Đồng hồ điểm mười hai giờ kém hai mươi khi tôi đến được bãi đất nơi Dinh thự Emily Dickinson từng tọa lạc. Quang cảnh trông khác hẳn so với ban ngày, dù mới chỉ cách đây có mấy hôm. Mặt đất phủ tuyết dày dễ đến mười lăm phân, nhưng tuyết đã ngừng rơi được một lúc lâu, và bầu trời đã quang đãng hẳn, ta có thể thoải mái chiêm ngưỡng từng chòm sao một, ấy là trong trường hợp ta có thể phân biệt chúng. Nhưng lúc này trời đã bắt đầu nổi gió, những cụm mây nằm rải rác đây đó đang trôi hối hả trên đầu tôi, rặng cây cáng lò khẳng khiu uốn éo trong gió, thỉnh thoảng lại đụng phải những cây phong và bạch tùng đứng cạnh. Một ngọn đèn đường gần đó rọi ánh sáng lập lòe qua hàng cây và tôi ngờ rằng chẳng mấy mà tiếng đàn organ sẽ nổi lên và Vincent Price[1] sẽ bước ra từ bóng tối. Thêm nữa, không hiểu từ đâu lại vẳng lên những tiếng hù, hù làm tôi lạnh cả xương sống, mặc dù tôi biết rõ cái âm thanh ma mị đó hoàn toàn có thể là tiếng mấy cậu choai choai đang đọc lời thề trong lúc bày trò kết nghĩa anh em. Nhưng dù phát ra từ đâu đi nữa, đó vẫn là một âm thanh rợn người.
Tôi rẽ đám cây bước tới, và thấy Deirdre đứng cạnh một chiếc ghế gỗ dài (chiếc ghế hiển nhiên được đặt ở đó để tưởng nhớ Dinh thự Emily Dickinson). Deirdre cũng tới sớm giống tôi. Bà ta bận một chiếc áo khoác đỏ, đeo khăn choàng đỏ, găng tay đỏ và đội một chiếc mũ trượt tuyết đỏ, đồng bộ từ trên xuống dưới. Và điều này sẽ được lưu lại trong cuốn cẩm nang đốt nhà: nếu bạn muốn tỏ vẻ nguy hiểm thì đừng mặc nguyên một cây đỏ như vậy. Deirdre là điểm ít ma mị nhất ở chốn này.
“Chào Sam,” bà ta lên tiếng, “cậu thấy thế nào khi quay lại chốn xưa?”
“Thật là tuyệt,” tôi đáp. “Trên cả tuyệt vời. Nhưng sao tôi lại phải đến đây nhỉ?”
Deirdre chau mày lại, một vẻ cau có mà ta có thể cho là khá quyến rũ nếu như ta đang muốn bị quyến rũ. Mái tóc màu vàng rơm của bà ta dài rủ xuống vai giống như lời mẹ tôi tả, và Deirdre bồn chồn vuốt tóc bằng hai bàn tay đeo găng của mình. “Cậu đến đây vì tôi gọi cậu đến đây gặp tôi.”
“Thì biết thế,” tôi nói, “nhưng tại sao bà lại gọi tôi đến đây chứ?”
Ngay lúc đó, rặng cáng lò bắt đầu uốn éo và kêu răng rắc dù cho gió chưa mạnh lên là bao, khiến cả Deirdre và tôi trong giây lát quên khuấy đi cuộc chuyện trò và ngước lên ngắm chúng. Chúng có màu trắng bạc và khác hẳn với đám cây xung quanh. Phong và thông là loại cây vững chãi và mọc thành từng cụm, còn những cây cáng lò lại khẳng khiu và đơn côi, cây nào cây nấy cũng đều mọc cách xa nhau như những đứa con một lạc lõng giữa một bầy anh chị em đông đúc vui vầy. Ngài Frost đã dạy cho tôi biết rằng cáng lò vốn được coi là loại cây mang đậm chất New England nhất, và nếu quả đúng vậy thì tôi không thể không nghĩ rằng New England là một vùng đất thật tội nghiệp.
Khi gió đã dịu và rặng cáng lò im ắng trở lại, chúng tôi quay trở lại với câu hỏi tại sao tôi lại được gọi đến đây.
“Bởi vì nơi đây khi xưa là Dinh thự Emily Dickinson, Sam ạ,” Deirdre nói thật chậm rãi như thể tôi là kẻ chậm hiểu. “Cậu đã đốt trụi ngôi nhà. Thật trớ trêu.”
“Bà nói đúng, thật trớ trêu,” tôi đáp, có điều tôi không ám chỉ ngôi nhà, mà ám chỉ chính bản thân Deirdre. Rõ ràng bà ta là bản sao của tôi trong sự đầu lừa. Bà ta và tôi là một cặp xứng đôi vừa lứa. Và tôi tự hỏi không biết có phải bố đã phải lòng bà ta vì bà ta giống tôi, và hết yêu mẹ vì bà không giống tôi; và có phải tình yêu chính là thứ mà chúng ta, những tạo vật của tình yêu, sẽ tước lấy từ tay bố mẹ ta bởi ta chỉ có thể thực sự giống một trong hai bọn họ? Có phải đây là lý do vì sao người ta muốn có nhiều hơn một đứa con: để cả hai đấng sinh thành không phải cảm thấy ghen tị và cô đơn.
“Thế bố tôi có biết bà gọi tôi đến đây không?”
“Ông ấy chả biết chuyện gì hết,” Deirdre đáp. “Ông ấy không muốn qua lại với ta nữa.”
“Tại sao?”
“Tại cậu đấy,” Deirdre nói. Giọng bà ta thay đổi khi nói câu đó và tôi nhận ra rằng nỗi căm ghét bà ta dành cho tôi là thứ duy nhất ngăn cản bà ta bật khóc. “Bởi vì ông ấy thấy nhục nhã sau lần chạm trán ở nhà cậu. Ông ấy nói rằng không thể tiếp tục được nữa, không thể gặp ta thêm lần nào nữa, rằng bất kể bọn ta có yêu nhau thế nào chăng nữa thì mọi chuyện cũng đã kết thúc rồi.”
“Có thể hai người không thực sự yêu nhau.”
“Yêu chứ sao không,” Deirdre nói. “Mọi thứ đã rất tốt đẹp.”
“Với mẹ tôi thì có gì tốt đâu.”
“Mọi thứ đều tốt,” bà ta khăng khăng, “cho tới khi cậu quay về và làm tanh bành hết mọi thứ lên.”
“Deirdre,” tôi nói, “có phải bà đã đốt Dinh thự Edward Bellamy?”
Như đã nói ở trên, giờ đây tôi đã trở thành một người đọc thực thụ và đã đọc khá nhiều tiểu thuyết trinh thám, thậm chí là cả một vài bài luận văn hướng dẫn cách viết tiểu thuyết trinh thám, nên giờ thì tôi đã biết rằng đây là một quyết định ngốc nghếch: ta không thể hỏi thẳng một nghi phạm rằng có phải họ đã gây tội hay không vì chẳng đời nào họ chịu nhận; ta phải bắt quả tang thủ phạm mới được. Giờ thì tôi đã ngộ ra, và lần sau, nếu có lần sau, tôi sẽ làm khác đi, theo lời dạy trong sách. Nhưng bạn nên nhớ, tôi chỉ là một kẻ đầu lừa, tôi nào có biết rằng mình không nên hỏi trắng phớ ra như vậy, còn Deirdre cũng là một bà đầu lừa, bà ta cũng nào có biết rằng mình không nên trả lời thẳng toẹt ra.
“Đúng thế đấy,” bà ta vùi mặt vào hai cái găng tay đỏ.
“Thế còn Dinh thự Mark Twain?”
“Ừ ta cũng tìm cách đốt nó,” bà ta lặp lại, giọng nghèn nghẹn. “Nhưng ta chẳng làm được gì ra hồn cả.”
“Sao bà lại làm thế?”
“Vì ta biết việc này sẽ xảy đến,” bà ta ngước đầu lên nhìn thẳng vào mắt tôi. “Ta đã biết ngay rằng một khi cậu về nhà thì Bradley thể nào cũng sẽ cảm thấy có lỗi và ruồng bỏ ta để quay lại với mẹ cậu. Nên ta buộc phải làm gì đó.”
“Nên bà mới đốt những ngôi nhà kia và nghĩ rằng tôi sẽ bị buộc tội,” tôi đoán.
“Ta chẳng làm gì ra hồn cả,” bà ta khóc nghẹn ngào. Đương nhiên, Deirdre đã lầm ở điểm này; trinh sát Wilson đang chạy ngược xuôi để cố buộc tội tôi và chứng minh rằng Deirdre đã sai lầm đến mức nào. Ngay lúc đó tôi bỗng thấy ghét Deirdre vì những gì bà ta đã gây ra cho tôi, cho mẹ tôi, cho bố tôi và cho cả những ngôi nhà đó nữa. Nhưng đồng thời tôi cũng thấy thương cảm cho bà ta, vì những gì bà ta làm đều là vì tình yêu cả, và vì bà ta, một kẻ đầu lừa, đã chẳng làm được gì cho trọn vẹn, và tôi đồ rằng nó - nỗi thương cảm dành cho những người ta ghét - chính là cái phần nhân văn của con người, khiến cho ta phải tự hỏi rằng đã thế thì sao ta lại muốn làm con người cơ chứ.
“Sam à,” Deirdre nói, và tôi có thể cảm thấy được một lời khẩn cầu tuyệt vọng bên trong giọng nói của bà ta, tôi có thể cảm thấy được cái giọng nói ấy đang bị kẹt cứng giữa một bên là quá nhiều hy vọng, một bên là quá nhiều đau thương. Tôi biết Deirdre sắp hỏi tôi điều gì, và tôi thấy mừng, vì tôi biết mình sẽ trả lời thế nào, tôi biết mình sẽ nói ra cái từ cay nghiệt ấy, cái từ sẽ mang lại cảm giác thỏa mãn tột cùng cho chủ nhân của nó, một thứ cảm giác luôn mau chóng bị thế chỗ bởi cảm giác hối tiếc cùng cực.
“Không,” tôi nói, lời này là dành cho mẹ tôi.
“Bố cậu đang ở nhà lúc này.”
“Không,” tôi nói, lời này là dành cho tôi.
“Ta muốn cậu về nhà và khuyên bố cậu hãy quay lại với ta. Cậu biết ông ấy yêu ta mà. Cậu có thể cứu vãn được quan hệ của chúng ta. Nếu ông ấy không yêu ta thì trong bao nhiêu năm qua ông ấy đã chẳng hành xử như vậy.”
“Không,” tôi nói, lời này là dành cho bố tôi, mặc dù - hay là bởi vì - tôi biết Deirdre đã nói đúng.
“Cậu có thể giữ lấy số tiền ba ngàn đô ta để trong phong bao ấy,” bà ta nói. Tôi có thể nghe thấy sự kiệt quệ trong giọng nói của Deirdre, rằng bà ta đã chạm đến giới hạn của mình. “Tôi xin cậu đấy Sam.”
“Không, không, không,” tôi nói, ẩn trong đó là ý nghĩ, Trả thù, trả thù, trả thù.
Khi tôi nói từ “không” cuối cùng, Deirdre dường như có vẻ rất mệt mỏi, hết sức mệt mỏi. Hai cánh tay bà ta buông thõng ở hai bên sườn, hai vai gù xuống. “Không,” bà ta uể oải lặp lại, rồi với tay ra sau chiếc ghế dài nhấc lên một chiếc can nhựa màu đỏ đựng xăng, đưa lên trước mặt như thể nó là một vật tế thần. Ngay lập tức tôi muốn rút lại tất cả những lời vừa nói, muốn rút lại mọi từ “không” để thay bằng từ “được”, như cái cách chúa Jesus hô biến nước trắng thành rượu, biến ổ bánh mì thành thức ăn cho cả đám đông. Mà sao ngài lại làm thế nhỉ? Có phải vì ngài lo lắng cho con dân của mình, hay là lo cho chính bản thân ngài? Có phải vì ngài không biết rằng liệu con dân của mình có thể sống khỏe chỉ với nước và bánh mì hay không, hay là vì ngài không biết rằng liệu mình có thể tha thứ cho bản thân nếu để mặc cho họ sống như vậy hay không?
“Deirdre,” tôi cố trấn tĩnh, “thực sự tôi không hề có ý đó đâu.”
“Biết đâu cậu có ý đó thì sao.”
“Biết đâu tôi không có ý đó thì sao,” tôi nói. “Xin bà hãy bỏ can xăng xuống.”
“Ta không muốn sống thiếu bố cậu, Sam ạ,” Deirdre nói. “Không có ông ấy, ta thấy như người chết rồi.”
“Biết đâu bà sẽ gặp người khác thì sao,” tôi nói.
“Biết đâu ta không muốn gặp ai khác,” bà ta nói rồi đưa can xăng lên đầu và giơ nghiêng cho xăng đổ xuống đầu, xuống lưng và ngực. Sự việc xảy ra quá nhanh khiến tôi không có đủ thời gian để làm hoặc thốt lên bất cứ thứ gì. Hoặc đó chỉ là những gì tôi tự nói với mình. Bởi xét cho cùng, tôi đã nhìn thấy can xăng, và tôi còn có thể nghĩ gì khác được chứ? Có phải sự việc xảy ra tiếp theo đó đã bắt nguồn từ những gì Deirdre đã làm, hay là từ những gì tôi đã không làm? Chúng ta được nhìn nhận bởi những gì mình làm, hay là bởi những gì mình không làm? Hay tốt nhất là không nhìn với nhận gì nữa?
“Vĩnh biệt Sam,” bà ta nói. “Xin hãy tha thứ cho bố cậu. Ông già tội nghiệp ấy yêu cậu nhiều lắm.” Rồi bà ta rút ra một chiếc bật lửa, bật lửa lên và nắm lấy một lọn tóc của mình. Deirdre đang tự châm lửa đốt mình, không phải đốt từ chân đốt lên như cái cách cư dân Salem đã đốt những người bị tố là phù thủy, mà là từ mái tóc. Từ mái tóc. Ngay cả lúc này đây, khi bảy năm đã trôi qua, cảnh tượng Deirdre nắm lấy tóc mình và châm lửa - tiếng kêu tách khô khốc của chiếc bật lửa; cái cách Deirdre ghì chặt lấy mớ tóc như thể bà ta là một đứa trẻ đang bị giật tóc bởi một đứa bạn, hoặc một giáo viên, đặc biệt tai ác; cái mùi tóc cháy, thứ mùi khiến cho mùi xăng trở nên dễ chịu như nước hoa; vẻ mặt khủng khiếp, buồn bã và nhẫn nại của Deirdre khi bà ta đợi cho mồi lửa bén từ tóc lên đầu, rồi lên mặt mình; cái cách mà gương mặt bà ta thét lên rồi biến mất trong ngọn lửa; cái cách mà tôi đứng đó nhìn bà ta cháy phừng phừng - chính là cái ký ức luôn khiến tôi bừng dậy khỏi một giấc ngủ sâu mà la hét và khóc lóc. Ấy là nếu tôi ngủ được, bởi trong phần lớn thời gian, cái ký ức đó đã là tác nhân khiến cho giấc ngủ không thể tìm đến với tôi. Nếu tôi có thể lựa ra một thời khắc hoặc một chi tiết để loại bỏ khỏi trí nhớ, thì chính là nó, và đây là một điều nữa tôi sẽ đưa vào cuốn cẩm nang đốt nhà: chi tiết tồn tại không chỉ để khiến ta nhớ tới những thứ ta không muốn nhớ, mà còn để nhắc nhở ta về những thứ ta không xứng đáng được quên.
“Deirdre, đừng!” tôi hét lên, nhưng có trời mới biết bà ta có nghe thấy tôi không. Lúc này ngọn lửa đã lan ra khắp mái tóc và chiếc mũ đã bốc cháy bừng bừng. Rồi đến lượt đầu bà ta bắt lửa và hóa thành lửa, một quả cầu lửa, và trong giây lát đó là bộ phận duy nhất đang cháy trên cơ thể của Deirdre. Cả người bà ta vẫn đứng yên, và cái đầu đang cháy bỗng vẹo sang một bên như thể bà ta đang lắng nghe giọng nói vẳng ra từ bên trong mình, chỉ có điều nó không hỏi, Còn gì nữa? Còn gì nữa? mà thủ thỉ với bà, Hết rồi, hết rồi.
“Kìa Sam, hãy làm gì đi chứ!” Tôi nghe thấy một giọng nói vang lên, nhưng không phải giọng của tôi, cũng không phải giọng nói bên trong tôi, mà là của trinh sát Wilson, lúc này vừa đột ngột hiện ra bên cạnh tôi. Cậu ta, như sau này tôi phát hiện ra, đã đọc mẩu giấy trong phong bao và biết rằng mình phải có mặt ở đây lúc nửa đêm. Và cậu ta đã đến. Nhưng cả tôi lẫn Deirdre đều đến sớm, và cũng vì vậy mà cái cơ sự này mới diễn ra… Tôi và trinh sát Wilson cùng nhau chạy về phía Deirdre. Trinh sát Wilson đẩy bà ta ngã xuống tuyết, tiếng lửa cháy xèo xèo vang lên. “Đưa áo khoác anh đây!” cậu ta thét lên (cậu ta đang mặc độc một cái áo nỉ trùm đầu). Tôi làm theo và cậu ta bắt đầu dùng nó để dập lửa trên người Deirdre, vừa dập vừa thủ thỉ những lời an ủi nhẹ nhàng.
“Đây là lỗi của anh đấy, đồ chết tiệt,” cậu ta nói với qua sau vai. Tôi trông thấy Deirdre nằm đó: chiếc áo khoác đỏ đã chuyển thành đen, cả khuôn mặt bà ta cũng vậy. Thứ duy nhất trên người bà ta còn chưa cháy đen là đôi mắt: chúng mở trợn trừng, trắng dã, nhìn thẳng lên trời, lên rặng cáng lò, lên những vì sao, hoặc chẳng nhìn vào gì cả. Tôi quay mặt nhìn đi chỗ khác, rồi nhìn sang can xăng nằm cạnh cơ thể bà ta. Mặc dù trời tối đen, tôi vẫn có thể nhìn ra được đó chính là mẫu can tôi từng góp phần thiết kế nên cái thời tôi còn thiết kế cái này cái kia. Rồi tôi không nhìn can xăng nữa, mà nhắm mắt lại, hai hốc mắt đột nhiên chan chứa nước mắt, bởi nước mắt là cách đôi mắt ta không cho ta quay sang nhìn chỗ khác và ép ta phải nhìn thẳng vào thế giới ta đã tạo ra hoặc phá bỏ.
“Không phải tôi mà,” tôi bước lùi ra sau, việc mà ta vẫn làm mỗi khi không đủ can đảm để làm bất cứ thứ gì khác. “Bà ấy tự thiêu đấy chứ.”
“Tổ sư nhà anh,” trinh sát Wilson vẫn đang điên cuồng dập lửa trên người Deirdre. “Tôi nhìn thấy hết đấy chứ. Nhưng thế thì sao? Anh chẳng chịu ngăn cản cái đếch gì cả.”
“Bà ấy bảo tôi tới đây gặp bà ấy,” tôi nói. “Bà ấy muốn tôi cứu bà ấy và bố tôi.”
“Thì lẽ ra anh phải cứu bà ấy chứ,” cậu ta nói, và tôi chợt nhận ra cậu ta đã bắt đầu khóc, bởi đó là việc mà ta làm khi ta đã làm hết những thứ khác, và rồi tôi cũng khóc nức nở theo, bởi đó là việc mà ta làm khi ta đã không làm hết những thứ cần làm và sợ rằng đã quá muộn để bắt đầu lại.
“Bà ấy chết rồi à?” tôi hỏi.
“Lẽ ra anh có thể cứu bà ấy,” trinh sát Wilson nói “nhưng anh chả làm gì.”
Đến đây thì tôi quay người và co cẳng chạy thục mạng. Deirdre đã muốn tôi cứu bà ta, và tôi đã có mặt quá sớm để rồi lại chẳng làm gì. Nhưng Deirdre cũng muốn tôi cứu cả bố tôi. Mẹ tôi thì đang ở cách đây vài lô nhà, tại nhà chúng tôi, cùng với bố tôi. Tôi ráng chạy nhanh hết sức, nhưng khi tôi đến nơi thì cũng đã qua muộn mất rồi.
❀ ❀ ❀
[1] Một trong những diễn viên đóng phim kinh dị nổi tiếng nhất ở Mỹ.