Cẩm Nang Đốt Nhà Các Văn Hào New England

Lượt đọc: 722 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13

❊ ❊ ❊

Không có ai đỗ xe trên đường phố ở Camelot. Đó không phải là một hành động phạm pháp; chẳng có biển báo nào ghi rằng bạn không được phép đỗ xe từ giờ đấy đến giờ đấy, trong những ngày đấy đấy và vì những lý do đấy đấy. Nhưng người ta vẫn không đỗ xe ngoài đường, có lẽ vì lối đi của mỗi nhà đã đủ rộng để nhét cả một trung đoàn xe thể thao đa dụng và xe tải mini, loại chiến mã thân thiện với gia đình được những cư dân nơi đây yêu thích. Hoặc có lẽ vì hình ảnh một chiếc xe đơn độc đỗ dưới phố luôn gọi lên trong ta một cảm giác bất thường, tự kỷ và quái gở, như lúc xế chiều này đây, khi tôi lái xe về và trông thấy chiếc Jeep đen của Thomas Coleman đang chễm chệ ngoài phố.

Tôi có ngạc nhiên không khi thấy chiếc Jeep của cậu ta ở đó? Không hề. Hoặc ít ra là tôi đã trải qua quá nhiều điều ngạc nhiên trong vài ngày vừa qua để bị choáng váng thêm lần nữa. Đối với tôi, giờ đây, cảm giác ngạc nhiên đã trở nên quen thuộc như chính ngôi nhà của mình. Tôi đỗ xe ở lối đi, ngay cạnh xe của Anne Marie, như một động thái nhằm phân biệt bản thân (người chồng và người cha) với cậu ta (kẻ lạ mặt đầy hung ý), đề phòng trường hợp có người theo dõi tôi từ cửa sổ trước nhà. Nhưng thực tế là chẳng có ai cả.

Và thực tế là tôi đã theo dõi họ từ chỗ ẩn náu an toàn của mình trên xe. Không phải đám trẻ - tôi không thấy bóng dáng chúng đâu - mà là Thomas và Anne Marie. Cậu ta ngồi trên một chiếc ghế đơn cao bên bàn ăn sáng, bàn tay phải đặt úp trên bàn. Anne Marie đứng đối diện cậu ta, người cúi xuống; nàng đang đặt lên mu bàn tay cậu ta một mảnh gì đó trông như gạc y tế, như để bảo vệ một hình xăm mới trổ, hay chăm sóc một vết thương. Có thể là một vết bỏng. Thôi đúng rồi. Một vết bỏng. Tôi bắt đầu thấy mọi việc rõ ràng hơn, và từ góc nhìn của tôi trên chiếc xe, trông có vẻ như Thomas đã gây ra nhiều thương tích cho mình hơn là cho Dinh thự Mark Twain. Anne Marie miết miếng gạc nhẹ nhàng và nhiều lần tới mức tôi phát ghen lên với miếng gạc, với bàn tay ở dưới, và với cái người có bàn tay đó.

Nỗi sợ và tình yêu có thể khiến một người đàn ông tự mãn, nhưng sự ghen tuông thì luôn kéo anh ta ra khỏi xe. Tôi xuống xe, sải bước quyết liệt về phía cửa chính. Lần này thì tôi sẽ làm cho được: tôi sẽ nói cho Anne Marie nghe sự thật, bắt đầu bằng việc tôi yêu nàng nhiều đến mức nào và tôi đã không hề lăng nhăng sau lưng nàng, bất chấp tất cả những điều tôi đã từng nói với nàng và những điều Thomas Coleman đã nói với nàng, và tại sao tôi lại biết rõ Thomas bị bỏng tay vì cái gì. Sau đó tôi sẽ tùy cơ ứng biến.

Chỉ có điều, tôi chẳng ứng biến được nước cờ nào. Cửa trước bị khóa chặt. Tôi thử chiếc chìa mang theo, nhưng nó không vừa: Anne Marie đã thay ổ khóa. Việc nàng ở trong nhà vuốt ve bàn tay Thomas Coleman, người tôi bắt đầu coi là kẻ thù không đội trời chung thay vì là nạn nhân như trước, còn chưa đủ hay sao? Sao nàng lại phải thay cả ổ khóa cửa trước cơ chứ? Tôi không thể nghĩ ra sự phản bội nào ghê gớm hơn việc một người vợ thay ổ khóa sau lưng chồng, trừ việc một người chồng phóng hỏa giết người rồi nói dối vợ. Và một người chồng sẽ làm gì khi bị phản bội theo cách tôi đã bị phản bội? Anh ta sẽ nổi trận lôi đình. Thế nên tôi bắt đầu nổi trận lôi đình, tức là tôi bắt đầu đấm thình thình lên cửa. Tuy vậy, việc một người đàn ông đấm thình thình lên cửa nhà mình có một cảm giác gì đó rất bẽ bàng, và đến khi Anne Marie chịu ra mở cửa, tôi cảm thấy cánh cửa như đã không còn thuộc sự sở hữu của mình.

“Gì thế?” Anne Marie hỏi. Nàng bận một chiếc chân váy đen dài thượt và đôi ủng đen tôi vẫn yêu thích, cùng một chiếc áo trắng gần như trong suốt, giúp phô ra hết những chỗ cần phô.

“Anh yêu em nhiều lắm,” tôi nói.

“Ồ, nghe hay đấy,” nàng khoanh tay trước ngực, trông như một phiên-bản-Địa-Trung-Hải-đã-nối-tóc-và-không-có-tẩu-lõi-ngô của tướng MacArthur[1]. Nàng có thần thái của một quân nhân, ý tôi là vậy. “Còn gì nữa không?”

“Thomas,” tôi thấy bí thở một cách kỳ lạ, và nói liền một lèo. “Những gì cậu ta nói không phải sự thật.”

“Anh ấy kể với tôi rồi,” nàng đáp, “rằng thực ra anh không ngủ với vợ anh ấy. Anh ấy cũng nói rằng anh ấy thậm chí còn chưa có vợ nữa. Có đúng không Sam?”

“Chúa ơi,” tôi nói. “Đúng rồi.” Tôi đột ngột cảm thấy kiệt sức đến mức phải ngồi bệt xuống ngay thềm cửa. Sự thật bao giờ cũng hút kiệt sức thay vì giải phóng bạn - đó là một chân lý tôi sẽ đưa vào cuốn cẩm nang đốt nhà của mình - dù không phải sự thật nào cũng vậy mà chỉ những sự thật liên quan đến việc phóng hỏa dinh thự của các văn hào vùng New England.

“Ok, xong rồi nhé,” nàng nói rồi quay trở vào nhà.

“Hượm đã,” tôi nháo nhào đứng lên. “Anh về nhà được rồi chứ?”

“Không được,” Anne Marie đáp, lưng vẫn quay về phía tôi. Tay nàng đặt trên cánh cửa đang mở, chuẩn bị để cho nó chen vào giữa hai người chúng tôi một lần nữa.

“Sao thế?” tôi hỏi.

“Vì anh đã lừa dối tôi,” nàng quay lại đối mặt với tôi. “Tôi không biết vì sao anh dối trá với tôi, nhưng cái chính là anh đã dối trá, và tôi không thể tin anh được nữa.” Sự mệt mỏi đã thay thế cho nỗi giận dữ trong giọng nói của nàng; có thể sự thật cũng đã khiến nàng kiệt sức.

“Em nghĩ là em có thể tin được gã sao?” tôi hỏi, không cần phải nói rõ danh tính của “gã”.

“Tôi không biết tôi nghĩ gì về anh ấy nữa,” Anne Marie thú nhận, đó là cách nàng gián tiếp nói rằng nàng hiểu rất rõ con người tôi, còn Thomas vẫn đầy bí ẩn, và sự bí ẩn bao giờ cũng gần với tình yêu hơn là sự thân thuộc - đương nhiên điều này còn phụ thuộc vào người bạn thấy thân thuộc là ai.

“Xin hãy để anh giải thích,” tôi nói, nhưng nàng đưa bàn tay lên chặn lời tôi.

“Thomas lỡ tay làm mình bị thương,” nàng nói. “Tôi đang bận chăm sóc anh ấy.”

“Thế sao em không hỏi gã vì sao lại lỡ tay làm mình bị thương đi!” tôi cao giọng nói, đầy kích động. “Sao em không hỏi gã ngay lúc này đi!”

Anne Marie nhìn tôi tò mò, đôi lông mày và chiếc mũi xích lại gần nhau, tạo ra một dấu hỏi trên mặt nàng. “Được thôi, tôi sẽ hỏi anh ấy,” nàng nói, rồi đóng và khóa cửa lại sau lưng mình.

Tôi giải nghĩa hành động này là, Tôi sẽ hỏi anh ấy rồi quay ra kể với anh. Thế nên tôi cứ ngồi đợi trên thềm cửa suốt một lúc lâu. Màn đêm buông xuống và dãy cột đèn được thắp sáng. Hàng xóm đã lục tục đi làm về, và bởi đây là Camelot, họ gắng hết sức để lờ đi cái xe của Thomas đậu dưới đường, và việc tôi ngồi thừ ngoài cửa. Rốt cuộc tôi cũng không đợi nổi nữa nên đứng dậy gõ cửa. Tôi gõ, gõ, gõ và gõ. Tôi gây ra một sự huyên náo đến độ tôi tự hỏi không biết những nhà hàng xóm sẽ lờ mình đi được bao lâu nữa. Nhưng tôi cóc quan tâm. Cứ để họ nhìn tôi từ những ô cửa sổ; cứ để họ nhìn tôi gõ cửa. Tôi thấy sung sức lắm; nếu phải gõ cả đêm cũng không vấn đề gì.

Lẽ ra tôi đã gõ cửa suốt đêm, nhưng tôi chợt nghe thấy tiếng một chiếc xe rẽ vào lối đi. Tôi thôi gỗ cửa, quay đầu lại và thấy một chiếc Lincoln Continental màu lục sẫm đang lùi lại để đỗ sau chiếc xe tải mini của Anne Marie. Đó là xe của bố vợ tôi; tôi nhận ra ngay vì ông luôn lái xe hiệu Lincoln Continental, và vì ông vốn là một con người có nguyên tắc, mà một trong những nguyên tắc được ông coi trọng nhất là phải lái lùi xe vào sân.

Nhưng bước xuống xe đầu tiên lại không phải là bố vợ tôi, mà là Katherine, con gái tôi. Con bé vác trên người một cái ba lô to khủng khiếp, cao gần tới đỉnh đầu, khiến nó phải đi từng bước cẩn trọng để cái ba lô không lật ngửa nó ra sau. Trông không khác gì một cô bé miền núi Tây Tạng đang khuân cả thế giới trên vai, một cô bé Tây Tạng tôi yêu và nhớ đến thắt lòng. “Bố yêu con gái,” tôi lên tiếng khi con bé tới gần. “Bố nhớ con nhiều lắm.” Tôi ôm chầm con bé cùng cái ba lô vào lòng, và cả con bé cùng cái ba lô cũng ôm lại tôi, với rất nhiều tình cảm, khiến tôi thật cảm động.

“Bố có vào nhà không bố?” Katherine hỏi. Nó đã đủ lớn để hỏi những câu mà nó đã biết tỏng câu trả lời và rồi sẽ giả vờ như không nhận ra người đối diện chỉ đang trả lời lấp liếm.

“Ừ lát nữa bố sẽ vào,” tôi đáp.

“Vâng,” con bé nói, đoạn bước lên thềm, quay và đẩy nắm đấm cửa, rồi nhận ra cửa đã bị khóa. Nó quay lại nhìn tôi soi xét như muốn nói - Bố là bố con nhưng lại chẳng mở nổi cái cửa bị khóa này ư - rồi với tay ra sau, kéo phéc mơ tuya một ngăn ba lô, móc ra một chùm chìa khóa rồi mở cửa một cách thiện nghệ. Đây là hành động khiến tim tôi đau đớn nhất - không còn gì buồn hơn việc một đứa trẻ có hẳn một chùm chìa khóa cho riêng mình - và lẽ ra tôi đã khóc tu tu ngay tại chỗ, nếu Christian không đột ngột xuất hiện dưới chân tôi và ôm ghì lấy hai cẳng chân và hông tôi, như trò chơi xưa kia của hai bố con: tôi đóng vai gã khổng lồ chuyên cướp bóc còn thằng bé là anh nông dân tí hon nhất quyết muốn lật tôi ngã lộn nhào.

“A, anh bạn,” tôi ôm thằng bé vào lòng. “Chào cậu.” Tôi chuyển qua dùng cái giọng bịp bợm, không tự nhiên mà các ông bố thường nói với các cậu nhóc con mình, trong lòng biết rõ rằng sẽ chẳng mấy chốc những cậu con này sẽ đủ lớn để bảo mình thôi nói cái giọng bịp bợm, không tự nhiên đó đi.

“Cái chỗ ngồi chết tiệt,” bố vợ tôi kêu ca. Ông đứng trước mặt tôi, hơi thở toàn mùi cà phê và cốc nhựa xốp. “Không làm cách nào gỡ thằng bé ra khỏi cái chỗ chết tiệt đó được.” Tiếng của ông hình như có thể khiến cho Christian khinh công: thằng bé biến mất dưới chân tôi và trong tích tắc đã mọc ra ngay trên thềm cửa cạnh chị nó. Cả hai đứa vẫy chào tôi rồi lủi luôn vào nhà.

Đôi nét về bố vợ tôi: ông thấp hơn tôi, người mảnh khảnh, thường hay mặc quần kaki là phẳng và giày lười tiện lợi mua ở góc giảm giá của L.L. Bean. Bạn sẽ không bao giờ bắt gặp ông mặc một chiếc áo sơ mi không có cổ và bây giờ ông đang mặc một chiếc áo sơ mi có cổ, loại kẻ sọc đỏ, cổ tay cài khuy kín. Bà vợ ông, Lousia, dù không xuất hiện nhiều ở câu chuyện này, nhưng lại rất có vị trí trong câu chuyện cuộc đời ông: trong những bữa ăn tối đoàn viên, tôi vẫn thường bắt gặp ổng nhìn vợ với ánh mắt ươn ướt đầy cảm kích - cảm kích vì đã lấy được bà làm vợ, tôi đoán vậy, và cũng có thể ông còn cảm kích vì mình sở hữu một đôi mắt để chiêm ngưỡng bà. Ông cũng nhìn Anne Marie, đứa con gái duy nhất, theo cách tương tự. Ý tôi là, ông là một người chồng và người cha tốt. Tất nhiên, ông cũng kỳ thị chủng tộc ra phết, như tôi đã đề cập ở phần trước; và có nói rằng ông chỉ là người kỳ thị chủng tộc khi chủ đề chủng tộc được người khác khơi lên thì cũng chẳng để làm gì. Tôi không có ý nói ông không phải người kỳ thị chủng tộc, mà chỉ là lúc này, khi nhìn ông, tôi thấy sự kỳ thị đang phải đấu tranh với những đức tính khác, tốt đẹp hơn của ông. Tôi thực ra khá ưa ông, và muốn ông ưa tôi, mà ông vốn vẫn ưa tôi, tôi cho là vậy, cho tới thời điểm này.

“Xin hãy để Anne Marie được yên,” ông nói. Sự thất vọng lộ rõ trong giọng của ông, kéo nó xuống một tông trầm nhất có thể. Đôi mắt ông trũng xuống đầy thù hằn. Tôi thấy có lỗi vì đã kéo ông vào cái mớ bòng bong này. Ông bố vợ tôi vừa về hưu sau ba mươi năm có lẻ trong vai trò chuyên viên thẩm định bảo hiểm. Ông đã hoàn thành việc trả góp cho ngôi nhà đang ở. Cô con gái cưng, ngoài một cuộc hôn nhân có vẻ ổn thỏa, cũng đã có hai đứa nhóc, có nhà riêng, cuộc sống riêng. Để rồi tanh bành ra thế này. Còn gì khủng khiếp hơn việc một người cha, một người ông đầu bạc phải oằn lưng đảm đương một gánh nặng gia đình thứ hai khi vừa mới trút xong gánh đầu tiên.

“Con không thể để mặc mọi chuyện được,” tôi đáp. “Con không thể.”

“Anh phải cố,” ông nói.

“Chẳng lẽ bố muốn con để mặc nàng với,” đến đây tôi chật vật mãi mới tìm được từ thích hợp để thể hiện cảm xúc của mình về con người ấy, “cái cậu đó hay sao ạ?”

“Tôi biết,” ông thừa nhận, và điều này nhen nhúm chút hy vọng trong tôi. “Tôi cũng thấy không yên tâm về cậu ta. Nhưng dù gì thì Marie Anne vẫn muốn anh để nó yên thân.”

“Con không thể,” tôi lặp lại. “Con yêu cô ấy mà.”

“Tôi biết, Sam ạ,” ông nói, và tôi thấy run run, cái cảm giác run run mà bạn trải qua khi tình hình tồi tệ tới mức người ta phải gọi rõ tên bạn ra. “Nhưng tôi không chắc con bé còn yêu anh nữa không.”

Và với câu nói đó, ông biến mất sau cánh cửa - ông đưa tay gõ nhẹ lên cửa, chắc hẳn là ám hiệu riêng, bởi sau đó cánh cửa mở chỉ đủ cho ông lọt người vào rồi ngay lập tức đóng chặt trở lại - và tôi lại một mình lẻ loi ngoài thềm. Tôi nghĩ, nếu như tôi là một người chồng, người cha bị hắt hủi có phẩm giá hơn thì tôi sẽ khăng khăng gõ cửa đến khi nào được trả lời mới thôi, ngay lúc này và ngay tại đây. Nhưng ngay cả khi bị hắt hủi, tôi cũng chẳng có phẩm giá hơn khi là một người chồng, người cha bình thường. Đó là còn chưa kể đến nỗi buồn thê lương trong lòng tôi. Nếu người ta tổ chức cuộc thi xem ai có nỗi buồn lớn hơn thì chắc tôi sẽ về nhất vòng khu vực. Có đôi khi bạn thấy buồn - tôi sẽ viết như vậy trong cuốn cẩm nang đốt nhà - bạn chỉ cần ngồi bệt ra đó mà chờ đợi nỗi buồn chuyển hóa thành một thứ khác, một điều không chóng thì chầy cũng sẽ xảy ra. về khoản này thì nỗi buồn cũng chẳng khác một hòn than hay nham thạch núi lửa.

Nhưng trong lúc đó, ít ra tôi đã thu thập được thêm một vài bí ẩn nữa để đưa vào bộ sưu tập hiện tại. Tại sao Thomas lại nói cho Anne Marie biết việc tôi không lăng nhăng sau lưng nàng? Cậu ta đã kể với nàng những gì về vết bỏng trên mu bàn tay? Và tại sao những điều này lại không khiến nàng tống cổ Thomas đi và gọi tôi quay trở lại? Tôi hy vọng có thể tìm hiểu được cho ra nhẽ, với tư cách một người thám tử, nếu không phải là với tư cách một người chồng. Bởi đây lại là một điểm đặc trưng nữa của một nhà thám tử: bạn đảm nhiệm vai trò thám tử không phải vì bạn làm tốt vai trò một nhà thám tử, mà vì bạn làm các việc khác quá ư dở tệ.

❀ ❀ ❀

[1] Douglas MacArthur (1880-1964): một vị thống soái nổi tiếng của quân đội Hoa Kỳ.

ACE LE dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.