Cẩm Nang Đốt Nhà Các Văn Hào New England

Lượt đọc: 636 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8

❊ ❊ ❊

Trong nhiều cuốn sách của mẹ, các nhân vật chính trong những thời khắc quyết định thường có một giấc mộng tiên tri, vậy nên tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên khi đêm đó tôi cũng có một giấc mơ điềm báo như vậy.

Trong mơ, tôi thấy mình đứng dưới một cái mái củ hành cất trên tầng tư một tòa dinh thự dài ốp đá xám. Tòa nhà quay lưng về phía biển, dưới bầu trời đang vần vũ mưa dông. Những đợt sóng bạc đầu lồng lộn ập xuống đám tàu bè đang chới với giữa biển cả, sắp tuột neo đến nơi, đống dây buộc, như những sợi dây chun đã căng hết cỡ, cứ đứt phựt phựt phựt. Đại dương tím tái một màu, bầu trời cũng đen đặc lại, hắc ám và hung hãn hơn mấy phần. Trên cái mái củ hành, tôi đứng quay lưng về biển, mắt hướng về phía đất liền, nơi có một cụm năm tòa dinh thự ốp đá với kích cỡ có phần khiêm tốn hơn, trên tay là một can nhựa màu đỏ đựng đầy xăng, ung dung như đang cầm một chiếc ví. Đám dinh thự này đang nổi lửa phừng phừng: lưỡi lửa đã liếm hết chỗ gỗ, và những cột khói đang áp đảo các cột đá. Nhưng bên trong các tòa nhà vẫn còn có nhiều người, lúc này đang nhoài cả ra khỏi cửa sổ, bám chặt lấy những hàng rào mắt cáo. Ai nấy đều đang ôm khư khư sách; ai nấy đều nhọc công cứu sách. Một số đang vứt lấy vứt để sách ra ngoài cửa sổ; số khác lại gắng hạ những bao tải đầy ngập sách qua lan can xuống sân, nơi có một đám người đang đỡ lấy những túi sách. Có một người phụ nữ đứng trên mái nhà, bận bộ đồ ngủ mỏng nhẹ như sa, gần như trong suốt. Tóc cô ta bắt lửa cháy rừng rực: ngọn lửa cháy thành vòng tròn trên đầu nhìn như một vương miện, nhỏ giọt xuống từng lọn tóc xoăn dài như nến. Tôi không nhìn rõ được gương mặt của cô ta, nhưng theo logic của giấc mơ thì hiển nhiên cô ta phải rất đẹp và quan trọng. Cô ta dựa lưng vào ống khói, hai tay cầm một cuốn sách phang lia lịa vào đầu như để dập lửa. Nhưng cuốn sách lại là một cuốn bìa cứng, nên chẳng mấy chốc cô ta đã tự đập mình đến ngất xỉu. Khi cô ta đổ vật xuống chân ống khói, tôi mới phát hiện ra cô này không mặc quần lót: đám lông mu đen nhánh nhìn như một cái hình xăm nổi bật lên giữa khoảng da bụng và đùi trắng bóc như ngọc trai. Một người đàn ông đứng dưới sân cũng trông thấy cảnh này, và anh ta, cũng dễ hiểu thôi, đã bị phân tán tư tưởng, nên trong khi đang nhìn trân trối vào cái vùng hớ hênh của cô gái đã ngất lịm, chính anh ta cũng bị một chồng sách rơi trúng đầu, bất tỉnh nhân sự. Một anh chàng khác vội quỳ xuống săn sóc cho người đồng đội đã gục ngã, rồi ngẩng lên và chỉ về phía cô gái trên mái nhà. Tấm áo ngủ của cô ta đang rực cháy xèo xèo, trong khi cuốn sách, lúc này vẫn nằm trong bàn tay phải của cô ta, bén lửa và nổ cái đùng. Đám đàn ông dưới sân, cùng đám đàn ông, đàn bà trên cửa sổ và hàng rào mắt cáo đồng thanh thét lên những tiếng thất thanh thảm khốc. Có vẻ như đó là cuốn sách đầu tiên táng mạng dưới tay thần Hỏa. Một nỗi tuyệt vọng ghê gớm bao trùm khắp đám đông. Nhóm người nọ rũ bỏ mọi hy vọng, gieo người ra ngoài những khung cửa sổ và buông tay khỏi những hàng rào mắt cáo. Nhóm đàn ông dưới sân chẳng buồn né tránh và đã bị những thi thể rớt trúng người, dẹp lép như con tép.

Quả là một giấc mơ ra trò đấy chứ nhỉ, khác hẳn với những giấc mơ tôi thường có. Thường thì tôi hay mơ thấy những gương mặt quen thuộc bỗng dưng xuất hiện ở những nơi chẳng ăn nhập gì, thí dụ như tôi đã thấy ông sếp ung dung ngồi nhâm nhi cà phê trong bếp nhà tôi, thế có thú vị không - sếp tôi đã đến nhà tôi lần nào đâu, mà ông ấy cũng chả uống cà phê bao giờ - nhưng ngoài tôi ra, chẳng ai thấy điều này thú vị cả, và khi tôi kể nó cho gia đình tôi thì ai nấy đều trở nên đờ đẫn như chính họ cũng đang nằm mơ vậy. Không, giấc mơ lần này khác hẳn, và tôi ước gì có gia đình mình ở đây để kể cho họ nghe và chứng tỏ rằng Sam Pulsifer tôi đây cũng có khả năng mơ những giấc hoành tráng như ai - mặc dù tôi sẽ phải xóa sổ cái đoạn có bộ lông mu vì còn có hai đứa nhóc. Mà thôi, chắc tôi sẽ chẳng kể dù chỉ một chữ, bởi thay vì làm tôi thấy hưng phấn, giấc mơ này lại khiến tôi thở dốc, đầu đau như búa bổ. Sau một giấc mơ kiểu vậy, bạn sẽ thấy mừng húm vì đó chỉ là giấc mơ, và dù đời thực có bí bét đến đâu thì cũng không thể kinh khủng bằng cuộc đời trong mơ được. Đó là cảm nghĩ của tôi, cho đến khi lò dò bước xuống cầu thang (căn nhà lại một lần nữa trống trải; tôi đã quen dần và đỡ khổ sở hơn với cơn chếnh choáng, hỗn hợp giải rượu vẫn đặt trên bàn, nhưng tôi không thấy cần nó như hôm trước, mặc dù vẫn ngửa cổ lên tu sạch), giở tờ nhật báo Cộng hòa Springfield và đọc được rằng có người đã phóng hỏa Dinh thự Edward Bellamy ở Chicopee, Massachusetts, cách nhà tôi chưa đầy hai chục phút.

Mới đầu tôi còn chưa kịp nhớ ra Edward Bellamy là một nhà văn, đồng nghĩa với việc ngôi dinh thự đó cũng là dinh thự của một nhà văn. Tít báo đề DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG DÍNH PHẢI MỘT VỤ HỎA HOẠN NHỎ, cứ như thể cái vụ hỏa hoạn nhỏ đó là keo dán thư không bằng. Chỉ sau khi đọc qua một đoạn tôi mới phát hiện ra ông Edward Bellamy này đã từng viết văn, và tác phẩm để đời là cuốn Nhìn lại. Chỉ đến khi đó, tên ông nhà văn này và tên quyển sách nọ mới len lỏi tìm đường qua đám sương mù trong cái đầu chếnh choáng của tôi để gõ cửa ngân hàng ký ức. Tôi bèn đặt báo xuống, bước vào phòng bố, mở ngăn kéo bàn, lục lọi cái hộp đựng chồng thư và rốt cuộc cũng tìm thấy nó: lá thư do một bác tên Harvey Frazier gửi từ Chicopee, Massachusetts, thỉnh cầu tôi đốt Dinh thự Edward Bellamy. Tuy lá thư chỉ mới được gửi từ mười lăm năm trước (theo dấu bưu điện trên phong bì), nhưng nó đã nhàu nhĩ, hoen ố và gãy gập như một món cổ vật thời tiền sử. Tôi nhét lá thư vào túi áo, cất lại hộp thư vào nơi ẩn giấu không-được-bí-mật-cho-lắm, rồi quay lại với bài báo: thiệt hại do vụ hỏa hoạn không đáng kể, còn nguyên nhân thì đầy những “nghi vấn”. Tôi biết tỏng họ viết vậy là có ý gì: hồi trước họ cũng viết rằng vụ hỏa hoạn của tôi có rất nhiều “nghi vấn”, ngay cả khi họ đã biết mười mươi chính tôi là người lỡ tay gây ra.

Thú thực một điều: mẹ cấm tiệt không cho tôi đọc tiểu thuyết trinh thám khi còn bé, kể cả tiểu thuyết trinh thám dành cho thiếu nhi. Có lần mẹ bắt quả tang tôi đang đọc một tập Cậu Brown Biết Tuốt (mà tôi cứ đinh ninh là nó nói về con mèo nhà hàng xóm, và ai là người khiến nó mất tích), bà tịch thu nó luôn và tuyên bố “Nếu thích đọc sách trinh thám thì đọc cái này này.” Đoạn bà quẳng cho tôi cuốn Chàng ngốc Wilson của Mark Twain, mà cứ như tôi thấy thì nào có phải trinh thám trinh thiếc gì, nó là truyện nói về một người có huyết thống da màu nhưng không phải người da màu, một người có huyết thống da trắng nhưng không phải người da trắng, một tay người New York chuyên đi thu thập dấu vân tay luôn bị nhạo báng, một vài người châu Âu và một vài người bang Virginia nhưng sống ở bang Missouri, và bí ẩn duy nhất làm tôi băn khoăn là tại sao cái đám người này lại lưu lạc tới Missouri, và tại sao họ lại nán lại nơi đó lâu đến vậy.

Ý tôi là: nếu tôi từng được đọc một cuốn trinh thám thật sự, viết về một bí ẩn thật sự, thì biết đâu lúc này tôi đã biết ngay mình sẽ phải làm gì. Thay vào đó, tôi cứ nháo nhào hết cả lên. Tôi nhớ mang máng đã nghe ở đâu đó, hay là xem trên ti vi, rằng các thám tử đều nốc rượu bia rất cừ, thậm chí (đặc biệt là) ngay khi đang giải án. Thế nên tôi bèn xử nốt lon bia cuối cùng trong tủ lạnh, còn thừa từ buổi họp gia đình khướt mướt tối qua. Vừa uống tôi vừa băn khoăn không hiểu kẻ nào đã đốt Dinh thự Bellamy. Hiển nhiên, Thomas Coleman là cái tên đầu tiên hiện lên trong đầu tôi. Tôi biết chắc rằng kiểu gì cậu ta cũng sẽ mang đến cho tôi thêm nhiều rắc rối và tai họa nữa, và biết đâu đây là một trong số đó. Có lẽ nào cậu ta đốt Dinh thự Bellamy rồi sẽ dùng cách nào đó đổ tội cho tôi? Thế nhưng, trước hết, làm sao cậu ta có thể biết được rằng có người muốn tôi thiêu béng cái ngôi nhà đó? Dẫu sao đi nữa, bức thư vẫn còn nằm đây, ngay trong túi áo ngực của tôi, tôi vỗ vỗ nhẹ nó cho chắc ăn.

Nhưng nếu không phải là Thomas Coleman thì còn ai vào đây? Hay là chính bác Harvey Frazier kia? Xét cho cùng, bác ta đã phải mòn mỏi chờ đợi quá lâu và biết đâu đã không thể chờ thêm được tí nào nữa? Mà cũng có khi lại là một ai đó hoàn toàn khác, một người mà tôi nhất thời không thể nghĩ tới được. Tôi không rõ, nhưng tôi quyết định đi gặp ông cụ Harvey Frazier một chuyến tìm hiểu xem sao. Còn nếu hỏi là tôi sẽ tìm hiểu thế nào, thì tôi tắc tị. Đấy đấy, nếu xưa kia tôi được đọc các loại sách đúng đắn, thì giờ đã biết cách thủ vai một thám tử cho đàng hoàng rồi. Và nếu như tôi đã không thôi việc ở Công ty Đóng gói Tiên Phong và đang vùi đầu làm việc gì đó, thì giờ đây đâu có rảnh rỗi mà tập tành làm thám tử. Lại nói, nếu lúc này tôi không ở nhà một mình, nếu có ai đó ở đây thì chắc họ đã có lời cảnh cáo tôi đừng có bén mảng đến Dinh thự Edward Bellamy kia, cứ ở yên đây, cấm được manh động gì hết.

Nhưng nói đi thì phải nói lại, có khi đó chính là bản chất của một thám tử: một anh chàng vô công rồi nghề, nổi máu thích làm thám tử, mà xung quanh lại chẳng có ai can ngăn cả.

Cụ Harvey Frazier, cư ngụ ở Chicopee, Massachusetts, là người kín tiếng, khó gần hơn hẳn các cụ già thông thường, khi mới gặp lại còn giả bộ không nhận ra tên tôi. Ông cụ già mõ, ít nhất cũng ngoài tám mươi, và cứ ma quái thế nào đó, vì cụ ta mở cánh cửa ngay đúng lúc tôi vừa đưa tay lên chuẩn bị gõ, như thể chỉ chực rình tôi đúng giây phút đó. Dù giật mình, tôi cũng kịp thốt lên được một câu chào, “Cụ ạ, cháu là Sam Pulsifer đây,” rồi xòe nắm đấm đang định dùng để gõ cửa ra và đưa tay lên bắt. Ông cụ chẳng thèm bắt lại, chỉ khinh khỉnh, “Tôi chuẩn bị đi dạo,” rồi giậm bước qua mặt tôi xuống phố. Một con người khó đoán, hẳn vậy. Bỗng nhiên, tôi không chỉ tò mò muốn biết liệu ông cụ có phải thủ phạm đốt nhà không, mà còn muốn tìm hiểu về con người ông cụ, tìm hiểu vì sao ông cụ lại muốn làm điều ông cụ muốn làm, tìm hiểu ông cụ theo cái cách tôi chưa từng tìm hiểu một ai - kể cả bố mẹ, vợ con tôi - và nói cách khác, việc tôi rảo cẳng đuổi theo cụ Frazier chẳng qua là để kiếm cách bù đắp cho quãng thời gian bị đánh mất và những cơ hội không còn nữa của mình.

Cụ tuy cao tuổi nhưng vẫn còn nhanh nhoay nhoáy. Cũng có thể một phần vì giận tôi hồi âm quá chậm. Tôi xoạc cẳng chạy cho bắt kịp cụ, “Đi dạo hả cụ?” Ông cụ quyết không sa vào cuộc nói chuyện, cứ im thin thít, nên tôi đành hỏi tiếp, “Cụ đi đâu thế ạ?”

“Chợ,” ông cụ đáp gọn lỏn bằng khẩu ngữ Bắc Mỹ trịnh trọng, nhát gừng, cái khẩu ngữ mà ta cứ nghe là thấy chột dạ, như mình vừa làm chuyện gì hư hỏng, và ông cụ thốt ra chữ “chợ” với một vẻ cổ kính nghiêm trang đến mức tôi cứ ngỡ cụ sắp bước vào một quầy tạp hóa gia đình cũ kỹ để mua những thứ lỗi thời như là đồ khô, thuốc lá nhai hay thuốc lá thơm hút tẩu. À mà không, quên đi; cụ Frazier này chắc hẳn cả đời không hề hút thuốc, người ta có phát hiện ra nó gây ung thư không thì cũng chẳng ảnh hưởng gì tới cụ, bởi thuốc lá thì đắt tiền, hoặc ít nhất là tốn tiền, còn cụ này chắc hẳn là một lão kẹt sỉ. Tôi nhìn là biết chứ, ông cụ bận một chiếc quần nâu, một cái áo bông dài tay, bên ngoài khoác thêm một áo choàng thể thao với họa tiết nanh sói đã mòn tã cả ra. Chắc ba chục năm nay ông cụ chưa sờ tay vào một bộ quần áo mới, và hẳn đã mua cái mớ giẻ rách này ở một quầy bách hóa tổng hợp mà ngay bản thân cụ cũng chẳng nhớ nổi tên, hay địa điểm, dù chắc chắn nó chỉ tọa lạc đâu đó trong khu trung tâm, và đã đóng cửa giải tán từ lâu. Cụ Frazier hẳn sẽ nghĩ việc mua đồ mới quả là ngốc nghếch và hết sức nực cười, đặc biệt là những thứ trang phục bằng loại len xịn, bền, tương tự như của cái bộ ông cụ đang mặc, trước khi chúng bị tã tượi đến tơi bơi hoa lá. Đấy, chính vì như thế nên tôi mới biết đây là một lão kẹt sỉ. Nhưng tôi không hề có ý xúc phạm ông cụ nhé, tôi chỉ đơn thuần muốn đột nhập một lát vào bộ não ông cụ, hòng lần ra tí chút đầu mối về tâm tính cụ.

“Cụ đi chợ mua gì thế?”

“Báo,” ông cụ đáp, và tôi để ý ông cụ cũng cóc thèm dùng mạo từ mạo tiếc gì hết, nên bèn lưu điều này vào hồ sơ tâm lý của cụ. Cách chúng tôi vài lô nhà là một siêu thị lớn thuộc chuỗi Super Stop & Shop chứ hoàn toàn không phải là một quầy tạp hóa nhỏ lẻ. Tôi đã nghĩ rồi, nếu hai người chúng tôi thẳng tiến vào đó thì tôi sẽ chêm thêm ảo tưởng vào lý lịch của cụ già.

Một điều nữa về cách ăn vận của cụ Frazier: quá sức ngột ngạt so với tiết trời trái mùa tháng Mười một nóng hầm hập, và quá sức trịnh trọng cho một chuyến đi thường nhật tới chợ hay quầy tạp hóa hoặc siêu thị. Mà cũng có thể quang cảnh xung quanh đã khiến cho tôi có cảm giác đó. Bởi cả khu phố trống trơn không một bóng người, nên cụ Frazier hóa ra lại là kẻ tươm nhất phố. Rác rưởi vung vãi khắp nơi - nào chai lọ, hộp trứng, bỉm trẻ em - nhưng lại tịnh không có lấy một thùng rác. Có đứa nào đó đã lấy phấn hồng viết bậy trên vỉa hè, “Con nhỏ Shamequa ăn l*n.” Thật đáng tiếc vì bạn có thể thấy rõ khu phố này trước đây cũng khang trang ra trò. Quần thể dinh thự cổ sơn trắng chắc cũng có thời đúng kiểu của Victoria, nhưng sau này cứ xây cơi xây nới thêm, nên giờ đã tuyệt đối không thể xếp vào bất kỳ một hình thái kiến trúc nào cả. Vâng, tôi cược là những ngôi nhà này hẳn đã là nơi cư ngụ của các gia đình nền nếp, đáng kính, với những thành viên ăn mặc có lẽ không khác gì cụ Frazier đây, và mọi gia đình đều chẳng muốn gì khác ngoài cái kiểu nóc nhà thẳng tắp, ống khói có ống dẫn nước, vườn nhà nhất định phải trồng vài tán du, có sóc nhảy thoăn thoắt. Và sở dĩ họ trang trải được cho những thứ đó là vì họ đều có công ăn việc làm tử tế: chế tác máy bay ở Pratt & Whitney, sản xuất xe gắn máy hiệu Indian ở xí nghiệp xe gắn máy Indian, hoặc thiết kế các dịch vụ bảo hiểm ở Công ty Monarch. Nhưng đâu đó trong khoảng giữa các cuộc chiến tranh, công việc bắt đầu khan hiếm. Đó là một câu chuyện muôn năm cũ. Họ bị mất việc, rồi dần dà không còn kham nổi chi phí bảo trì để cho mái nhà thẳng thớm, cho ống khói tinh tươm, và người ta phải gọi người vào cho thuê bớt chỗ, rồi vườn du chết dần chết mòn, các thành viên trong gia đình cũng chịu chung số phận, hoặc không thì họ bán ngôi nhà rồi mới lìa đời, để lại ngôi dinh thự bị lát nhôm và cắt nhỏ ra thành những căn hộ nhỏ xíu - chính những hộp thư tập thể, những sợi dây điện và dây điện thoại chập thành một bó nhì nhằng, và những chiếc xế hộp gỉ sét đậu ngoài vỉa hè đã tố cáo sự thật cho tôi biết. Khu phố này không còn là khu phố của cụ già Frazier nữa, nó không cần ông cụ, bạn bảo thế thì làm sao mà ông cụ không cấm cảu bực bội cho được?

Đến đây, chúng tôi bắt gặp hai mống đầu tiên trên phố: hai thằng choai ngồi khệnh khạng trên bậc thềm của một trong những căn nhà tập thể vừa nói bên trên, cởi trần, mặc một thứ quần đùi chẳng ra quần đùi, vì chúng dài quá gối. Cả hai đứa đều gầy nheo nhách, ngực lõm như ngực tôi hồi xưa ấy, và cả hai đều xỏ khuyên bạc ở đầu ti. Tôi tự hỏi liệu có phải khí đã xì hơi thoát khỏi ngực bọn chúng qua hai cái lỗ ở núm ti đó không.

“Chào buổi chiều,” cụ Frazier cất lời khi bước ngang qua hai đứa.

“Cái bỏ con mẹ,” một đứa chửi. Khi văng ra chữ “mẹ”, thằng choai không phát âm mẹ như bình thường, mà chêm chữ i vào giữa rồi nhấn nhá, nghe ra thành một tiếng mi-ẹ dẻo quẹo. Thằng còn lại không nói năng gì, chỉ phá lên cười sằng sặc, đầu lắc lia lịa.

Tôi rất muốn nói gì đó với hai thằng mất dạy, chẳng hạn, Này, cái gì đấy? Nói năng thế à? hoặc, Lễ độ để đâu rồi, hai thằng ranh? Nhưng tôi còn mải bám theo cụ Frazier, ông cụ cứ bước phăm phăm nên tôi đành bám sát gót. Đương nhiên ông cụ biết hai thằng kia chửi mình, nhưng có lẽ ông cụ còn chưa rõ chúng chửi cái gì, còn tôi cũng mù tịt. Nếu như có đứa nào bỏ mẹ, thì là hai thằng choai đó chứ chả phải ai khác. Mà có khi chúng cũng chẳng phải choai choai, có khi chúng đã già khú ra rồi, nhưng lại cứ thích ăn vận và làm ra vẻ mới dậy thì, lông bông chẳng nghề ngỗng gì, bỏ bê mặc xác gia đình (đấy là nếu có gia đình), và văng tục chửi thề bằng khẩu ngữ người da đen, dù nhìn chúng trắng lợt. Trong đầu tôi bỗng nảy ra ba chữ nhái da màu - một từ tôi đã có lần nghe trên ti vi - nhưng nhanh chóng gạt nó ra khỏi đầu, không dám nói cho cụ Frazier. Không, cụ Frazier hẳn không muốn nhét thêm một từ mới nào vào miệng hoặc đầu mình nữa; chẳng cần hỏi tôi cũng biết. Trên đời đã có quá đủ số từ, và quá nhiều trong số đó là các từ chửi bới tục tĩu, và có quá nhiều thanh thiếu niên cứ mở miệng là chửi xoen xoét, khiến ta không tài nào phân biệt nổi chúng chửi cái gì, và đồ rằng đó đơn giản là cách chúng nói chuyện - với nhau, với người lạ - và chịu không biết chửi như thế nghĩa là có ý thân thiện hay là dọa dẫm, là chửi theo kiểu da đen hay theo kiểu da trắng, cũng không hiểu giờ hai kiểu đó khác nhau ở điểm nào, liệu người bị chửi có cần quan tâm không, mà liệu người đó có đang bị chửi hay không. Tôi hình dung ra cụ già Frazier tội nghiệp, đêm hôm một mình ở nhà, tắt đèn tối om, lẻ loi đứng bên cửa sổ vì mất ngủ, mắt nhìn trân trối xuống khu phố, lúc này đen kịt, còn tối hơn cả nhà cụ, toát lên vẻ xa lạ, kỳ quái. Đâu đó ngoài kia, con nhỏ nào đó tên Shamequa đang mải miết vùi mặt vào háng một con nhỏ khác, rồi tuyên bố chuyện đó bằng cây phấn hồng của mình trên vỉa hè; đống rác lăn lông lốc trên mặt đường như những bụi cỏ cầu gai; và những câu “cái bỏ con mẹ, cái bỏ con mẹ, cái bỏ con mẹ” cứ rì rầm theo làn gió đêm, khiến ta không thể trốn chạy, mà cũng chẳng biết cơn gió đang chửi mình hay đứa nào khác. Đúng là bỏ mẹ. Vì với cụ Frazier, việc không tài nào đoán được liệu mình có bị chửi hay không hẳn phải là thứ bỏ mẹ nhất trần đời.

Khi đến chợ - đúng thực là siêu thị Super Stop & Shop, nhưng giờ tôi đang thuộc phe ông cụ, nên thôi gọi là chợ cũng được - thì tôi lại có phần đồng ý với hai thằng nhãi: đúng là bỏ mẹ, cái siêu thị ấy mà, chỉ toàn bãi đậu xe chứ gian hàng thì có một rẻo toen hoẻn. Và cái cách hai thằng chửi ông cụ tội nghiệp cũng thật là bỏ mẹ, chửi xong cứ nhơn nhơn, chẳng ai dám quở phạt chúng. Rõ ràng cụ Frazier có quyền phẫn nộ, ít ra là đủ phẫn nộ để hóa vàng một ngôi nhà hoặc nhờ người hóa vàng nó. Nhưng sao lại là Dinh thự Edward Bellamy? Điều này thì tôi chưa thông.

“Này cụ Frazier ơi, cụ xem thế nào nhỉ?” tôi bảo cụ. “Cháu muốn hỏi cụ mấy câu đây.”

Cụ già chẳng thèm đáp. Cụ đã mua xong tờ báo từ máy bán tự động dựng ngoài chợ (ai mà biết được? Có lẽ là miễn cụ chưa bước chân qua cửa tòa nhà thì chắc ta vẫn gọi nó là chợ được), rồi quay người bước nhanh thoăn thoắt về nhà, làm tôi phải khó khăn lắm mới bám được theo sau. Khi tôi vừa đuổi kịp cụ thì cũng là lúc chúng tôi lại chạm trán hai thằng ôn con, vẫn ngồi ngông nghênh trên bậc thềm như thể đang hau háu chờ chúng tôi. Sau một lần bỏ lỡ, chẳng mấy khi ta có được cơ hội thứ hai để nói ra những gì ta muốn nói, hoặc hỏi những gì ta muốn hỏi, nên tôi đứng phắt lại trước mặt chúng, một tay túm lấy áo khoác níu cụ Frazier lại. Cụ già không quay lại nhìn hai thằng nhóc trực diện, nhưng như một con ngựa bị giật mình, cụ liếc ngang hai đứa. Còn tôi, quay ra nhìn thẳng vào mặt hai thằng, cảm thấy khuôn mặt mình nóng đỏ rần rần, và chỉ mong giá như mình có thể chiếu sáng hai thằng như một cột đèn hiệu.

“Ban nãy,” tôi bảo chúng, “hai cậu nói cái gì với cụ Frazier đây.”

“Ờ đấy,” một đứa đáp. Hai thằng nhìn giống nhau như tạc, với hai bộ ria lún phún, hai cái bụng dẹp lép trắng bóc như thạch cao, hai cặp khuyên ti phản chiếu lấp lóe dưới ánh mặt trời.

“Ờ,” tôi nói, “tôi muốn hai cậu xin lỗi cụ ngay. Thế mới phải phép.”

Một thằng lắc đầu nói, “Bỏ mịe,” mà chẳng hề có biểu hiện gì của sự hung hãn, ma mãnh hoặc bất kỳ một sắc thái tình cảm nào khác. Câu chửi được phun ra như một tuyên ngôn hiện thực.

“Này!” tôi quát lên vì không thể chịu được nữa. Cụ Frazier vẫn còn tràn trề sinh lực, nhưng ngay cả khi cụ đã trở nên yếu ớt, ngay cả khi những người già cả chỉ còn là những thi thể thoi thóp chỉ tổ chật đất chật không khí, thì họ vẫn đã trải qua biết bao nhiêu chuyện và ta vẫn phải đối xử tôn trọng với họ. Thế nên tôi bèn lừ lừ tiến về phía hai thằng, cố làm ra dáng hung hăng bặm trợn. Chúng vội đứng dậy - cũng với vẻ hung hăng bặm trợn - và tôi để ý thấy trên chân chúng, hai đôi tất trắng đã được kéo lên cao tớn, phải cao đến gần đầu gối (tôi không thật chắc vì hai cái quần đùi kia không dài đến đùi mà đến tận bụng chân). Sao lại kéo bít tất lên cao thế nhỉ? Tôi chỉ nghĩ ra được một lý do duy nhất: hai thằng này chắc là loại đầu gấu giắt dao găm trong bít tất, chỉ có điều đôi tất được kéo quá cao đến mức nếu chúng muốn giắt cả một thanh đoản kiếm thì cũng chẳng thành vấn đề. Còn tôi, chẳng có lấy một mẩu vũ khí. Thêm nữa, bít tất của tôi chỉ ngắn đến mắt cá chân thôi, nên làm sao chứa được thứ gì nguy hiểm. Tôi bèn lùi lại khỏi hai thằng, duỗi nắm đấm ra, và trong khi tháo lui tôi thì thầm vào tai cụ Frazier, “Ta đi thôi cụ.”

Nhưng cụ Frazier lại mặc kệ tôi. Cụ khẽ quay đầu thật chậm để nhìn hai thằng. Ngay cả động tác quay đầu đó cũng thật uy nghi. Tôi tự hỏi liệu hai thằng có nghĩ rằng so với cụ già, chúng hóa ra thật là nhược tiểu hay không? Tôi cứ như đang được chiêm ngưỡng cảnh một gã khổng lồ chán đời xoay mình lại hỏi đám dân làng bé bỏng vì sao lại ném đá vào gã. “Cậu chửi cái gì thế?” Cụ Frazier hỏi đứa vừa mở miệng chửi.

“Giời lóng bỏ mịe mà mặc như bố già Lô en, cụ khốt ạ,” thằng choai đáp, rồi đưa bàn tay lên quạt lấy quạt để để nhắc chúng tôi về cái nóng.

“Bỏ mịe,” thằng còn lại chêm vào.

“Ra thế,” cụ Frazier đáp, rồi tiếp tục bước đi, tay cầm cuộn báo đập bồm bộp vào đùi, như để đánh nhịp cho cơn giận chắc hẳn đang bốc lên ngùn ngụt. Tôi ném lại cho hai thằng một cái lườm ra trò để chốt hạ, rồi chẳng kịp xem chúng phản ứng thế nào, vội cắm cổ đuổi cho kịp cụ Frazier.

Hóa ra bộ quần áo của cụ là thứ bị chửi là đồ bỏ mẹ, và tự dưng cụ già nóng bừng lên, mặt cụ đỏ gần bằng mặt tôi lúc đỏ nhất. Cụ đã thôi đập cuộn báo vào đùi, thay vào đó xòe nó ra mà quạt phành phạch. Quạt kiếc chẳng ăn thua gì đâu; tôi đã đúc kết từ kinh nghiệm của chính mình, vì cả hai người chúng tôi đều có một bộ động cơ sinh nhiệt chạy hừng hực trong người - những lò lửa của nỗi hổ thẹn và cơn thịnh nộ nằm ở đâu đó gần quả tim, lá gan và lục phủ ngũ tạng - và ta không có cách nào dập tắt lửa từ bên ngoài. Cụ Frazier nhanh chóng học được điều này, và ném tờ báo cái vèo lên trên đỉnh một thùng rác đầy có ngọn ở góc phố, và bước đi quyết liệt dù có đèn đỏ, thách thức xe cộ đâm vào cụ, đâm vào chúng tôi. Nhưng làm gì có cái xe nào, nên chúng tôi cũng qua được bên kia đường mà không chút sứt sẹo.

Cụ cứ phăm phăm đi, tay vỗ đùi đen đét (tôi cược là giờ cụ đang tiếc hùi hụi tờ báo). Tôi không nói gì; tôi thấy thương cụ. Giờ trông cụ còn tội nghiệp hơn cả trước lúc tôi đến, và như để minh chứng cho điều này, cụ ngồi phệt xuống vệ đường. Tôi cũng ngồi xuống bên cạnh cụ - được nghỉ một lát cũng tốt. Giống hệt như tôi, cụ Frazier đang thở hồng hộc, và tôi lại thấy lo cho quả tim của cụ, sau những gì tôi đã gây ra. Vâng, tôi thấy tội nghiệp cho cụ, và tội nghiệp cho cả tôi nữa, và đây hẳn là một mối đồng cảm chân thực vào loại bậc nhất. Tôi muốn giúp cụ nhưng chẳng biết giúp bằng cách nào. Có thật là người như tôi chẳng giúp được ai khác không? Chẳng công bằng gì cả. Có thật là không có cái gọi là công bằng ở trên đời không? Những câu hỏi này hiện lên trong đầu tôi, và khi sắp nghĩ lan man sang một đống thứ khác, tôi tình cờ ngước nhìn lên và nhận ra chúng tôi đang ngồi ngay trước cổng Dinh thự Edward Bellamy - cụm từ đấy được đề trên tấm biển gỗ to, hoành tráng treo bên trên nó. Từ chỗ này trên vỉa hè tôi có thể đọc được rõ mồn một.

“Kìa,” tôi kêu lên, “nó đây rồi.” Và trong cơn phấn khích, tôi nhấc cụ Frazier đứng thẳng lên. Cũng chẳng có gì ghê gớm, vì người cụ chẳng còn tí cân nặng nào ngoài đống áo quần. Tôi đỡ cụ dậy và kéo cụ dọc theo vỉa hè tới ngôi dinh thự. Chẳng hiểu sao ban nãy tôi đã không sớm nhìn ra. Sừng sững bên cạnh cụ Frazier lúc này là công trình nguy nga nhất khu phố, bất chấp việc đã từng bị một kẻ nào đó cố tình đốt: tòa dinh thự có màu xám, cửa chớp xanh lục, cỏ kiếc được xén thẳng thớm, những ngọn nến điện sáng lung linh sau cửa sổ, một hàng rào gỗ bao xung quanh và thậm chí còn có cả một cái thảm sắt đen nhánh siêu cổ để chùi giày đặt sát bên cửa ra vào. Ngôi dinh thự thật xinh xắn, xinh xắn lắm cơ. Bạn sẽ chẳng để ý thấy có điểm nào bất thường, trừ việc nó bị niêm phong bằng những dải băng màu vàng của cảnh sát, và có một vài vết cháy sém ở cạnh chân tường. Chẳng khác gì ngắm một phụ nữ đẹp tuyệt trần với một mái tóc cắt hỏng. Sau tất cả những thứ xấu xí luộm thuộm ta thấy trong khu phố, thì vẻ đẹp này quả là một làn gió mát lành rười rượi giữa ngày hè oi ả, và tôi vẫn chưa hiểu nổi tại sao cụ Frazier lại muốn đốt phắt nó đi. Sao không đi đốt nhà hai thằng mất dạy kia kìa, chúng chẳng phải đã giở trò với cụ sao? Chứ thiêu trụi một tòa nhà cổ kính đẹp đẽ nhường này thì quả thật quá gàn dở, chả thể hiểu nổi.

“Vì sao?” tôi hỏi cụ. “Vì sao cụ lại muốn đốt tòa nhà đẹp đẽ này?” Khi hỏi, tôi chợt nhận ra rằng câu trả lời nằm chính ngay trong lá thư cụ viết, mà vì tôi mới đọc lươn lướt nên chỉ biết rằng cụ Frazier nhờ tôi đốt cái gì, chưa biết được lý do vì sao cụ lại muốn tôi làm vậy. Nên , tôi bèn rút lá thư ra khỏi túi áo khoác. Nhưng trước khi lá thư được rút hẳn khỏi túi áo, cụ đã giật phắt nó khỏi tay tôi. Tôi thậm chí còn không nhìn thấy bàn tay cụ chạm vào lá thư trên tay tôi, đủ biết phản xạ của cụ già thật đáng kinh ngạc. Cụ đã già thế cơ mà!

Nhưng khả năng đọc của cụ thì lại như gà lên chuồng, ít ra là khi không có mục kỉnh ở đây. Cụ gí lá thư lên sát mắt và để đọc xong chắc cũng phải mất cả nửa tiếng đồng hồ.

“Cụ Frazier,” tôi bảo cụ, “sao không để cháu đọc cho cụ? Thế thì nhanh hơn.”

Ông cụ chẳng đếm xỉa gì đến tôi, và rõ ràng cụ có quyền làm vậy. Bởi có lẽ tôi đã nhầm về thị lực của cụ; hoặc là tôi đã đúng, nhưng điều đó chẳng liên quan tí gì đến tốc độ đọc chậm như rùa của cụ. Rõ ràng là ông cụ rất thích thú với việc mình đang làm. Cụ quả là biết cách đọc và biết cách rút ra một điều gì đó từ những gì mình đọc, và trong khi đọc, gương mặt cụ có nhiều biến chuyển, như những pha mặt trăng. Cụ khiến việc đọc trở nên một công việc rất đỗi thiêng liêng và giá trị, thậm chí là có tính đổi đời. Một lần nữa, tôi tự xỉ vả bản thân vì đã bỏ ngang việc đọc sách từ nhiều năm về trước, lòng thầm hứa sẽ tiếp tục đọc cuốn tự truyện giả mạo của Morgan Taylor ngay khi cụ Frazier đọc xong lá thư.

Rốt cuộc thì cụ cũng đọc xong. Sở dĩ tôi nhận ra điều này là vì cụ tuy vẫn làm ra vẻ say sưa đọc - mặt vẫn áp sát vào lá thư - nhưng tôi lại nghe thấy một âm thanh quen thuộc, lặp đi lặp lại trong cổ họng cụ, và khi tôi ngó lại gần thì thấy cụ Frazier đang khóc rưng rức, nước mắt chảy tràn xuống ướt đẫm cả lá thư.

“Cháu xin cụ đấy,” tôi dỗ dành, “đừng, cụ đừng làm thế - kìa, sao cụ lại khóc như thế?”

“Ta nhớ chú mày quá,” cụ thốt lên giữa những tiếng nấc.

Ôi, thật đáng thương làm sao, đáng thương hơn nhiều so với những giọt nước mắt! Chỉ có điều tôi còn chưa rõ ông cụ nhớ ai. Không phải tôi rồi, cái đó thì tôi chắc. Thứ nhất, là vì tôi đang đứng sờ sờ ngay bên cạnh ông cụ; thứ hai, cụ ta nói nhưng có nhìn về phía tôi đâu. Đầu tiên cụ Frazier soi chằm chằm vào lá thư; rồi cụ ngẩng đầu lên như thể đang ngắm lá quốc kỳ cắm ở hàng hiên. “Ta nhớ chú mày quá,” ông cụ lặp lại, lần này hướng về lá cờ mà nói. Nên tôi bèn bước tới giật lá cờ khỏi cột và trao cho cụ. Nhưng hình như lá cờ cũng không phải thứ cụ Frazier nhớ nhung: ngay lập tức cụ buông cho nó rơi xuống vỉa hè và lại bắt đầu khóc, khóc nức nở. Tôi cứ đinh ninh rằng lần này quả tim cụ chắc sẽ đầu hàng, lăn khỏi lồng ngực mà rớt cái bịch xuống hè đường.

“Ôi, ta cô độc quá, cô độc quá,” cụ Frazier rên rỉ. Giờ thì đến lượt quả tim tôi chuẩn bị đầu hàng. Và đến lượt thằng tôi bật khóc tu tu: ừ thì hai người chúng tôi là một cặp mít ướt; có lẽ chúng tôi đã khóc đến độ xua hết lũ mèo trong phố đi mất hút.

“Ta cô độc quá,” cụ lại thốt lên.

“Cháu hiểu,” tôi đỡ lời. “Cháu cũng một thân một mình đây này.” Bởi vì nói thật, chuyên gia cô đơn chính là tôi đây: một tên thiếu niên mười tám lỡ tay đốt nhà, ngộ sát, vào tù ra tội khi vẫn còn là trai tân. Thế nên tôi kể cho ông cụ nghe câu chuyện đời mình, câu chuyện mà đương nhiên cụ đã từng bập bõm nghe. Và vì tôi có quá nhiều chuyện để kể, quá nhiều từ ngữ cần phải vận dụng, nên tôi sa vào một cơn say triết lý và thao thao với cụ rằng, chúng ta chẳng qua chỉ là những kẻ đã dành hầu hết cuộc đời để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn mà cuối cùng chỉ là để quay trở lại và đi tìm nó, và để minh chứng, tôi kể lại chuyện tôi đã lừa dối gia đình nhỏ của tôi hàng năm trời vì tôi sợ phải ở một mình, rồi lừa dối chất chồng lừa dối, và chính việc này đã đảm bảo rằng chẳng chóng thì chầy, nhất định tôi sẽ trở thành kẻ cô đơn. Vâng, ngay cả khi không rõ lá thư viết gì, tôi vẫn hiểu điều cụ Frazier muốn nói, và lý do vì sao cụ muốn biến Dinh thự Edward Bellamy thành một vầng lửa gầm rống ra trò. Tôi chẳng đã tai nghe mắt thấy là gì: hai thằng đầu gấu đã chửi cụ Frazier ăn mặc chẳng giống chúng, hoặc, như tôi đoán, là chẳng giống với bất kỳ ai trong khu phố, và chúng chửi cụ bằng một thứ ngôn ngữ tục tĩu rằng cụ không còn thuộc về nơi này nữa, rằng cụ hoàn toàn là kẻ cô độc. Đây là lý do cần đến ngọn lửa, bởi xét cho cùng, thì khi ngồi ngắm một đám cháy - và ngó ngoáy ngón chân - thì ai mà thấy cô độc cho được. Điều này là một sự thật hẳn hoi: ngay cả khi bạn là người lẻ loi nhất quả đất, miễn là có một ngọn lửa (và Dinh thự Bellamy là tòa nhà kiều diễm nhất, to đẹp nhất khu, nên cứ theo lý mà nói, thì khi cháy nó cũng sẽ vẽ nên một cảnh tượng hoành tráng nhất có thể), bạn sẽ có thể ngắm nhìn nó, cảm nhận sức nóng của nó, và nó sẽ khiến bạn hồi tưởng lại một quãng thời gian hạnh phúc xa thẳm trong quá khứ, khi thế giới này còn thuộc về bạn, khi bạn còn hiểu được nó, khi bạn có thể đắm mình được vài phút ở đó mà không phải cảm thấy quá sức đơn côi, sợ sệt và giận dữ. “Harvey à, cụ không cô độc đâu,” tôi bảo cụ. “Cụ không hề cô độc.”

Và cụ Frazier phản ứng thế nào? Cụ đáp với vẻ mặt sững sờ và đôi mắt khô ráo, “Anh vừa gọi ta là Harvey?”

Tôi cứ ngỡ cụ có ý mắng tôi hỗn vì dám gọi thẳng tên cúng cơm của cụ, nên bèn phân trần, “Dạ vâng, cháu xin lỗi, thưa cụ Frazier.”

“Harvey là em trai ta,” cụ đáp. “Còn ta tên là Charles.”

Lúc đầu tôi còn tưởng cụ bịp tôi, rằng cụ nặn ra một ông em ruột như một đại diện cho những mong muốn của mình. Khi còn nhỏ, chính tôi cũng giở trò này hoài, ví dụ như là khi tôi nhỡ tay ném bóng chày vỡ cửa kính nhà người ta, khi tôi ăn nhầm phải hộp cơm của ai đó trong căng tin, hoặc khi tôi chẳng may đụng phải một cái xe ô tô nào đấy trong bãi đỗ xe trường trung học sau buổi dạ hội cuối năm, và nếu nhanh trí ra thì tôi đã dùng tới chiêu này sau khi đốt Dinh thự Emily Dickinson. Nhưng tôi nhận ra rằng cụ Frazier không hề phịa; phịa ra một ông em thì chẳng có gì khó, nhưng để khóc ngon lành (và đầy sức thuyết phục) vì nhớ ông em đã mất thì khó hơn một vạn lần.

“Vâng,” tôi nói. “Nhưng vì lý do nào mà em trai cụ lại muốn cháu đốt Dinh thự Edward Bellamy thế?”

“Bởi vì chú ấy…” Nói đến đây cụ khựng lại, như muốn gắng hiểu cho được động cơ của em trai. “Bởi vì chú ấy lập dị lắm,” cuối cùng cụ cũng nói ra được. “Chú ấy có vấn đề.”

“Cháu cược là cụ ấy cũng yêu thích sách vở như cụ vậy,” tôi nói.

“Ừ,” cụ Frazier đáp. “Chú ấy đọc quá nhiều. Đó là một trong những rắc rối của chú ấy. Mà cuộc đời này lại thiếu hụt đủ thứ, không như những cuốn sách. Cuộc đời luôn làm chú ấy thất vọng. Nhưng ít ra, chú ấy vẫn còn có công việc ở Dinh thự Bellamy…”

“Để cháu đoán nhé,” tôi ngắt lời, không ngờ mình lại ăn may đến như vậy. “Cụ ấy làm chân hướng dẫn viên du lịch?”

Cụ Frazier gật đầu. “Chú ấy làm hướng dẫn viên cho đến khi chính quyền gặp khó khăn về ngân sách và cắt béng cái vị trí ấy đi.”

“Và điều đó khiến cụ ấy thất vọng,” tôi đoán.

“Đúng rồi.”

“Thế nên cụ ấy muốn cháu đốt Dinh thự Edward Bellamy. Vì đã bị sa thải.”

“Ta cho là vậy.”

“Và giờ thì cụ ấy đã mất rồi,” tôi tiến tới, muốn hỏi hết các câu cần hỏi trong khi cụ Frazier vẫn còn trong tâm trạng muốn trả lời. “Cụ ấy mất rồi, và cụ nhớ cụ ấy.”

Trong một phút sau đó, tôi cứ ngỡ cụ Frazier chỉ chực khóc trở lại đến nơi, nhưng cụ không khóc. Cụ soi tôi một lúc lâu: một lần nữa gương mặt cụ lại biến chuyển không ngừng, từ cơn giận dữ chuyển sang nỗi sầu khổ, từ sự cam chịu chuyển sang nỗi hoài nhớ - tức là tất tần tật những cung bậc cảm xúc của loài người. Cụ thậm chí còn có thể cuời khẩy - một thành tựu đáng nể đối với một cụ già Yankee đã sắp xuống lỗ. Rốt cuộc, cụ Frazier đăm chiêu đáp, “Ừ, ta nhớ chú ấy.”

“Thế nên cụ không thể đợi cháu được nữa, và cụ tự gánh vác trách nhiệm đó lên vai mình và đốt béng Dinh thự Bellamy đi.” Từng chữ một cứ tuồn tuột trôi ra từ miệng tôi như thể tôi nắm rõ sự thật trong lòng bàn tay và chỉ chờ cụ Frazier khen tôi sao mà biết tài thế.

Nhưng cụ chẳng khen lấy một câu. “Không, không,” cụ thốt lên, tỏ vẻ thực sự sốc vì tôi đã dám nghĩ ra cái điều động trời ấy. Cụ còn phủi lấy phủi để hai cái vạt áo khoác, như thể lời cáo buộc của tôi là đống xơ vải bám trên đó.

“Nhưng nếu không phải vậy thì là ai?”

“Ta lại cứ đinh ninh là cậu chứ,” cụ đáp.

Tôi quả quyết với cụ rằng không phải tôi, không phải tôi, và cụ cũng lại quả quyết với tôi rằng không phải cụ, và hai người chúng tôi cứ tiếp tục như thế cho đến khi cả hai đã thuyết phục được nhau rằng mình vô tội (tôi tự hỏi không biết đây có phải một phẩm chất tồi ở một thám tử: bị kẻ tình nghi dễ dàng thuyết phục rằng họ vô tội) và rồi chẳng còn gì để nói với nhau. Tôi cất lời chào tạm biệt, bắt tay cụ già, và bước về xe. Rồi tôi nhớ ra mình vẫn còn một câu chưa kịp hỏi. Khi quay người lại tôi thấy cụ Frazier đã ở trên hiên nhà cụ - và giờ tôi nhận ra rằng căn nhà của cụ chỉ cách Dinh thự Edward Bellamy đúng ba căn - và tôi hỏi với theo, “Này cụ, cái quyển sách nổi tiếng của Edward Bellamy có tựa gì ấy nhỉ?”

Cụ Frazier lập tức phấn chấn hẳn lên; ta gần như có thể ngửi thấy mùi mọt sách tỏa ra trên từng lỗ chân lông của cụ. “Ông ta viết tiểu thuyết Nhìn lại. Các quyển khác thì ít nổi hơn.”

“Nhìn lại,” tôi nhẩm lại. “Viết về gì hở cụ?”

“Một xã hội không tưởng,” cụ đáp trước khi đóng cửa lại sau lưng, lúc này tôi mới nhận ra rằng cụ đã cầm theo lá thư của em trai cụ, nhưng tôi quyết định sẽ để cụ giữ nó. Biết đâu cụ sẽ nâng niu nó, như bố đã từng nâng niu tất cả các lá thư đề gửi tôi. Biết đâu cụ Frazier sẽ ôm lá thư vào lòng và cảm thấy bớt hiu quạnh. Dù thế nào, tôi cũng cứ để cụ giữ nó. Hóa ra, mãi sau này tôi mới hay, đây là một sai lầm của tôi, nhưng lúc này thì làm sao tôi biết được kia chứ? Làm sao ta có thể nhìn ra những sai lầm trước khi chúng trở thành những sai lầm? Cuốn sách dạy ta điều này là cuốn sách nào?

Tôi về đến nhà lúc đồng hồ vừa điểm năm giờ chiều, và thấy ông bô đang ngồi trên xe đạp cố định trong phòng khách, trên người bận chiếc quần soóc thể thao màu xám và chiếc áo thun ba lỗ đỏ đã bạc màu, chỉ thiếu cái băng đô trên trán nữa là ông sẽ hóa thành một vị huấn luyện viên thể chất nhìn “gay” đến mức ta cứ ngỡ là thẳng. Có điều, ông chẳng chịu đạp xe gì mà cứ ngồi yên vị thế thôi - nhưng tôi lại cho rằng ngay việc ông xoay xở leo được lên cái xe đã là kỳ tích rồi. Ông thậm chí còn toát ra được một ít mồ hôi. Bố tôi đang nốc một chai Knickerbocker loại hơn một lít (chắc chắn phải có ai đó đã đi mua thêm bia, trừ phi ông có chỗ cất bia bí mật); và dựng trước mặt ông, ngay trên kệ tạp chí gắn ở đầu chiếc xe, là cuốn tự truyện của Morgan Taylor. Ông lướt lướt qua cuốn sách, lật cả trăm trang liền một lúc, rồi lại giở ngược lại năm chục trang, như thể ông chưa từng đọc sách bao giờ, và đang không biết bắt đầu từ đâu. Tôi chịu không đoán được ông đã đọc xong mấy phần rồi, nhưng tôi biết chắc chắn rằng ông đang đọc, bởi miệng ông cứ không ngừng lẩm nhẩm theo từng dòng, từng dòng mà Morgan đã đánh cắp từ bố tôi.

“Ôi, bố ơi, con thật lòng xin lỗi,” tôi cất lời. Ông ngẩng lên, thả rơi cuốn sách xuống sàn nhà - thật đáng đời cho nó. Tôi nhặt nó lên, bước ra hành lang, vứt toẹt cuốn sách vào cái tủ không cửa ngoài hành lang, chỉ để thể hiện rõ ràng chính kiến của mình. “Cái gã đó có quyền gì chứ.”

“Có… quyền… gì… chứ,” bố lặp lại. Đến giờ, tôi đã hiểu rằng việc lặp lại những gì người khác nói chính là cách ông đàm thoại hằng ngày, tương tự như là việc kể chuyện tiếu lâm hoặc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu ở một số người khác.

“Thực ra là lỗi ở con cả,” tôi nói. “Chính con là người đã kể cho gã những chuyện về bố.”

“Về… ta?”

“Vâng, về những nơi bố đã đến, những việc bố đã làm sau khi đi khỏi nhà ấy.”

“Con… kể à?” bố tôi hỏi. Chỉ đến lúc này, như thể vừa rũ bỏ được lời nguyền bị đóng băng, ông mới chầm chậm đưa mắt theo quỹ đạo di chuyển của cuốn sách, ngừng lại độ một phút ở cái tủ ngoài hành lang như để hình dung ra cuốn sách đang nằm lẫn giữa một mớ hỗn độn áo khoác mùa đông, tệp tài liệu và những đôi giày cọc cạch bên trong tủ. “Có… quyền… gì… chứ,” ông lại lặp lại, rồi nhìn tôi vẻ phật ý, và ngửa cổ nốc một hớp bia đầy cáu kỉnh.

“Con hiểu.” Tôi cúi đầu. “Con xin lỗi bố.”

Hai bố con ngồi lặng đi một lúc lâu, tôi thì hổ thẹn ê chề, còn bố thì ngập tràn giận dữ, cả hai chỉ đợi có một người thứ ba xuất hiện để phá vỡ bầu không khí bế tắc này. Bởi một gia đình thì ắt phải thế: sẽ có hai thành viên đập nó vỡ vụn ra rồi chờ thành viên thứ ba đến hàn gắn lại y nguyên.

Rốt cuộc, sau khoảng mười lăm phút (bố tôi có một cái hộp ướp bia đặt dưới chân chiếc xe đạp và uống liền hai lon mà không thèm mời tôi, nhưng tôi chẳng trách ông) thì mẹ xuất hiện. Mẹ không mặc đồ thể thao mà bận một chiếc quần nhung kẻ màu xanh lá cây, và một chiếc áo sơ mi trắng mà thể nào cũng có người cãi rằng đấy là áo cánh chứ không phải sơ mi, và một đôi ủng da màu nâu. Nhìn bà rất thượng lưu quý phái, hệt như một đấng nam tử không mảy may chút nam tính, hệt như minh tinh Katharine Hepburn, duy chỉ thiếu cái tật run tay và bạn diễn Spencer Tracy. Ở bà toát lên một vẻ trẻ trung phơi phới, khác một trời một vực so với người đàn bà năm mươi chín tuổi tôi vẫn từng hay. Gương mặt mẹ hồng hào khỏe khoắn như được tắm nắng trời, khiến ta liên tưởng ngay tới người mẫu quảng cáo cho một nhãn hiệu son dưỡng môi đắt tiền được các dược sĩ bảo đảm. Trên tay bà là một hộp các tông đựng mười hai lon Knickerbocker: bà rút ra một lon ném về phía tôi và lên tiếng, “Ta không cần biết vì sao mặt mày con lại ủ dột thế kia, nhưng hãy thôi ngay đi.” Rồi mẹ quay sang bố, “Cả ông nữa.”

“Vâng,” tôi đáp, và bố cũng làu bàu đồng tình. Tôi bèn bật nắp lon, tu ừng ực rồi hỏi, “Thế hôm nay mẹ làm gì?” Bởi theo lệ thì các thành viên trong gia đình vẫn thường hỏi nhau câu này sau một ngày dài, và hơn nữa, tôi chợt nhận ra mình chẳng hay biết mẹ đã làm gì trong suốt ba ngày vừa qua, từ khi tôi về nhà.

Mẹ tôi chậm rãi nhâm nhi lon bia, và khi nghe tôi hỏi thì thật lạ, bà bỗng ngưng trong giây lát, rồi khe khẽ nuốt trôi ngụm bia xuống cổ họng, tuy khẽ nhưng tôi vẫn thấy rõ, rồi ngay sau đó bà ngửa cổ tu cạn sạch lon bia liền tù tì trong một hơi dài. “Làm việc,” bà đáp, rồi chẳng thèm nhìn, bà vứt thêm một lon nữa về phía tôi, dù lúc này tôi mới uống dở nửa lon đầu.

“Còn bố thì sao ạ?” tôi hỏi. “Hôm nay bố làm những gì rồi?”

Đọc vị phản ứng của bố tôi thật khó, bởi ông quá hiếm khi biểu lộ, nếu có thì hoặc giật cục, hoặc chẳng ai hiểu nổi. Nhưng tôi trông thấy ông nhìn trân trối vào ti vi như thể khẩn cầu sự giúp đỡ của nó. Rồi ồng quay qua cái hộp ướp bia, lúc này hiển nhiên đã rỗng không, và hướng về cái hộp mà nói, “Làm việc.” Và dường như để thưởng cho bố vì đã trả lời đúng, mẹ ném một lon bia về phía ông, không khác nào một huấn luyện viên ném con cá cho hải cẩu. Thật phi thường, bố tôi bắt lấy trúng phóc, mặc dù việc này làm cho ông suýt thì ngã lộn cổ, khiến tôi phải vội nhảy tới đón lấy cả người lẫn xe trước khi cả hai ngã chổng vó xuống sàn nhà.

“Còn con thì sao hở Sam,” mẹ hỏi. “Hôm nay con làm những gì rồi?”

Lúc đó tôi chẳng biết bố mẹ có bịp tôi không, nhưng trực giác nói với tôi là họ đã không nói thật, thế nên tôi, một thám tử ít đọc, không một chút bài bản, làm đến đâu học đến đó, đã quyết định ngay tại chỗ rằng bí quyết nói dối thành công là phải hành động ngược lại với những nghi phạm nói dối. Do vậy tôi bèn nhìn thẳng vào mắt mẹ tôi và nói, “Chẳng làm gì cả,” rồi quay sang nhìn thẳng vào mắt bố tôi và nói, “Chẳng làm gì cả,” dù ông chẳng phải người hỏi, và điều này quả thực có làm tổn thương danh dự tôi chút đỉnh. Nhưng trong khi tôi nhìn thẳng vào mắt họ thì tôi cũng tự hỏi không biết họ đã đọc tờ nhật báo sáng nay chưa (tôi vứt nó trên bàn ăn, nhưng giờ nó đã biến đi đâu mất), liệu họ đã hay tin về đám cháy ở Dinh thự Bellamy chưa, liệu bố có biết tôi đã lục lọi chồng thư nọ và thậm chí đã thó mất (và giờ thì mất luôn) một bức, và liệu mẹ có được hay biết tí ti gì về những bức thư đó không. Ai đã biết những gì - đó là câu hỏi tối quan trọng với cái gia đình này.

“Chậc,” mẹ lên tiếng, “bố mẹ thì làm quần quật còn con thì lười chảy thây ra. Lại là một ngày như những ngày khác.”

“Hệt như hồi xưa mẹ nhỉ,” tôi đáp, trong đầu hồi tưởng về những ngày tháng bé thơ, khi bố mẹ tôi đi làm, đấy là họ bảo tôi thế, và tôi thì chẳng làm gì cả, đấy là tôi bảo họ thế. Và cả nhà nâng bia uống vì câu nói đó, một điều không xảy ra khi tôi còn bé thơ, rồi lại uống tiếp, và có vẻ như hai ông bà đã quên béng toàn bộ cái chuyện này. Bố mẹ tôi thật khéo quên, đương nhiên rồi, tuổi già mà, nó có khác gì khoản thế chấp cố định giúp ta được quyền gọi ngôi nhà là nhà của mình. Nhưng tôi thì không khôn khéo được như thế, tôi không hề quên. Tôi càng lúc càng say bí tỉ, nhưng trong suốt cuộc chè chén tôi đã nhớ lại những ngày tháng khi bố mẹ tôi còn bình thường, và tự hỏi liệu chúng có giống với những ngày tháng khi tôi còn bình thường, và cho đến khi loạng choạng bước lên cầu thang thì đầu tôi vẫn lởn vởn câu hỏi này. Trước khi trèo lên giường, tôi tháo đồng hồ đeo tay ra. Nó thuộc loại đồng hồ đắt tiền, siêu bền, vô cùng thông thái - chẳng hạn như nó biết đo nào khí áp, nào vận tốc gió, thậm chí cả mực nước thủy triều ở thành phố lớn thứ hai của Sri Lanka - toàn những thứ bạn chẳng có nhu cầu am hiểu, nhưng nó lại nói cho bạn biết hai thông tin hữu ích là thời gian trong ngày, và thứ trong tuần. Và ngay lúc này đây, cái đồng hồ đang nhắc tôi rằng giờ đang là 11:21 đêm, và hôm nay là thứ Bảy. Là thứ Bảy. “Là thứ Bảy,” tôi nói toáng lên, biến nó thành một lời thông báo chính thức. Vâng, thứ Bảy mà ông khốt bà khốt nhà tôi cũng làm việc cơ đấy, hoặc ít ra là tuyên bố họ đã làm việc. Với bố tôi thì cũng không lạ lắm: việc biên tập sách thì làm và nghỉ ngày nào chả được, mà xưa nay lịch làm việc của ông vẫn luôn lung tung hết cả. Nhưng một bà giáo đến trường vào thứ Bảy thì dạy dỗ ai đây? Câu hỏi này làm tôi mệt bã người, và ngủ lịm đi trước khi kịp trả lời. Tôi đã phải dốc sức điều tra vụ hỏa hoạn ở Dinh thự Bellamy, và giờ sẽ phải dò xét thêm chuyện này nữa. Như ai nấy đều biết, một khi ta bắt đầu dò xét một việc, thì kiểu gì ta cũng sẽ tiến hành dò xét một loạt các việc khác.

ACE LE dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.