đó?
— Mày tự tố cáo đấy chứ. Ra ngoài để làm cho đầu óc tỉnh táo cơ đấy! Thứ nhất là mày vốn chẳng có cái đầu óc nào ra hồn để mà làm cho tỉnh táo, và thứ hai là cái bộ mặt đê tiện của mày đã bán đứng mày rồi. Mày đúng là thứ khốn nạn hèn hạ nhất từng—nhưng mà tao đã bảo mày điều đó từ nãy rồi. Thôi được, hôm nay là thứ Sáu. Mày cứ việc dàn xếp ổn thỏa với lão ta, bảo rằng mày phải đi vắng để gom cho đủ số tiền còn lại, và rằng mày sẽ quay lại cùng tiền vào thứ Ba tuần tới, hoặc muộn nhất là thứ Tư. Mày hiểu chưa?
Tom hằn học đáp:
— Rồi.
— Và khi mày cầm được tờ giấy bán thân mới sang tên chính tao, hãy mang gửi nó qua đường bưu điện đến cho ông Pudd’nhead Wilson, kèm theo lời dặn trên phong bì là hãy giữ hộ cho đến khi tao đến. Mày hiểu chưa?
— Rồi.
— Thế là hết. Cầm ô lên, đội mũ vào đi.
— Để làm gì?
— Bởi vì mày sẽ phải tiễn tao về tận bến tàu. Mày thấy con dao này chứ? Tao đã kè kè mang theo nó từ cái ngày tao nhìn thấy lão ta, mua bộ quần áo này và cả nó nữa. Nếu lão tóm được tao, tao sẽ dùng nó để tự kết liễu đời mình. Giờ thì cất bước đi, đi cho khẽ khàng và dẫn đường cho cẩn thận; và nếu mày dám ra hiệu ú ớ gì trong cái nhà này, hay có kẻ nào dám bén mảng lại gần mày ngoài đường, tao sẽ đâm thẳng nó vào người mày đấy. Chambers, mày có tin tao nói thật không?
— Tao chẳng việc gì phải đôi co với mày câu hỏi đó. Tao thừa biết lời mày nói là giữ uy tín.
— Ừ, nó khác xa lời mày lắm! Vặn tắt đèn đi rồi di chuyển—chìa khóa đây.
Họ không hề bị bám theo. Tom run lên bần bật mỗi khi có một kẻ lang thang muộn màng sượt qua họ trên phố, và nơm nớp lo sợ cảm giác lưỡi thép lạnh ngắt đâm vào lưng mình. Roxy bám sát gót hắn và luôn nằm trong tầm với. Sau khi lê bước cả dặm đường, họ tới một khoảng đất trống rộng thênh thang bên bến tàu hoang vắng, và trong chốn hoang mạc tối tăm ngập mưa gió ấy, họ chia tay nhau.
Khi Tom lủi thủi lê bước về nhà, tâm trí hắn đầy rẫy những suy nghĩ ảm đạm và những kế hoạch điên rồ; nhưng cuối cùng, hắn mệt mỏi tự nhủ:
— Chỉ còn duy nhất một con đường thoát. Ta phải làm theo kế hoạch của ả. Nhưng phải có chút biến tấu—ta sẽ không đi xin tiền để rồi tự hủy hoại đời mình; ta sẽ đi trộm của lão già hà tiện ấy.