Giờ đây khi tôi đã trở về nhà và nằm trong phòng ngủ nơi mẹ tôi từng kể cho tôi nghe những câu chuyện về Dinh thự Emily Dickinson - những câu chuyện mà, như bạn đã biết, khiến tôi trót châm lửa thiêu nó ra ma - có lẽ đã đến lúc để giải thích một số chi tiết đã bị hiểu lầm hoặc đưa tin sai lệch về đám cháy lẫy lừng nọ.
Tôi đã không hề đi “thám thính” trước lúc xảy ra đám cháy, như lời buộc tội của công tố viên trong phiên tòa. Tôi chỉ đơn thuần mua một chiếc vé giá hai đô la để đi tham quan một vòng ngôi nhà cùng với một nhóm sinh viên và giáo viên của họ, những người đến từ một ngôi trường có tên Dickinson College (“Chẳng có liên hệ máu mủ gì đâu,” bà giáo bông đùa, và thế là ai nấy đều rộ lên cười như nắc nẻ). Bà giáo vừa đi vừa tung hứng chiếc bút mực từ tay này sang tay kia. Lũ sinh viên thì ai cũng đều mặc áo gió trượt tuyết. Nếu bảo rằng tôi đi “thám thính”, thì họ cũng có khác gì đâu.
Tôi cũng nào có phải một tên Nam kỳ chúa ghét tụi Bắc kỳ, như tờ Chim ưng hạt Hampden đã chụp mũ. Thì đúng là trước khi bắt đầu đi tham quan, tôi đã ký vào cuốn lưu niệm cái tên “Sidney, đến từ Baton Rouge, Louisiana”, nhưng chỉ là đùa cợt và để nghe cho có vẻ bí hiểm thôi mà. Giá mà bà Coleman không bị tôi ngộ sát thì chắc hẳn bà đã chứng thực được rằng tôi đã ngay lập tức hối hận về trò đùa đó, bởi vì bà đã đọc được dòng tôi ký và niềm nở nói, “Hân hạnh được tiếp cậu, Sidney,” và tôi đã không hề mở miệng trong suốt buổi tham quan vì sợ bị lộ rằng khẩu ngữ của mình chẳng có tí miền Nam nào.
Và tôi lại càng không cáu kỉnh và rồ dại trong suốt buổi tham quan như lời một cậu sinh viên Dickinson College làm chứng trước tòa. Tôi chỉ là một cậu nhóc bình thường, bình thường như bao cậu nhóc khác, và bình thường như tôi lúc này đây. Nếu có thì khi đó tôi chỉ hơi bồn chồn. Tôi bồn chồn là vì sau khi nghe mẹ kể chuyện, tôi cứ mong chờ một thứ gì đó siêu phàm, hắc ám và bí hiểm ở ngôi nhà. Nhưng chả có gì sất. Chúng tôi được cho xem một hộp kính trưng bày một trong những lá thư của Dickinson; được cho xem tấm ga trải giường của bà, màu đỏ, họa tiết hoa cúc trắng; được cho xem đồ đạc trong nhà bà, mà như bà Coleman giải thích thì thực chất không phải đồ đạc thật của Dickison mà chỉ là những bản sao trung thành. Ôi, sao mà chán ngắt! Chẳng giống tí gì với những câu chuyện mẹ kể cả. Thế nên có lẽ tôi hơi bồn chồn - tôi nhớ mình đã ngáp một cái rõ to vì quá chán ngán, khiến ai nấy đều quay lại nhìn - và có lẽ đó là lý do vì sao tôi lại đột nhập vào ngôi dinh thự ngay đêm hôm đó: để xem nơi này sẽ như thế nào khi không có mặt người hướng dẫn viên, bà giáo và đám sinh viên.
Còn cáo buộc của công tố viên rằng tôi đã giết ông bà Coleman “một cách máu lạnh” là hoàn toàn bịa đặt. Tôi thậm chí còn chẳng biết họ đã ở trong ngôi dinh thự đó. Tôi đã nhắc đi nhắc lại chi tiết này, dù có vẻ như nó chẳng làm thỏa mãn ai, cũng chẳng làm ai vui lên, dù cho nó là sự thật trăm phần trăm, khiến cho ta băn khoăn vì sao mọi người cứ muốn nghe sự thật đến thế.
Và những lời xì xào trong trường tôi (trong thời gian được bảo lãnh tại ngoại, tôi đi học lại và nghe được tụi bạn đồn thổi) rằng toàn bộ vụ việc chẳng qua chỉ là hậu quả thảm hại của một câu lạc bộ sex hoạt động quá trớn, cũng sai nốt. Quả thật tôi cũng có ý định rủ cô bé tên China mà tôi vẫn chơi cùng và ngày đêm tơ tưởng, cái kiểu tơ tưởng tụi con trai vẫn dành cho những đứa con gái mang tên ngoại lai và có xe riêng, một thứ mà China cũng có. Và đúng là, với China thì tôi luôn nghĩ đến sex, lồ lộ trong đầu, ngay ở thùy trước của não. Nhưng đêm đó tôi có rủ cô ta đến Dinh thự Emily Dickinson đâu cơ chứ. Tôi chẳng dại gì. Thật mà! Bạn cứ nghĩ mà xem, liệu tôi có dám làm tình với ai ở trong cái ngôi nhà quái gở đó không, sau tất cả những chuyện mẹ tôi đã kể? Đặc biệt là câu chuyện về hai đứa choai choai một trai một gái học cùng trường trung học (lại là một trai một gái - “chip hôi”, mẹ tôi gọi chúng như vậy) mua một lốc sáu chai bia Knickerbocker và quyết định đột nhập vào Dinh thự Emily Dickinson.
Vẫn là hai đứa bé ngày xưa nhưng nay đã lớn, vẫn ngoan nhưng không ngoan bằng hồi xưa. Mẹ nhấn mạnh rằng hai đứa đã suy tính quá nhiều về những việc chúng đang làm và muốn làm. Lỗi của chúng là ở việc tính toán, thế nên tôi tự rút ra bài học là “đừng có tính toán” và đến giờ vẫn tâm niệm làm theo. Chúng vừa bước đi vừa hôn hít nhau, một việc không dễ. Cậu nhóc tay xách lốc bia đựng trong túi ni lông có quai; trong ví có nhét bao cao su và túi áo khoác thì thủ một thanh xà beng mini. Cậu ta hết sức tự tin về thể lực của mình và những dụng cụ mang theo, và ngầm tính rằng nếu không đạp bung được cửa thì sẽ nạy khóa mà vào. Thường thì cánh cửa sẽ dễ dàng bật tung, vì nó đã cũ, hơi mục nát, và sẽ bật mở ngay sau cú đạp đầu tiên, như tôi đã từng mục sở thị.
Mẹ kể chuyện này khi tôi mười bốn tuổi, sau khi bố quay về, và sau khi ông về thì những câu chuyện của mẹ trở nên vừa nghiệt ngã hơn lại vừa thoải mái hơn, ít căng thẳng hơn nhưng lại gớm guốc hơn nhiều, thí dụ như câu chuyện nọ về hai đứa choai choai với lốc bia và bao cao su. Ôi quả là kinh hoàng. Chúng bước vào ngôi nhà và bắt đầu hành sự, thế rồi chẳng bao lâu sau, những mẩu xương, thịt, gân người bắn tung tóe lên tường, trườn xuống gầm bàn phấn, nhảy tọt cả vào lỗ đưa thư rồi dính bết trong đó: một thông cáo chuyển nhà không thể tởm hơn. Vương vãi đây đó là nhũng chiếc nhẫn vàng giả, mũ bóng chày, chun buộc tóc, bao cao su, và các chai bia còn kín nắp, tựa như đống thức ăn thừa được ợ ra sau một trận đánh chén kinh hồn táng đởm. Những vật chứng nhắc nhở về hình phạt cho tội làm tình chui. Đúng là một cảnh tượng kinh dị, một bể máu hai đứa nhóc đã tự đâm đầu vào, nên từ đó tôi đã quán triệt bản thân rằng nếu có bao giờ làm chuyện ấy, thì ngàn vạn lần cũng không để cho nó diễn ra trong Dinh thự Emily Dickinson.
Thế nên làm gì có tí sex nào, cũng chẳng có câu lạc bộ sex nào cả. Còn tất nhiên ông Coleman đã chơi trò gì với bà Coleman đêm đó thì tôi không thể biết được. Sau cơn hỏa hoạn, họ chỉ còn là một nhúm xương và mô kết nối. Tôi chỉ biết nhiêu đó.
Và khi còn nhỏ thì tôi cũng không phải là một “tiểu quỷ cuồng lửa” như bà giáo lớp một của tôi làm chứng. Không hề! Bà ta thề thốt trước tòa rằng đã bắt quả tang tôi hồi mới lên sáu đã biết cầm kính lúp mắm môi mắm lợi đốt, hoặc chí ít là ráng đốt, một tổ kiến ngoài sân chơi (hôm đó trời đầy mây, một lô một lốc mây). Để tôi nói cho bạn biết, tôi có phải đứa trẻ duy nhất trong lớp bà Frye chuyên đốt tổ kiến để rồi nhờ đó mà biết thêm chút ít về năng lượng mặt trời đâu. Và để tôi nói cho bạn biết, cái chuyện xảy ra từ hồi lớp một thì có liên quan cóc khỉ gì đến việc đã xảy ra với Dinh thự Emily Dickinson. Tôi đã quên bặt cái vụ tổ kiến, và nói thật là tôi còn chẳng có tâm trí nào nghĩ đến lửa với khói trong khi đột nhập vào Dinh thự Emily Dickinson. Đầu óc tôi chỉ lùng bùng rặt những câu chuyện mẹ kể - chẳng hạn chuyện về cái xác của Emily Dickinson được giấu kỹ ở một trong hàng tá gian phòng bí mật trong ngôi nhà và sẽ chuyển mình sống dậy (hoặc chí ít là xê dịch được) chỉ khi có trăng tròn. Đêm đó trăng tròn vành vạnh, và để tự trấn an tôi đã rít một điếu thuốc - một thói quen mới hình thành, nhưng rồi đã chết yểu - và đột ngột nghe thấy một tiếng động. Ai mà biết nó là cái gì? Có thể là tiếng ngôi nhà chuyển mình cựa quậy hay tiếng thân cây uốn mình theo gió. Cũng có thể là tiếng hai vợ chồng Coleman đang tận hưởng thời khắc riêng tư cuối cùng trên đời. Hoặc tiếng bà Emily Dickinson đang lết ra khỏi gian phòng bí mật, tiến hết tốc lực về phía có mùi máu ấm, tức là chỗ tôi đây, với cặp con ngươi trắng dã còn hơn cả trong phim kinh dị. Dù là cái gì, thì tôi cũng đã quăng vội điếu thuốc và ba chân bốn cẳng tẩu thoát khỏi ngôi nhà trước khi nhận ra lửa tàn thuốc đã kịp bén vào đuôi tấm rèm cửa phòng khách, rồi liếm sang tấm thảm, vân vân và vân vân. Nhỡ tay làm cháy? Đúng là như vậy. Tiểu quỷ cuồng lửa? Không hề.
Nhưng bạn có biết điều gì là sự thật không? Những câu chuyện của mẹ tôi hay ra trò. Ông thẩm phán đã nói thế, vào lúc tuyên phạt, khi luật sư bào chữa đang giải thích lại vì sao trước hết tôi lại có mặt trong ngôi dinh thự và tôi đang giải thích lại về những câu chuyện của mẹ. Ông thẩm phán cắt ngang, “Chắc hẳn mấy câu chuyện đó phải hay lắm.”
“Vâng đúng đấy ạ,” tôi đáp.
“Nhưng nói đi thì phải nói lại,” ông ta phán - một nhận định sặc mùi chủ quan, nhưng tôi nghĩ rằng bộ áo thụng kia, cái ghế cao ngất cùng chiếc búa gỗ hoành tráng đã trao cho ông ta cái quyền đó, “nếu một câu chuyện hay lại khiến cậu làm việc xấu, thì câu chuyện đó có thực sự hay?”
“Gì cơ ạ?” tôi hỏi. “Bị cáo chưa hiểu lắm ạ.”
“Thưa quý tòa, e là bản thân tôi cũng chưa hiểu lắm,” luật sư của tôi lên tiếng.
“Tôi cũng vậy,” công tố viên nói, vị này giống y hệt như luật sư của tôi, chỉ có điều ông ta mặc một bộ vest rẻ tiền hơn và cũng vì thế mà cứ cấm cấm cảu cảu.
“Hãy bỏ quá cho tôi” ngài thẩm phán đáp. “Một câu hỏi cũng thú vị đấy phải không ạ? Có phải một câu chuyện chỉ được coi là hay nếu như nó có ảnh hưởng? Thế nếu đó là ảnh hưởng xấu, nhưng mục tiêu của nó lại là thế, thì câu chuyện đã tròn phận sự chưa? Nó có còn được coi là hay không? Nếu một câu chuyện gây ra ảnh hưởng khác với mục tiêu đề ra, thì ta có gọi nó là câu chuyện tồi? Mà liệu ta có thể cho rằng một câu chuyện sẽ gây ra được một ảnh hưởng nào đó? Liệu ta có nên mong như vậy? Liệu ta có thể trút lên một câu chuyện một tội nào đó? Một câu chuyện có thể thực sự làm một cái gì đó hay không?” Nói đến đây, ông ta dòm tôi từ phía trên cặp kính, ánh mắt đầy uyên bác, khiến ta chắc mẩm ông này hẳn từng ôm mộng làm giáo sư ngữ văn chứ chả thiết tha gì với chức thẩm phán cả, và vẫn dấm dúi đặt mua dài hạn đủ loại tạp chí văn học chuyên ngành. “Thí dụ như, anh Pulsifer này, ta có thể trút hết tội phóng hỏa giết người lên đầu một câu chuyện được không anh?”
“Hử,” tôi ngẩn người ra, làm như đang nghĩ ngợi để trả lời, mà lẽ ra phải vậy; nhưng thay vào đó lại ngoảnh nhìn mẹ tôi, lúc này đang ngồi ngay sau lưng tôi. Trên trán bà hẳn cũng đã đóng một bảng đèn tuýp nhấp nháy các từ THÁCH THỨC, LĂNG NHỤC, HỐI TIẾC, như là lối vào nhà tôi đã bị bôi nhọ bằng QUÂN GIẾT NGƯỜI và ĐỒ PHÁT XÍT nhiều năm sau này.
“Hử,” tôi lặp lại.
“Thôi, vào tù thì tha hồ dư dả thời gian nghiền ngẫm nhé, anh Pulsifer ạ,” ông thẩm phán bảo tôi. “Nhớ nghiền ngẫm đấy.”
“Vâng ạ,” tôi đáp. Bởi vì đó là một câu hỏi thú vị, với ông ta.
Nhung tôi chưa một lần để tâm tới câu hỏi đó, sáng nay cũng không phải ngoại lệ, khi tôi mở mắt tỉnh dậy trong căn phòng ngủ cũ lần đầu tiên trong mười năm qua. Tôi chẳng hề nghĩ về những gì mà lẽ ra mình phải bận tâm: vợ tôi, lũ trẻ, Thomas Coleman, hay bố mẹ cậu ta. Không, đầu óc tôi đang bị choán chỗ bởi những lá thư nọ, ùa ra chật cả đầu - có lẽ vì tôi đã cố kìm nén chúng trong một thời gian quá lâu. Mà cũng có thể là vì ta thấy dễ dàng và an toàn hơn khi nghĩ tới những thứ không nên để tâm, hơn là nghĩ tới những thứ nên để tâm. Giọng nói vẫn giục giã tôi, Còn gì nữa? Còn gì nữa? cũng biết rõ điều này. Tôi nằm đó, trên chiếc giường thời ấu thơ, khi giọng nói trong đầu văng vẳng, Còn gì nữa? giờ đây không còn có ý hỏi Còn vợ con cậu thì sao? Hay là về nhà mà thú nhận hết sự thật với họ nhỉ? mà lại ẩn ý Còn những lá thư ấy thì sao? Chúng đang ở đâu rồi? Vâng, giọng nói đó cũng là loại hèn nhát, giống hệt tôi đây.
Xỏ vội bộ quần áo mặc từ hôm qua, tôi lết xuống căn phòng bố đang nằm. Đèn đóm tắt ngúm, giường chiếu đã được dọn dẹp, còn bố tôi thì đã biến đi đâu mất tăm. Tôi mở ngăn kéo cái bàn con, chiếc hộp vẫn sờ sờ ra đó, bên trong vẫn là chồng thư trong ký ức năm nào. Thay vì gây xúc động bồn chồn, giây phút này bỗng trở nên yên bình đến lạ. Tôi chợt thấy vững dạ: căn nhà và bố tôi đã thay đổi, nhưng ít ra những lá thư thì vẫn ở nguyên chỗ cũ, tuy có sờn rách, cũ đi và hoen ố hơn xưa, khiến tôi hình dung ra cảnh bố tôi ngồi đó trên ghế nghiền ngẫm từng lá thư một, hết lượt này đến lượt khác, và băn khoăn không biết giờ này thằng con mình đang lưu lạc ở phương trời nào. Quả là một thời khắc bố-con cảm động. Thế rồi tôi nghe thấy một tràng ho sù sụ vang lên ngoài phòng khách, như thể đó là một lời cảnh cáo dành cho tôi. Tôi bèn cất thư vào hộp, cất hộp vào trong ngăn kéo, đóng ngăn kéo lại, rồi lần theo tiếng ho.
Phòng khách tinh tươm hơn rất nhiều so với cảnh tượng tôi thấy hôm qua. Bao nhiêu chai bia rượu đã bay biến đi đâu, mặt bàn sạch trơn không còn các khoảng hoen ố, như thể chúng đã bị triệu hồi về sào huyệt của chúng. Chỉ còn đúng một chiếc gạt tàn pha lê trên bàn cà phê, bên trong không hề có tàn thuốc. Chiếc xe đạp cố định vẫn nằm trong phòng khách, nhưng giờ đã nép bẽn lẽn vào sát tường chứ không còn chình ình trước mặt ti vi nữa. Còn chiếc ti vi, tuy không bật, nhưng bố tôi đang ngồi trên tràng kỷ mà dán mắt vào đó.
“Bố,” tôi lên tiếng. “Chào buổi sáng.”
Bố quay lại nhìn tôi. So với hôm qua, mặt ông giờ đã mọc thêm một bộ râu bạc nham nhở nửa ngày tuổi, đôi mắt mờ đục lờ đờ nửa nhắm nửa mở, tùy theo góc nhìn. Một chân ông bắt tréo qua chân kia, mà với một nạn nhân đột quỵ thì tôi nghĩ làm được vậy đã là kỳ tích. Và ông đang nốc một lon Knickerbocker một lít có lẻ. Tôi đưa tay nhìn đồng hồ. Mình dậy muộn thật. Đã hai giờ chiều rồi, nhưng để uống lon bia cỡ này thì vẫn còn sớm chán, nhất là tôi nhớ bố tôi có bao giờ bia rượu tí gì đâu. Nhưng nghĩ đi thì phải nghĩ lại, ông bố già nua của tôi cũng đã lên thác xuống ghềnh quá nhiều, và tôi là cái thá gì mà dám chỉ trích sao ông lại đi mua vui bằng cách này, và vào giờ này. Xét cho cùng, ông đã tự xoay xở bắt tréo được chân, ôi ông già quả cảm, và có khi lon bia này là để mừng cho cái thành tích đó thì sao.
“Chào buổi chiều,” mẹ lại nhô ra từ một nơi nào đó như tối qua. Tôi quay lại nhìn bà. Tay bà cũng đang khư khư một lon bia lớn, và không như tối qua, giờ tôi có thể nhìn rõ rành mẹ tôi đã thay đổi ra sao kể từ lần cuối tôi gặp. Giờ trông bà đẹp hơn mấy phần. Tôi vẫn nhớ như in gương mặt nghiêm khắc uy nghi của bà, có thể khiến bạn sợ đến mức phải thuần phục, nhưng kiểu gì thì cũng không thể đánh giá là đẹp được. Bà vốn luôn thuộc tip người đẹp New England với cặp thiên lý nhãn thầm xanh, rực sáng, sắc lẻm đến rợn người, chuyên nhìn xuyên thấu qua bản thể đáng xấu hổ là bạn và rọi trở lại đôi mắt rực sáng dòng dõi Thanh giáo của bà. Nhưng giờ đây trên gương mặt bà đã xuất hiện một nét mềm mại dịu dàng, không phải vì tăng cân, mà như thể bà đã ký kết một hòa ước với khuôn mặt của mình và cả hai đều trở nên thanh thản: đôi mắt xanh dương an nhiên tọa lạc trên sống mũi, sống mũi nhô ra như một mái hiên bên trên đôi môi lúc này đang mỉm cười với tôi. Tên mẹ tôi là Elizabeth và lúc nào bà cũng trông như một bà Elizabeth, nhưng giờ đây bà trông như một bà Beth vậy. Khi là Elizabeth, bà là một bà giáo ngữ văn lạnh giá, còn khi chuyển mình thành Beth thì bà trở nên phúc hậu, hiền từ hơn. Tựa như một nữ y tá chẳng hạn, một nữ y tá cực kỳ xinh đẹp.
“Nhìn mẹ như là bà y tá Beth,” tôi bảo bà.
“À há,” như một thiếu nữ, bà đưa tay vén tóc ra sau tai - tóc mẹ tôi vẫn dài và đen nhánh như ngày nào. Rồi bà bước tới bên bố tôi, nhấc cái lon ra khỏi tay ông, bật nắp cái lon mới, và đặt nó vào trong chiếc đựng cốc méo mó hên tay phải của ông. Miệng bố làu bàu một từ gì đó đa âm tiết mà tôi đồ là Cám ơn.
“Cho bố uống bia thế có sao không?” tôi hỏi. Rồi không thấy mẹ mở miệng hoặc có biểu cảm gì, tôi đành nói thêm, “Vì cơn đột quỵ ấy mà.”
“Bradley, anh nghe rõ chứ?” Mẹ quay sang bố, nở một nụ cười nhu mì còn hơn lúc nãy, một nụ cười chứa đầy sự thỏa mãn riêng tư. “Không nên uống thêm nữa vì anh đã bị đột quỵ mà.”
Bố không đáp, nhưng bắn một tia nhìn về phía mẹ, nó mới đi được nửa đường thì đã bị mẹ tôi chặn lại bằng một tia nhìn khác và nó đứng lại ở giữa căn phòng, như một thằng con trai khác, một đứa con với một mối quan hệ bí ẩn, luân phiên thay đổi với hai con người trưởng thành đã sinh ra mình. Dù có trưởng thành đến đâu, bạn cũng luôn đi sau một bước với hai đấng sinh thành của mình, hai con người lúc nào cũng biết trước những điều bạn cần biết - thí dụ như chuyện mẹ tôi biết rõ việc Anne Marie đã đuổi tôi khỏi nhà, thậm chí là biết rõ rằng tôi đã có một cô Anne Marie trong đời, hay đã tậu một ngôi nhà vậy.
“Tối qua mẹ nói là con bị vợ đuổi khỏi nhà,” tôi thắc mắc. “Làm sao mẹ biết?”
“Hử?” Mẹ phải cất cao giọng hỏi, vì lúc này bố đã bắt đầu ngửa cổ tu chai bia như một trang hảo hán, khiến tôi cũng phải lớn tiếng nhắc lại, “Làm sao mẹ biết con bị vợ đuổi khỏi nhà?” để át đi cái tiếng nốc bia ừng ực của bố.
“À, Sam,” mẹ đáp, “đó là một câu chuyện muôn năm cũ.”
“Chuyện cũ ạ,” tôi lặp lại, trong đầu chợt nghĩ về lời răn của ông thẩm phán về những câu chuyện tốt và xấu, và lần đầu tiên trong bao nhiêu năm nay, tôi bỗng ngộ ra rằng những câu chuyện thực ra hiện hữu khắp nơi chung quanh ta và tất cả đều có vai trò hệ trọng. Nào là những lá thư giấu trong hộp giày Converse, những con người thỉnh cầu tôi đốt nhà các văn hào vì các câu chuyện họ đã đặt bút viết nên; nào là câu chuyện Thomas Coleman đã phăng ra với Anne Marie khiến nàng đuổi tôi đi; nào là những câu chuyện mà đám phân tích trái phiếu đã kể về mình trong đống hồi ký, đấy là nếu như họ đã viết (một gã sau này quả có viết thật, nhưng lúc này tôi còn chưa biết); và rồi còn những câu chuyện mẹ tôi kể mà ai nấy đều nghe tôi kể rồi, và đột nhiên tôi bỗng tìm ra đáp án cho câu hỏi của ông thẩm phán, hoặc ít ra là một nửa đáp án. Lẽ đương nhiên là một câu chuyện phải tạo ra được một ảnh hưởng trực tiếp chứ. Nếu không thì người ta còn kể chuyện cho nhau làm gì cho mệt?
Nhưng ảnh hưởng trực tiếp là gì? Cái đó thì tôi không biết, tôi vẫn chưa biết nhiều về các câu chuyện - cả cũ lẫn mới - để biết được ảnh hưởng chúng mang lại là gì. Nhưng mẹ thì biết rõ, không còn nghi ngờ gì, và tôi ghét bà vì điều này, một nỗi ghét còn lớn hơn cả nỗi ghét trước những gì mà các câu chuyện của bà đã gây ra cho tôi, tôi ghét bà vì bà hiểu được những thứ tôi còn mờ mịt, ghét bà vì đã khiến tôi cảm thấy bất lực vì bất khả tri, và có khi nào đây chính là bản chất của con cái: luôn luôn phải nương tựa vào bố mẹ nhưng cũng vì vậy mà ghét bỏ họ, dù vẫn cứ cần họ, cần ghét họ. Thế đấy, có lẽ đó cũng là một câu chuyện muôn năm cũ cũng nên.
“Chuyện cũ ạ,” tôi lại lặp lại, rồi kể một lèo cho mẹ nghe lời ông thẩm phán từ nhiều năm trước, về những việc mà các câu chuyện có thể hoặc không thể làm, rằng đến giờ tôi vẫn chưa tỏ tường về điều đó, nhưng tôi cần phải được thấu hiểu: bởi nếu như việc tôi bị vợ đuổi là một câu chuyện muôn năm cũ, thì việc nàng chấp nhận cho tôi quay lại (hoặc không, hoặc không!) cũng là một câu chuyện muôn năm cũ, và tôi cần phải biết. Liệu mẹ có giúp được tôi không? “Hệ trọng lắm mẹ ạ,” tôi nói. “Mẹ làm ơn nói đi.” Thậm chí tôi còn chuẩn bị tư tưởng sẵn sàng phủ phục xuống sàn mà sụt sịt, đồng thời cũng chuẩn bị tư tưởng để ghét bà vì đã buộc tôi phải quỳ xuống khóc xin.
“Con chọn nhầm người để hỏi rồi,” mẹ đáp. “Ta đã đoạn tuyệt với văn chương rồi. Đoạn tuyệt với những câu chuyện, dù là loại nào đi nữa.”
“Thật ạ?” tôi hỏi. Việc này quá sốc đi chứ. Tôi chẳng thể hình dung ra mẹ tôi mà không có những câu chuyện, những thứ đã có ý nghĩa lớn lao với bà đến mức bà phải tọng chúng vào đầu tôi. Tôi mường tượng ra một chàng lính ngự lâm mà không có gươm hoặc hỏa mai hoặc những chàng ngự lâm khác kề bên - chỉ nhõn một anh người Pháp trụi thùi lụi, lẻ loi với bộ ria mép kiểu cách, chiếc mũ cắm lông chim và vẻ đỏm dáng của mình. Thế rồi tôi đưa mắt nhìn quanh phòng và để ý đến cái điều mà tôi đã để ý đến từ hôm trước: tịnh không còn một cuốn sách nào. “Sách của mẹ đi đâu cả rồi?” tôi hỏi.
“Vứt hết rồi” mẹ đáp.
“Sao lại vứt?”
“Sao à?” Giọng bà chợt đanh lại, khuôn mặt cũng đanh lại, và tôi thấy bà mẹ mới, Beth, quay về bà mẹ cũ, Elizabeth; chẳng khác gì chứng kiến những gương mặt tổng thống trên đỉnh Rushmore biến hình trở lại thành hòn núi vĩ đại xưa kia. “Con muốn biết vì sao à?”
“Vâng,” tôi đáp, vì quả tôi muốn biết thật.
Mẹ nhìn thẳng vào tôi trong một lúc lâu, và cùng lúc đó, gương mặt bà dần dần hiền hòa trở lại. Có thể thấy sự thương cảm, lòng trìu mến, và nỗi đau đớn dâng trào trong bà, cuộn lên từ ngón chân qua hai ống đồng rỗng không, qua thân mình rồi dềnh lên trong đôi mắt, nơi tôi thấy hàng đợt hàng đợt sóng tình cảm xoáy quanh cặp đồng tử. Mẹ khẽ đưa tay lên như thể muốn vuốt má tôi, khiến tôi thấy mình cần có bà hơn bao giờ hết, và nhu cầu này gần với yêu thương hơn là chán ghét. Tôi muốn thốt lên, Ôi, vuốt má con đi mẹ ơi. Dù những câu chuyện mẹ kể đã hại đời con, và khiến con cũng hại đời mẹ nữa, nhưng chi cần mẹ vuốt má con…
Tôi chẳng kịp hoàn tất ý nghĩ ấy, và mẹ cũng chẳng vuốt má tôi. Thay vào đó, bà giật lấy chai bia (đã rỗng không) khỏi tay bố và quay vào bếp. Và thế là lại chỉ còn có tôi và bố, hai người đàn ông trong một căn phòng, gắng gượng giải mã người đàn bà vừa bỏ lại họ bơ vơ. Đây là gì nếu không phải một cuộc chiến không hồi kết? Tôi có thể hình dung cảnh hai bố con cứ ngồi đực ra đó đến mùa quýt, cứ gắng sức - và cứ thất bại - để thấu hiểu những người đàn bà mình yêu. Ngay lúc đó, quá khứ như cơn lũ quét tràn qua khiến tôi bất lực không cách gì chống cự, và hình ảnh Anne Marie hiện ra trong tim tôi, trong mắt tôi, trong tai tôi, trong não tôi, băn khoăn không hiểu tôi đang làm cái gì ở đây với bố mẹ mình, trong khi lẽ ra phải quay lại thềm nhà mà cầu khẩn nàng cho tôi được trở về, về với căn nhà, về với nàng, về với chúng tôi của ngày xưa.
“Bố, hay là con cứ về nhà nhỉ?”
“Nhà?” Ông băn khoăn như thể muốn căn vặn, Nhà nào? Ơ kìa, chẳng phải con đang ở nhà rồi đấy thôi.
“Ý con là nhà kia của con cơ. Hay là con cứ đánh bạo về đó với Anne Marie và lũ trẻ?” tôi hỏi. “Thế có tốt hơn không nhỉ? Không biết liệu mọi chuyện có trở nên tốt hơn cho gia đình mình nếu bố không mất đến ba năm để quay lại?”
“Đợi… đợi,” bố đáp.
“Đợi gì?”
“Thời gian,” ông đáp.
“Bao lâu?” tôi hỏi. “Con không nghĩ mình đợi được ba năm. Con có phải đợi ba năm liền như bố đã từng làm với con và mẹ không?”
Vừa nhắc đến mẹ thì bà đã quay lại phòng khách, hai tay bưng một kim tự tháp các lon bia bự. Rồi bà thả một lon vào bàn tay bố, lúc này đã cong lại như vuốt diều hâu chờ mồi, và ngay lập tức ông vươn cổ ra nốc mãnh liệt như muốn ngấu nghiến cả lớp tráng nhôm ngoài vỏ lon. Mẹ quay sang đưa tôi một lon, tôi huơ hai tay lên phân trần, “Không không, con không uống.”
Nhân đây lại nói về tửu lượng của tôi: tôi chẳng phải đệ tử ruột của thần Lưu Linh và cứ đụng đến chất men là lại tanh bành hết cả. Trong vài lần hiếm hoi tôi từng thử - hồi trung học, hay là trong tiệc nướng của khu Camelot - thì hoặc là bản chất thật của tôi đã hiện nguyên hình hoặc là tôi đã vứt nó qua cửa sổ, bởi thảm họa cứ thế kéo đến ầm ầm: cái miệng cứ ba la bốp lốp huyên thuyên đủ chuyện, còn chân tay thì múa may những trò mèo gì ở đâu không biết. Có lần sếp tôi mở tiệc Giáng sinh (tôi uống liền hai ly vodka, phanh không kịp), tôi đã bất tỉnh suốt một phút liền - dù lịm đi nhưng vẫn dịch chuyển và cử động được như một xác chết đội mồ sống dậy - rồi khi hồn nhập lại xác thì tôi thấy mình đang đứng bên kệ bếp nhà sếp với cửa tủ lạnh mở toang, tay trát lấy trát để mayonnaise lên hai lát bánh mì trắng, sau mỗi lần trát lại đưa dao lên lưỡi liếm. Khi nghe thấy tiếng ho khan, tôi ngước lên nhìn thì thấy căn bếp lúc này đã lố nhố người - một đám rất đông, có cả sếp tôi, ông Janzen, một người đàn ông cao lớn rắn rỏi có quả mũi to đại tướng, đúng theo nghĩa đen của câu “nhìn đời qua cánh mũi” - đang soi tôi chòng chọc, miệng há hốc cứng đờ, hiển nhiên không hiểu tôi đang bày trò quái gì, và tất cả những gì chạy từ não xuống đầu lưỡi tôi lúc đó là hai từ, “Bánh kẹp.” Thế rồi, để chứng tỏ điều mình vừa thốt ra, tôi tống nó vào miệng. Vâng, cái bánh ấy ạ.
“Con không biết uống,” tôi bảo mẹ.
“Giờ thì con biết rồi,” bà đáp chắc nịch khiến tôi cũng phải tin theo. Tôi cầm lấy một lon, rồi hai mẹ con ngồi uống tì tì hết lon này đến lon khác, và tôi phát hiện ra mẹ nói đúng: tôi biết uống thật và tôi cũng học được rằng khi ta uống, mọi thứ xung quanh cứ tự động mà tiếp diễn. Màn đêm buông xuống thì tự khắc có ai đó bật đèn lên; bầu không khí tịch mịch quá thì có người bật ti vi; tới lúc ti vi ồn ào quá thì lại có người tắt nó đi; khi chúng tôi đói meo thì tự khắc ai đó mang đồ ăn ra - bánh quy thừng, khoai tây chiên, bỏng ngô, toàn những đồ ăn mở bọc ra là ăn được ngay. Mọi thứ cứ tiếp diễn và những câu hỏi cũng được đưa ra, những câu có lẽ chẳng bao giờ được hỏi nếu thiếu mấy lon bia. Tôi hỏi mẹ, “Mẹ vứt sách đi là vì con, vì những gì con làm, những gì đã xảy đến với con đúng không?” và bà đáp, “À há!” rồi tôi hỏi, “Mẹ vẫn còn đi dạy ngữ văn chứ?” và bà đáp, “Đã dạy ngữ văn một lần, thì sẽ dạy ngữ văn cả đời.” Rồi tôi hỏi, “Nhưng đã vứt sách rồi thì mẹ dạy ngữ văn thế nào được?” và bà đáp, “Có lẽ thế lại hay hơn í chứ.” Rồi tôi hỏi, “Những câu chuyện mẹ kể con nghe, những cuốn sách mẹ bắt con đọc hồi xưa, có phải để làm con vui lên không?” và bà đáp, “Mẹ cũng chẳng biết là để làm gì con ơi.” Rồi tôi hỏi, “Thế thì mẹ còn kể cho con nghe làm gì? Mẹ còn bắt con đọc sách làm gì, nếu không phải để làm con vui?” và bà đáp, “Sao con không hỏi câu gì mà mẹ trả lời được ấy?” Rồi tôi hỏi, “Ông bô nhà mình là một ông già kiên cường đấy chứ nhỉ?” và bà đáp, “Còn lâu.” Rồi tôi hỏi, “Bao giờ thì mẹ tha thứ được việc bố đã bỏ nhà ra đi?” và bà đáp, “Từ lâu rồi,” rồi nâng lon bia lên, và trong một giây thoáng qua tôi cứ ngỡ bà sắp sửa rót bia xuống đỉnh đầu bố, như người ta rửa tội bằng nước thánh. Nhưng bà không làm vậy, và tôi lại hỏi, “Người ta có thể sống mà hiểu quá rõ nhau không?” và bà đáp, “Được chứ.” Rồi tôi hỏi, “Còn tình yêu thì biến đi đâu?” và bà đáp, “Hỏi bố con ấy.” Rồi tôi hỏi, “Bố, còn tình yêu thì sao?” và ông khụt khịt một từ gì đó nghe như là: “Ụt”. Rồi mẹ quay sang hỏi tôi: “Con có việc làm mà đúng không? Con không đi làm ngày mai à?” và tôi đáp, “Con đang tính bỏ việc,” rồi tôi làm thật, ngay ở đó, gọi một cú tới Công ty Đóng gói Tiên phong và nhắn lại cho cái máy trả lời tự động rằng tôi đã quyết định thôi việc, nhân tiện phun ra thêm một tràng những thứ tôi ghét cay ghét đắng về cái công ty đó và về cái việc tôi được giao, những thứ bịa đặt mà sau này tôi có lên trời cũng không rút lại được, những điều mà tôi đáng lẽ đã hối hận ngay khi thốt ra, nếu như trong bụng không no kễnh những bia. Và vậy là tôi phát hiện ra một quyền năng mới của chất men: nó khiến cho sự tự hủy hoại bản thân trở nên hấp dẫn lạ thường, khiến bạn lải nhải những điều bạn không hề chủ ý và có thể sẽ hối tiếc, nhưng bạn đã say đến mức quên cả hối lẫn tiếc. Khi tôi dập điện thoại, mãi mãi tuyệt giao với nghiệp đóng gói, mẹ hỏi tôi, “Con định ở đây một thời gian hả?” và tôi hỏi lại, “Mẹ có muốn con ở lại không?” Thế là bà đáp, “Ta nhớ con lắm Sam ạ. Ta xin lỗi về tất cả mọi việc,” và tôi giải nghĩa là, Ừ, ta muốn con ở lại một thời gian. Và tôi hỏi, “Ai muốn uống thêm bia?” Cả nhà đều muốn và chúng tôi cứ uống, hết lại uống tiếp, cho đến khi tôi quên bặt đi chuyện mình bị đuổi khỏi nhà, cũng như bố quên bặt rằng mình bị liệt: càng uống, ông càng tỏ ra linh hoạt, và tới lon thứ sáu thì ông đã đi đi lại lại, thậm chí tự mình lết ra được tới tủ lạnh và quay lại ghế, và khi ông hỏi có ai muốn uống thêm bia không thì ông không còn ngọng nghịu như lúc trước, và cả nhà đều muốn uống. Chúng tôi uống cùng nhau, như là một gia đình, cho tới khi chẳng còn giọt bia nào để liếm láp, và chẳng còn gì làm ngoài chuyện nằm thẳng cẳng ra ghế mà bất tỉnh nhân sự. Trong suốt cơn men say, tôi không hề một lần nghĩ tới Anne Marie và tụi nhỏ, chỉ cách tôi có vài dặm, và đây là một bài học nữa mà tôi ngộ ra trong đêm nay: rằng bộ não tẩm cồn sẽ có khả năng quên đi những thứ cần quên đi, ít ra là trong chốc lát, cho tới khi bạn lịm đi và tỉnh dậy sau hai tiếng để nôn ọe ra đầy người, vương vãi khắp hành lang và trong nhà vệ sinh.
Bởi bia rượu là một trong những sự đầu lừa của tôi. Toàn bộ đống bia cứ thế mà thông thốc tuôn ra khỏi thực quản tôi, tạo đà cho nỗi ê chề tràn vào xâm lấn, như thể trả đũa cho việc tôi dám có ý định quên bẵng chúng đi: những lá thư, vợ tôi, con tôi, công việc của tôi, bố mẹ tôi, Thomas Coleman, bố mẹ cậu ta, cái chết của họ, cuộc sống của tôi! Tất cả như đang gọi tên tôi, những tiếng kêu la thất thanh át tiếng nôn khan của tôi, hòa thành bản cáo trạng, như một điệp khúc đều đặn tấu lên, dội lại từ đám đồ sứ và sàn gạch. Và rồi còn có một giọng nói khác, một giọng nói kèm theo một bàn tay, dịu dàng vỗ về trên lưng tôi, thì thầm, “Sẽ ổn thôi mà, sẽ ổn thôi mà.”
“Thật sao?” tôi hỏi.
“Sáng ra con sẽ thấy đỡ hơn nhiều,” bà nói.
Là mẹ tôi đó. Và vì đó là mẹ tôi, nên tôi thấy mình có thể nói với bà bất kỳ điều gì mà không sợ hổ thẹn, thế là tôi bảo bà, “Ôi mẹ, con sợ rằng sẽ mất gia đình con mãi mãi. Con nhớ nhà con và hai đứa quá.”
“Ta biết, ta biết,” bà nói.
“Và chuyện này cũng là chuyện muôn năm cũ à?”
“Ừ,” mẹ đáp. “Cũ như chuyện cổ tích.”
“Những câu chuyện,” tôi nói. “Con thấy như mình chẳng hiểu gì sất. Mẹ làm ơn giảng cho con nghe về những câu chuyện đó đi.”
“Ta đã gắng hết sức rồi đấy chứ,” bà đáp, rồi dẫn tôi vào giường, và cũng tại đây tôi đã đặt ra quyết tâm: phải tìm hiểu cho thấu đáo những câu chuyện, một cách nhanh chóng. Mẹ sẽ không chịu dạy cho tôi, điều này thì rõ rồi. Bố thì chẳng còn tí hơi nào để giúp đỡ tôi, chuyện đó cũng đã quá rõ ràng. Tôi sẽ phải tự đi tìm câu trả lời, và lúc này bụng tôi đã biết chắc nơi nào là nơi cần đến.