Này ngài Launcelot, vị thiện nhân nọ cất lời, ở đó ngài có thể thấu hiểu dòng dõi cao quý mà ngài mang trên mình, cũng như ý nghĩa điềm chiêm bao của ngài. Bốn mươi năm sau cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su Ki-tô, Joseph xứ Aramathie đã rao giảng về chiến thắng của Vua Evelake, người đã đè bẹp kẻ thù trong các trận chiến. Và về bảy vị vua cùng hai hiệp sĩ: người đầu tiên tên là Nappus, một bậc thánh nhân; người thứ hai gọi là Nacien, lấy theo tên người ông để tưởng nhớ, và nơi ngài ngự trị chính là Chúa Giê-su Ki-tô của chúng ta; người thứ ba tên là Helias le Grose; người thứ tư gọi là Lisais; người thứ năm gọi là Jonas, người đã rời quê hương để đến xứ Wales, rồi cưới con gái của Manuel, nhờ đó mà chiếm được vùng đất Gaul, rồi ngài đến định cư ở xứ này. Và từ ngài sinh ra Vua Launcelot, ông nội của ngài, người đã kết hôn với con gái vua xứ Ireland, và ngài ấy là một người dũng cảm chẳng kém gì ngài; từ ngài ấy sinh ra Vua Ban, thân phụ ngài, vị vua cuối cùng trong số bảy vị vua. Còn về phần ngài, hỡi ngài Launcelot, điềm báo ấy ngụ ý rằng các thiên thần đã phán ngài không thuộc về nhóm bảy người ấy. Và người cuối cùng chính là vị hiệp sĩ thứ chín, được ví với một con sư tử, bởi ngài sẽ vượt hơn mọi bậc hiệp sĩ trần gian, đó chính là ngài Galahad, người mà ngài đã hoài thai với con gái của Vua Pelles; và ngài phải tạ ơn Chúa nhiều hơn bất kỳ kẻ phàm trần nào đang sống, bởi dẫu mang thân phận tội lỗi trần thế, ngài chẳng có lấy một đối thủ nào sánh kịp về chí khí hiệp sĩ, và sẽ chẳng bao giờ có được. Thế nhưng ngài lại dâng rất ít lời tạ ơn lên Thiên Chúa vì mọi đức tính cao cả mà Người đã ban cho ngài.
Thưa ngài, Launcelot đáp, ngài nói vị hiệp sĩ tài ba đó chính là con trai tôi ư. Ngài là kẻ phải rõ điều đó hơn bất kỳ ai hết và chẳng có ai tường tận hơn đâu, vị thiện nhân nọ đáp, bởi ngài đã từng Ân ái với con gái của Vua Pelles, và chính trên thân thể nàng, ngài đã hoài thai Galahad, ngài ấy chính là người từng ngồi vào Ghế Hiểm Nguy trong bữa tiệc Lễ Hiện Xướng; vì thế, hãy công khai cho mọi người biết rằng ngài ấy là giọt máu do ngài sinh ra với ái nữ của Vua Pelles, bởi điều đó sẽ mang lại vinh quang và danh dự cho chính ngài cũng như toàn thể họ hàng. Và ta khuyên ngài chớ nên tìm cách áp đảo hay giao chiến với ngài ấy ở bất cứ nơi đâu. Vua Launcelot bèn đáp: Chà, ta thiết nghĩ vị hiệp sĩ cao quý ấy hẳn sẽ cầu nguyện cùng Chúa Cha Chí Cao thay cho ta, để ta không sa ngã vào vầng tội lỗi thêm lần nữa. Hãy vững lòng tin đi, vị thiện nhân nọ nói, ngài được hưởng phúc lớn nhờ lời cầu nguyện của người; nhưng con cái sẽ không phải gánh chịu tội ác của cha mẹ, và cha mẹ cũng chẳng gánh thay tội ác của con cái, mà mỗi người phải tự gánh vác lấy gánh nặng của chính mình. Do đó, hãy chỉ thành tâm cầu xin Thiên Chúa, và Người sẽ giúp đỡ ngài trong mọi cơn hoạn nạn.
Rồi ngài Launcelot cùng vị ẩn sĩ dùng bữa tối, sau đó ngài nằm xuống nghỉ ngơi; tấm áo tế bằng lông ngựa cọ xát vào da thịt khiến ngài đau đớn khôn tả, nhưng ngài vẫn điềm đạm đón nhận và nhẫn nhục chịu được nỗi thống khổ ấy. Cứ thế, vào buổi sáng hôm sau, ngài tham dự thánh lễ, mặc giáp phục rồi từ giã ra đi.