Tôi đi tản bộ. Kể từ khi tôi quay trở lại căn nhà xưa, đây là lần đầu tôi cho phép bản thân được tản bộ dọc theo những con phố của Amherst, để quan sát và bị quan sát, bị nhận diện, bị tránh mặt, hoặc tồi tệ hơn thế. Tôi cứ nhớ về chiếc dép hiệu Birkenstock, một chiếc bên chân phải, mà kẻ nào đó đã ném qua cửa sổ nhà mình nhiều năm về trước. Đầu tôi cứ đinh ninh rằng tên thủ phạm lâu nay vẫn còn lưu kho chiếc dép chân trái, chỉ hòng đợi tôi trở về. Cứ bước tới mỗi góc phố là tôi lại chột dạ, chỉ sợ cái tên lập dị chân to bè nhận ra tôi rồi nhảy xổ ra và tương cái dép còn lại lên giữa trán mình.
Nhưng lạ thật, chẳng ai nhận ra tôi cả. Đi hết lô nhà này qua lô nhà khác mà chẳng có ai nhận ra. Thế là tôi bắt đầu kiếm tìm sự chú ý. Tôi dừng lại ở những ngôi nhà mình quen biết - đây, nhà của cậu bạn niên thiếu Rob Bumip; kia, nhà gia đình Shumachers, nơi bố mẹ tôi thường qua chơi bài cribbage mỗi tối thứ Năm - và nhẩn nha trên vỉa hè để chờ có người ló mặt ra khỏi nhà mà thốt lên, Này có phải Sam Pulstfer đấy không, gớm bao nhiêu năm không gặp rồi nhỉ… vân vân và vân vân. Cũng có người ló ra khỏi nhà thật, nhưng họ lại chẳng nhận ra tôi, mà tôi cũng chẳng nhận ra họ. Họ đơn giản là những bản sao trẻ hơn của những con người từng sinh sống nơi đây: những anh chị trợ giảng, những ông bà chủ trẻ măng chẳng mấy mà thành triệu phú của các công ty chấm-com đã cùng với gia đình trẻ của mình chuyển từ Boston hoặc New York tới Amherst vì nơi đây có trường học tốt, không khí trong lành và nhan nhản tiệm cà phê, hoặc những cậu ấm cô chiêu bảo vệ môi trường lẽ ra vẫn sống ở Berkeley giống như bố mẹ mình nếu ở đó phí bảo hiểm cho những con Volvo của họ không cắt cổ đến vậy. Thị trấn vẫn cổ kính như xưa - mỗi ngôi nhà, mỗi nhà thờ hẳn đều biết một ai đó biết Cotton Mathe[1] - nhưng những cư dân sống tại đây thì không còn cổ tẹo nào.
Ngay cả những bác nông dân cũng đã thay đổi. Hôm nay là Chủ nhật, ngày nông dân có tập quán bày bán nông phẩm. Tôi thấy tấm băng rôn đề KHU CHỢ NÔNG DÂN AMHERST được treo lên phía trên bãi đỗ xe, kế bên bãi cỏ công cộng, và những kỷ niệm cứ níu chân tôi bước về phía đó. Thời tôi còn thơ bé, khu chợ nông dân ngày Chủ nhật được tổ chức bởi chính những người nông dân, những con người khắc khổ chuyên vận bộ đồ yếm có đôi tay cùng khuôn mặt nứt nẻ bán những món đồ nông sản chất đằng sau xe tải của mình. Họ chủ yếu bán ngô ngọt và cà chua, nhưng mùa hè thì có thêm đậu cô ve, tỏi, dưa chuột và bí vàng, mùa thu lại có táo McIntosh cứng giòn, rồi thì cả lá thuốc lá loại to bản - chúng được chất đống trong những cái thùng to nông choèn choèn để phục vụ những bác nông dân hút thuốc tì tì khi bán hàng, khi gói hàng vào túi giấy và khi đếm nhầm tiền trả lại cho bố mẹ tôi. Những khi bố mẹ tôi không để ý, họ dúi cho tôi mấy viên đường hẳn là để dành cho ngựa ăn, và tôi đã ăn lấy để rồi sau này phải nhăn nhó đi gặp nha sĩ. Nhưng gì thì gì, đó quả là những tháng ngày tươi đẹp. Rất, rất tươi đẹp, khiến tôi thấy bồi hồi quá đỗi, tưởng như là mình có thể ôm chầm lấy bác nông dân đầu tiên gặp được khi đến chợ. Thế nên việc chẳng có bác nông dân nào hết hóa ra lại là điều hay.
Hiển nhiên, những bác nông dân đã trở thành một phần nữa của cái quá khứ đã trôi xa. Chẳng còn cái xe tải chở hàng hay cuộn thuốc lá nào cả. Còn nông phẩm thì giờ đã là loại hữu cơ - có biển giải thích đàng hoàng - và trông thật xấu xí vì không được bón các loại phân và phun các loại thuốc trừ sâu vốn làm cho chúng có mùi vị và hình thức tuyệt hảo. Tôi thấy buồn thay cho lũ táo và đậu cô ve phải nằm cau có và bất mãn trong thùng xe Volkswagen, và tôi cũng thấy buồn vì những cô cậu đang bán chúng, những kẻ rõ ràng giàu có nhưng nhơ bẩn, hoàn toàn có thể là anh chị em họ của đám phân tích trái phiếu, không chỉ để râu ria xồm xoàm mà họ còn khoác những bộ áo liền quần, áo len lông cừu và váy dài thượt, đi loại xăng đan nham nhở nhưng đắt tiền, trông chẳng ra đâu vào đâu. Tôi nín thở mất một lúc khi nhận ra rằng cuộc sống thay đổi quá sức nhanh và liên tục, đến mức dù ta có là một thành viên của một lĩnh vực tinh vi và tân tiến như kỹ nghệ đóng gói thì ta cũng không trở tay kịp. Chẳng cần phải là thiên tài cũng biết được rằng rồi sẽ có ngày bản thân tôi cũng bị đá ra ngoài lề, thừa thãi và hoàn toàn mất phương hướng trước một thế giới chẳng cần đến mình, giống như những bác nông dân kia.
Nhưng ở đây cũng vậy, không một ai nhận ra tôi cả. Khi đi khỏi khu chợ, thậm chí tôi còn bước tới một cô tôi ngỡ đã học chung với mình hồi phổ thông, một cô thon gọn đi giày chạy đắt tiền, đang đẩy ba đứa nhóc tì trên một chiếc xe đẩy nhìn như xe ba gác, gắn tua tủa các loại khuyên đựng cốc và túi lưới đựng đồ. Tôi mở lời, “Xin chào, tôi là Sam Pulsifer.”
“Vâng, tuyệt lắm,” cô ta đáp, rồi nhanh chóng lách qua tôi, cắt một mạch qua khu chợ nông dân và vòng qua bãi cỏ thị trấn.
“Vâng, đúng là tuyệt lắm ạ,” tôi hét với theo cô ta. Cô ta đã không nhận ra tôi; không một ai nhận ra tôi! Chẳng khác gì hoàng đế Nero trở về Rome sau nhiều năm với nhúm công dân còn sót lại và chẳng ai biết ông là ai.
Vẫn còn một bài kiểm tra cuối cùng để chứng minh sự vô danh của tôi. Tôi đi qua một vài khu nhà, về hướng đông, nơi Dinh thự Emily Dickinson từng ngụ xưa kia. Tất nhiên, người ta đã dọn sạch hết những đống cháy đen cùng những dải băng vàng từng chăng kín hiện trường, nhưng không có tòa nhà mới nào được xây để thay thế tòa nhà cũ. Thay vào đó, người ta trồng cây, nào bạch dương, bạch tùng và phong, sau mười tám năm chúng đã đạt chiều cao đáng kể, và ở chính giữa vườn cây um tùm này có cắm một cọc kim loại cao ba bốn thước tây, bên trên là một tấm biển tưởng niệm bằng đồng, chắc hẳn để ghi lại những gì đã từng ở đây và lý do tại sao chúng lại biến mất. Tôi không đọc nội dung trên đó, và nếu bạn không đọc tấm biển đó thì có khi bạn sẽ đinh ninh rằng trước kia nơi này cũng chẳng có gì ngoài những cái cây khác, già hơn, mà không mảy may có một ý niệm gì về Emily Dickinson và ngôi dinh thự, cũng như việc tôi đã trót lỡ tay đốt trụi nó và thiêu chết ông bà Coleman tội nghiệp.
Và nếu bạn có thấy tôi đứng ở đó, thì nhiều khả năng bạn cũng chẳng nhận ra được cậu nhóc hai mươi năm về trước đã làm những chuyện ấy, mặc dù, như đã nói phía trên, đã từng có thời, tên tuổi của tôi ở địa phương này không phải là nhỏ. Liệu có lạ lắm không? Thực sự mà nói thì cũng chẳng khó tin, bởi giờ tôi đâu còn trông giống tôi ngày nào: gương mặt đã đỏ dừ hơn, hai bên quai hàm đã rục rịch các nếp nhăn và làn da đã chảy xệ; mái tóc đã xoăn hơn và hói hơn; thêm nữa, giờ tôi đã bắt đầu để râu quai nón, chẳng bao lâu nữa râu ria sẽ phủ kín khuôn mặt tôi. Tôi không còn trông giống một cậu trai trẻ nữa mà đã trở thành một con người hoàn toàn khác - một người đàn ông thực thụ, người đã từng yêu thương và làm đau gia đình bé nhỏ của mình, đã bị ruồng bỏ vì lý do đó, đã xin nghỉ việc rồi quay về với bố mẹ, và giờ đây đã sẵn sàng - à không, đã quyết tâm - sửa chữa lỗi lầm. Cuối cùng thì tôi cũng đã trở thành một người đàn ông thực thụ, và cũng đã đến lúc để điều đó xảy ra. Tôi đã đợi chờ quá lâu cho giây phút này.
Và ta phải làm gì khi đã trở thành một người đàn ông thực thụ? Còn gì được nữa nếu không phải là quay về với những người mà ta yêu thương và đã đánh mất, như lời người thi sĩ nói, rồi thú nhận với họ toàn bộ sự thật và khăng khăng không đi đâu cả cho tới khi được tha thứ vì đã dối gian. Đã đến lúc rồi. Hy vọng cái lúc đó vẫn còn đây. Tôi rời khỏi Dinh thự Emily Dickinson và đi bộ về chiếc xe đậu ngoài căn nhà của bố mẹ. Tôi đang đi về Camelot và đinh ninh rằng làm vậy có nghĩa là tôi đang bước ra khỏi cái quá khứ tăm tối mà tiến về phía tương lai, và rằng tôi phải mau mau tới đích trước khi bị thảy sang bên lề như những bác nông dân tội nghiệp cùng các loại nông phẩm dùng thuốc trừ sâu, và nếu có được nhớ tới thì sẽ được nhớ tới như là những thứ không ra gì.
Chỉ có điều, vừa nghĩ đến đó thì lại có người nhận ra tôi. Lúc đi đến gần cuối khu chợ nông dân, tôi đụng phải Sandy Richards, bà giáo dạy sinh học lớp mười ở trường trung học Tiên Phong, nơi mẹ tôi dạy ngữ văn lớp mười một. Bà bước thẳng về phía tôi khiến tôi chẳng còn đường nào mà tránh. Tôi thấy bà Sandy đã già đi theo một kiểu khác hẳn với mẹ tôi: khuôn mặt bà là một tấm bản đồ chằng chịt những nếp nhăn và vết đồi mồi; và nghiệt ngã nhất là việc bà phải mặc loại quần áo nỉ, nhưng không phải để tập thể dục, mà là vì mặc bất kỳ cái gì khác cũng thấy khó chịu.
“Phải Sam không?” bà lên tiếng. “Sam Pulsifer?”
“Vâng là cháu đây, chào cô Richards,” tôi đáp.
“Ta suýt thì chẳng nhận ra cháu,” bà nói.
“Suýt ạ,” tôi nói.
“Vẫn mạnh giỏi chứ?”
“Vâng cũng tạm ạ,” tôi trả lời, và kéo theo đó là một sự im lặng trĩu nặng, sự im lặng được dệt nên bởi một quá khứ chúng tôi không được phép nói tới, cùng một hiện tại và tương lai đã trở nên khó nói bởi quá khứ. Để phá vỡ sự im lặng kỳ cục này, Sandy đã thốt ra một điều quan trọng mà đến giờ tôi mới được biết.
“Các bác ở trường rất nhớ mẹ cháu,” bà nói.
“Thế ạ?”
“Nếu mẹ cháu còn dạy ở trường thì tốt biết mấy,” bà nói. “Các bác rất nhớ…” đến đây thì bà hiện nguyên hình là một bà giáo dạy sinh học và phải rất nhọc công mới tìm được cái từ chính xác để miêu tả điều bà nhớ ở mẹ tôi,”… sự nhiệt tình của mẹ cháu,” cuối cùng bà cũng thốt lên được.
“Chắc chắn rồi ạ,” tôi đáp. “Nhưng bác này, cháu không nhớ lắm, mẹ cháu nghỉ làm được bao lâu rồi nhỉ?”
“Đến nay chắc cũng khoảng sáu năm rồi.”
“À,” tôi đáp. “Chắc hẳn vậy. Bác biết đấy, mẹ cháu lúc nào cũng ậm ờ khi nhắc đến việc về hưu.”
“Về hưu?” Sandy rõ ràng không giấu được vẻ bối rối. Các đốm đồi mồi trên mặt bà như nở to ra và phập phồng. “À, chắc hẳn họ đã đề nghị mẹ cháu về hưu sớm.”
“À.”
“Vì thói quen uống rượu của bà ấy.”
“Dạ,” tôi nói. “Hẳn vậy ạ.”
“Nó là một căn bệnh đấy cháu ạ,” Sandy nói. “Chữa trị chứ đừng trừng phạt, quan điểm của ta là vậy.”
“Vâng quan điểm rất hay ạ.”
Kéo theo đó là một khoảng im lặng nữa - lần này thì nó có phần đáng giá với tôi, nhưng còn Sandy thấy thế nào thì tôi không biết. Vậy là mẹ tôi đã bị buộc về hưu từ sáu năm trước nhưng lại giấu tôi, nói dối tôi là vẫn đi làm, mà không phải chỉ một lần ngày thứ Bảy nọ. Vì sao nhỉ? Bà đã nói cho bố tôi biết chưa? Và hằng ngày bà đi đâu? Làm sao tôi tìm hiểu được sự thật?
“Này Sam?” Sandy lên tiếng. “Này?” Hiển nhiên bà đã nói gì đó với tôi lúc tôi đang lạc trong những suy nghĩ trên, và tôi nghe thấy giọng nói bà vọng lại từ xa xăm. Tôi bước theo giọng nói ấy, rời khỏi thế giới của mình mà trở lại với thế giới của bà.
“Vâng,” tôi nói. “Cháu đây ạ.”
“Ừ, mà thôi, ta phải đi rồi,” Sandy nói, rồi xốc xốc cái túi vải đựng đầy ắp rau củ hữu cơ, như thể đám rau củ đã trễ một cuộc họp quan trọng. “Cho ta gửi lời hỏi thăm mẹ cháu nhé.”
“Vâng ạ,” tôi đáp. “Tất nhiên rồi ạ.”
❀ ❀ ❀
[1] Cotton Mather (1663-1728) từng là một thị trường kiêm văn hào có ảnh hưởng rộng ở New England, đồng thời là một trong những nhân vật đứng sau phiên tòa xử các phù thủy Salem.