Cẩm Nang Đốt Nhà Các Văn Hào New England

Lượt đọc: 686 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Ba - 12

❊ ❊ ❊

Nếu tôi có viết cuốn hồi ký của đám phân tích trái phiếu, Cẩm nang phóng hỏa dinh thự các văn hào vùng New England, thì lời khuyên đầu tiên sẽ là thế này: Rèn luyện. Vì Chúa lòng lành, hãy rèn luyện cho thật thuần thục.

Kẻ nào đó đã cố phóng hỏa Dinh thự Edward Bellamy hiển nhiên đã chẳng chịu rèn luyện kỹ, và thủ phạm vụ đốt Dinh thụ Mark Twain cũng chẳng hơn gì. Nhưng sáng hôm đó, trước khi tôi đến xem Dinh thự Mark Twain tôi quyết định lẻn vào phòng bố tôi, mở hộp đựng thư, và kiểm tra xem ai là người muốn thiêu rụi Dinh thự Mark Twain. Không như mẹ, bố tôi vẫn ở nhà: tôi nghe thấy ông nằm ngáy ầm ã, vang rền đến mức rung cả mái lợp. Tôi mở cửa vào phòng - cánh cửa, như những cánh cửa ở những ngôi nhà cổ, kẹt lại và kêu lên một tiếng cót két, nhưng nó hoàn toàn chìm nghỉm dưới tiếng ngáy của bố - rồi nhón chân tới chỗ cái bàn. Ngay bên ngoài cửa sổ là một ngọn đèn đường chỉ đủ tờ mờ soi cho căn phòng khỏi rơi vào màn tối đặc kịt, vừa đủ cho tôi nhận ra một hình hài đang đắp chăn nằm trên giường. Vào ban ngày, nhìn ông thật nhỏ bé và yếu ớt, nhưng lúc này, nằm trong cái chăn ấy, dưới cái thứ ánh sáng mờ nhòa ấy, bố tôi bỗng to ngồn ngộn và bí ẩn một cách quái đản, và đường hoàng hơn hẳn con người thật của ông. Tôi nhớ lúc đó mình đã chợt thấy buồn bã vì nhận ra rằng bố tôi - mà có khi là tất cả chúng ta cũng nên - khi ngủ lại oai hơn khi thức.

Gì thì gì, trong cái màn sáng nhờ nhờ đó, tôi cũng sờ soạng đến được cái bàn, cố mở ngăn kéo thật khẽ khàng, nhấc cái hộp giày ra khỏi đó rồi chuồn khỏi phòng. Tôi đi vào bếp; vẫn còn một nửa bình cà phê còn sót từ hôm trước, nên tôi hâm nóng lại và nhâm nhi cà phê trong lúc giở từng bức thư ra xem, chẳng theo một thứ tự nhất định nào -Wharton trước Alcott, Alcott trước Melville - và kiếm được bức viết về Dinh thự Mark Twain. Tôi mang nó lên phòng, nhét vào túi áo khoác tôi sẽ mặc ngay hôm đó, rồi đi tắm, cạo râu, thay đồ, nói chung là chuẩn bị hình thức cho tươm tất một chút trước khi đóng vai thám tử. Rồi tôi đi xuống nhà. Đi đến lưng cầu thang thì tôi ngưng lại: bố tôi đang từ bếp đi ra. Ông chỉ bận nhõn một chiếc quần đùi, nhưng nhìn ông lại tráng kiện lạ lùng, khác hẳn với ông già rệu rã tuổi đã lục tuần mà tôi vẫn biết: hai cánh tay và ngực ông vẫn có đường có nét, nếp da dưới cánh tay không bị chảy xệ đung đưa như các ông già khác; sải bước cũng tương đối vững vàng chứ không lê lết, làm tôi suýt thì bật ra câu, Này nhìn bố ngon lành đấy, nếu không nhìn thấy những thứ ông đang mang trên tay. Tất nhiên, một bên tay ông khư khư một lon Knickerbocker. Nhưng trên tay kia là hộp đựng thư. Bố tôi vừa đi vừa tò mò nhìn vào cái hộp như thể nó là một người lạ mặt và ông đang chờ nó xưng danh tính. Ông cứ nhìn cái hộp chăm chú như thế cho tới lúc bước vào phòng và đóng sập cánh cửa sau lưng. Bố đang nghĩ ngại gì thế nhỉ? Liệu ông có đang tự hỏi không biết ai đã mang hộp thư từ phòng ông vào bếp? Liệu ông có nghi ngờ kẻ đó chính là tôi? Gì thì gì, làm gì còn ai khác để nghi ngờ ngoài tôi? Nhưng liệu có khi nào ông lại nghi ngờ chính ông đã làm việc đó đêm qua khi đang say túy lúy - đêm qua lại là một đêm cả nhà uống đến xiêu vẹo - và chỉ đơn giản là không nhớ được gì? Tất nhiên đây lại là một điểm hay nữa của thói bia rượu: ý tôi không phải là khả năng khiến bạn quên mọi thứ, mà là khả năng làm bạn giả vờ rằng bạn đã quên mọi thứ, một cách đầy thuyết phục. Nhưng nghĩ ngợi cũng chẳng giải quyết được gì: bố tôi đã rút lui về phòng với cái hộp của mình, còn tôi đã có trong tay lá thư chỉ dẫn rõ ràng nơi tôi cần đến, và người muốn tôi đến đó.

Ngày hôm đó trôi qua khác hẳn với ngày tôi gặp cụ Frazier và tới Dinh thự Bellamy. Tiết trời đúng chất mùa thu, mùa thu thực thụ: không khí hanh khô cứa vào cổ họng, gió lạnh cứ thấy khăn choàng là thổi tung lên, và bầu trời xanh thẫm như thể có người đổ màu hóa học vào cho nó xanh tới cùng cực. Vào những ngày thế này, nếu luật cấm đốt lá còn chưa được đưa ra thì chắc hẳn bạn đã ngửi thấy mùi khói đốt lá đâu đây rồi. Tôi thấy bồn chồn, bồn chồn hơn nhiều so với lần lái xe tới Dinh thự Edward Bellamy, có thể là vì tôi đã từng đọc quá nhiều tác phẩm của Twain theo mệnh lệnh của mẹ - ông là tác giả bà yêu thích, tôi biết vậy và muốn làm bà vui, nên khi bà bảo tôi là đoạn truyện này hài hước lắm, thì tôi sẽ nhất nhất mà cười thật to, còn khi bà nói đoạn truyện này hay tuyệt cú mèo, thì tôi sẽ lắc đầu tỏ vẻ vô cùng ngưỡng mộ. Mà cũng có thể tôi thấy bồn chồn vì quãng đường lần này dài hơn đường tới Dinh thự Bellamy, nên cái khối nôn nao trong bụng cũng có nhiều thì giờ để nở ra hơn. Và đây là một lời khuyên nữa mà tôi sẽ bổ sung vào cuốn cẩm nang đốt nhà: nếu bạn là một tên hỏa tặc mới vào nghề, hãy chọn đốt nhà của một nhà văn không mấy tên tuổi ở gần nhà thay vì là nhà của một nhà văn lẫy lừng tiếng tăm ở một thành phố xa xôi.

Nhưng khi tôi tới nơi thì lại chẳng thấy có cái gì bị đốt cả: Dinh thự Mark Twain vẫn trơ như bàn thạch. Tuy vậy vẫn có những dải băng vàng chăng kín căn nhà; ở gần và xung quanh những cửa sổ tầng một có vài vết cháy sém, nhưng chẳng có gì bị hủy hoại vĩnh viễn, trừ mấy bụi cây bắt lửa đã bị giội nước giờ trông xiêu xiêu vẹo vẹo. Bản thân tòa dinh thự là một ngôi nhà cao to đến quái đản - một ngôi nhà theo phong cách Victoria nhưng đã bị tiêm hoóc môn tăng trưởng - được vây quanh bởi ba ngôi nhà khác nhỏ hơn một chút, và toàn bộ khu dinh thự khiến tôi liên tưởng tới giấc mơ vài đêm trước, giấc mơ với những căn dinh thự và người phụ nữ lõa lồ cùng những cuốn sách cháy rần rật, có thể đó là lý do khiến tôi thấy nơi này đặc biệt ghê rợn, thê lương, hẳn chẳng ma nào dám ở. Có khi chính Mark Twain cũng từng cảm thấy vậy: ông đã cất công xây dựng nơi này, tòa dinh thự trong mơ của đời mình, và tác phẩm sau khi hoàn thành thật kỳ vĩ và đẹp như mơ đến mức ông chẳng còn muốn ở đây nữa. Tất cả các cửa sổ của dinh thự chính lúc này đều không có ánh đèn, và ngoài tôi ra thì những con người duy nhất có mặt tại đây là đám phóng viên: ba bốn tay phóng viên truyền hình đóng com lê tươm tất, theo sau là đội quay phim với những máy móc hiện đại và áo khoác kaki nhiều túi hẳn rất thích hợp để tới vườn thú châu Phi. Đám phóng viên và quay phim cũng làm cho tôi thấy bồn chồn, không phải vì tôi sợ họ nhận ra mình, mà là vì trông họ như đã chuẩn bị kỹ lưỡng, có tổ chức và nai nịt đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng họ còn mải chú tâm đến khu dinh thự chứ không phải tôi. Thêm nữa, tôi đã thấy thứ muốn thấy, và đã biết được hai điều mà giờ tôi nghĩ là mình đã biết: kẻ đã tiếp cận hộp thư của bố tôi đã học thuộc hoặc sao chép lại hai bức thư nhờ tôi đốt Dinh thự Edward Bellamy và Dinh thự Mark Twain; và Dinh thự Mark Twain đã bị đốt, chính xác hơn là suýt bị đốt, bởi cùng một kẻ đã thất bại trong việc đốt Dinh thự Edward Bellamy. Trong đầu tôi không hề xuất hiện một ý niệm rằng những thủ phạm khác nhau có thể thất bại trong việc đốt dinh thự của những nhà văn khác nhau ở New England theo cùng một cách. Một gã đầu lừa ắt hẳn là sẽ luôn luôn nghĩ cái đầu lừa của mình là độc nhất, chẳng có cái thứ hai, rằng sự đầu lừa của gã cũng giống như dấu vân tay vậy, chỉ ăn khớp với một mình gã. Nhưng trên thực tế, quả đất này hóa ra lại nhan nhản những gã đầu lừa giống hệt ta, và ngay việc ngộ nhận ta là kẻ đầu lừa duy nhất cũng chính là một sự đầu lừa điển hình.

Nhưng chí ít ra, tôi lại không đầu lừa khi đọc lá thư. Tôi đọc vài lần liền, và đọc rất kỹ. Người gửi là một giáo sư ngữ văn ở Đại học Heiden ở Hartford, muốn nhờ tôi đốt giùm Dinh thự Mark Twain như một món quà dành cho “nữ bằng hữu” của ông, cũng là một giáo sư ở trường Heiden. Tên vị này là Wesley Mincher còn tên cô kia là Lees Ardor. Lá thư được viết đậm chất học thuật - từ đầu đến cuối toàn những kính từ như vị hay người và rặt những dấu chấm dấu phẩy phức tạp - nhưng tôi đọc mãi vẫn chưa rõ lý do đích xác vì sao ông lại muốn tặng món quà đó cho cô Lees. Và vì sao cô ta lại muốn món quà đó chứ? Sao không phải là một sợi dây chuyền, một chuyến du lịch bằng tàu biển, hay một con xế hộp? Ông Mincher không nói rõ, hoặc có thể tôi không hiểu rõ ông muốn nói gì: cái đằng hắng của một giáo sư đại học cũng có nhiều tầng nghĩa hơn cái đằng hắng của một người bình thường chứ, nên nếu không có một cuốn từ điển toàn thư lít nhít chữ và một cái kính lúp thì làm sao tôi giải mã được xem ông muốn nói gì. Nhưng đến cuối thư thì ông cũng lộ vở: “Nói tóm lại, lý do tôi muốn nhờ anh đốt Dinh thự Mark Twain là vì giáo sư Ardor cho rằng ông Twain là một cái (đọc đến đây bạn có thể cảm nhận được một sự im lặng chần chừ vì xấu hổ xen giữa các từ ngữ) âm hộ phụ nữ.”

Tôi không rõ liệu hai vị giáo sư này có còn đang hẹn hò nhau (lá thư đã được viết từ mười một năm trước) hay liệu cô giáo sư có còn cho rằng Twain là một cái âm hộ phụ nữ hay không. Tôi biết rõ âm hộ phụ nữ là cái gì, và tôi cũng biết cách tìm ra giáo sư Mincher: ông ta có lưu lại số điện thoại văn phòng trong thư. Tôi quay số, nhưng ông ta không có đó, và tôi cũng không để lại lời nhắn. Thay vào đó, tôi điện tới ban ngữ văn (ông Mincher đã viết bức thư trên giấy viết thư của ban ngữ văn, cứ như thể lá thư là một văn kiện gửi cho tạp chí chuyên ngành). Cô gái trực điện thoại cho tôi biết giáo sư Mincher không tới văn phòng hôm đó; nhưng khi tôi hỏi về giáo sư Ardor thì được biết cô ta đang có mặt ở trường ngay sáng đó.

Lees Ardor là một phó giáo sư văn học Mỹ - trên tấm biển treo ngoài văn phòng cô ta có ghi vậy - nhưng cô ta lại rất ghét văn học và chẳng coi nó ra cái đinh gì. Tôi ngộ được điều này sau khi gõ cửa phòng, được cô ta mở cửa, và tôi đứng trân trân ra đó một lúc lâu, hai mắt bị hút vào mái tóc cô ta. Một mái tóc dài, đỏ rực, thẳng tắp: chính là loại tóc cần được chải một cách thành kính hai trăm lần mỗi ngày. Nó bóng loáng như một sàn bếp vừa được đánh véc ni, hút hồn như chiếc đồng hồ vàng đung đưa của nhà thôi miên, và là chi tiết duy nhất về ngoại hình của cô Lees Ardor còn đọng lại được trong trí óc tôi. Vẫn biết là ngoại hình cô ta còn nhiều thứ khác nữa - cô ta có một cơ thể, một cơ thể có mặc quần áo đàng hoàng; cùng một giọng nói thuộc diện bình thường, không có gì đặc biệt - nhưng chỉ có mái tóc là làm tôi nhớ mãi. Mái tóc cô ta là điểm nhấn cho cả ngoại hình, cũng như cái chân gỗ của thuyền trưởng Ahab[1] vậy.

Hẳn là tôi đã đứng đực ra đó ngắm trân trân mái tóc đó một lúc lâu, đến mức cô Ardor phải huơ hai ngón tay ra trước mũi tôi mà bật tanh tách hai tiếng liền. Tiếng bật tay kéo tôi ra khỏi cơn mê. Tôi chìa tay ra và lên tiếng hỏi, cũng là để kiểm tra lại độ chính xác của tấm biển đính ngoài cửa, “Giảng viên Ardor phải không ạ?” Cô ta không đưa tay bắt lại mà hỏi ngược lại tôi, “Thế anh nghĩ tôi giảng cái môn gì?”

Điều này khiến tôi ngớ ra và quên cả tự giới thiệu, lắp bắp trong giây lát trước khi thốt lên, “Cô giảng văn học,” rồi đưa tay lên trỏ vào tấm biển.

“Tôi chẳng coi văn học ra cái đinh gì,” cô ta đáp, “Và tôi cũng rất ghét văn học.”

“Nhưng cô là một giáo sư văn cơ mà.”

“Thì đúng thế.”

“Tôi không hiểu.” Kinh nghiệm bản thân đã dạy cho tôi rằng đây chính là câu trả lời các nhà giáo thèm khát nhất, bởi nó khiến họ cảm thấy mình thật có ích. Khi còn ở Bà Chúa Hồ, những thứ tôi hiểu thấu đáo thật là ít ỏi, vì vậy mà tôi đã trở thành một chú thú cưng của các giáo viên ở đó.

“Hợp lý đến hoàn hảo,” cô ta đáp. “Không phải vậy à?” Chẳng cần đợi câu trả lời, cô ta quay lưng về phía tôi, đi vòng qua bàn làm việc rồi ngồi xuống nghế, loại ghế công sở mà bạn có thể thoải mái ngả người ra gần như song song với mặt đất. Cái ghế duy nhất còn lại trong phòng là một chiếc ghế gỗ lưng cứng cổ lỗ sĩ mà các vị tổ tiên Yankee của tôi đã cố tình thiết kế cho thật bất tiện để đám Thanh giáo chỉ ngồi được một lát là phải đứng dậy làm lụng tiếp. Tôi ngồi xuống đó, đối diện Lees Ardor. Chiếc bàn nằm giữa hai chúng tôi và sự khác biệt về đẳng cấp giữa hai chiếc ghế khiến tôi thấy mình thật nhược tiểu, như một sinh vật cấp thấp.

“Hãy thử kể tên một cuốn sách đáng được tôi thích,” Lees Ardor nói. “Một cuốn hay ho tới mức tôi phải mê mẩn xem nào.”

Tôi nặn óc nghĩ về tất cả nhũng cuốn sách mẹ đã từng bắt tôi đọc, về một số cuốn sách nhất định mà ai ai cũng khen hay, và tất nhiên cái tên Huckleberry Finn bật ra ngay. Đó là cuốn yêu thích của mẹ: khi còn nhỏ, tôi từng hỏi mẹ vì sao, thì bà luôn đáp rằng bà nhìn thấy bản thân ở trong đó, dù tôi không rõ bà nhìn thấy bà trong nhân vật Huck hay Jim hay Tom, hay lão công tước, hay một trong các nhân vật phụ. Thêm nữa, tôi đến đây là vì người tình Mincher của Lees Ardor muốn thiêu trụi Dinh thự Mark Twain, nên tôi nghĩ nếu muốn moi được thông tin về cô ta về vụ này thì phải hỏi câu này, “Huckleberry Finn thì sao?”

“Huckleberry Finn cái mông tôi ấy,” Lees Ardor đáp, miệng nở một nụ cười nịnh đầm, như thể chúng tôi đã thống nhất với nhau về mặt quan điểm, cho dù tôi chẳng hiểu “Huckleberry Finn cái mông tôi ấy” là có ngụ ý gì, mà tôi cũng không chắc chính bản thân cô ta đã hiểu.

Nhưng tôi đã không có cơ hội bảo cô ta giải thích cho thấu đáo. Cô ta bỗng nhoáng nhoàng quơ lấy một chồng sổ sách, rồi đứng bật dậy, đi vòng qua bàn và chỗ tôi ngồi, ném lại một câu sau lưng, “Chúng ta muộn giờ vào lớp rồi.”

Tất nhiên, vì tôi vẫn chưa kịp tự giới thiệu, chắc hẳn cô ta cứ nghĩ tôi là một sinh viên, một sinh viên cô ta chẳng nhận ra mặt cũng chẳng nhớ nổi tên, dù lúc này học kỳ đã trôi qua quá nửa. Gì thì gì, tôi cũng nhấc mình rời khỏi chiếc ghế địa ngục rồi lẽo đẽo theo cô ta đi xuống sảnh. Sảnh đường thật đẹp, đẹp nhất trong các sảnh đại học tôi từng được thấy, khác một trời một vực cái sảnh ở Bà Chúa Hồ. Trần nhà không trũng xuống, tường không nhớp nháp nước và từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới chỉ toàn là gỗ và đá hoa cương, trên trần đôi chỗ còn được khảm đá. Nhìn lên mái vòm đại học Heiden khiến bạn dồi dào hứng thú học hành, còn nhìn lên mái vòm Bà Chúa Hồ của tôi thì chỉ khiến bạn quay mặt đi chỗ khác.

Nhưng đám sinh viên ở lớp của Lees Ardor thì lại chẳng khác đám sinh viên ở Bà Chúa Hồ là mấy. Mấy thằng choai đội mũ lưỡi trai ngược, còn lũ con gái lại bận rặt thứ quần bò trễ cạp và áo sơ mi cũn cỡn, để lộ ra một rẻo da trắng lẳn giữa cạp quần và gấu áo. Ngoài tôi ra, chỉ có hai dị nhân trong lóp: một thằng choai như bản sao của tổng thống Richard Nixon bận áo com lê ba mảnh màu xám và đeo chiếc cà vạt đỏ hoa lá cành, và một con bé nhìn như phiên bản nữ của Mao Chủ tịch, cắt kiểu tóc bát úp nổi tiếng và diện nguyên một cây quần áo công nhân, cộng thêm chi chít các loại khuyên vòng trên mặt cùng một chiếc khuyên lủng lẳng giữa nhân trung mà tôi tưởng như người ta có thể buộc dây vào mà dắt đi dạo. Hai đứa này ngồi ở hàng ghế cuối, và tôi lật đật ngồi xuống giữa hai bọn chúng. Cả hai đều không thèm đếm xỉa khi tôi hỏi lần lượt từng đứa trong bọn chúng, “Ê này, lớp này là lớp gì thế?” Dẫu vậy, tôi vẫn ngấm ngầm cảm thấy một mối liên hệ khăng khít với hai đứa này - đám sinh viên vô đối ngồi bàn cuối bao giờ mà chẳng cùng hội cùng thuyền với nhau.

Lees Ardor đứng trước lớp, nhìn đám sinh viên chằm chằm, mái tóc chảy dài phía sau như thể nó là chiếc áo choàng giáo sư của đầu cô ta. Cô ta cứ nhìn như vậy ít nhất phải đến ba phút đồng hồ. Lúc đầu tôi cứ tưởng đây là một kiểu điểm danh thầm lặng, nhưng khi tôi đếm thì chỉ có mười bốn mống ngồi đây, mà điểm danh ngần này người thì cần gì nhiều thời gian như vậy. Hơn nữa, không phải cô ta nhìn chúng tôi, mà là nhìn vào một điểm cố định trên bức tường cuối phòng, như muốn đục một lỗ xuyên qua đó. Rốt cuộc, cô ta cũng thốt lên, hai mắt vẫn trừng trừng hướng lên bức tường, “Willa Cather là cái l*n.”

“Hả,” tôi buột miệng thốt lên rõ to, khiến một vài đứa sinh viên thực thụ quay lại ngó tôi, trước khi quay người về tư thế cũ. Có vẻ như chúng chẳng mảy may bận tâm, thậm chí còn có vẻ chán ngán, với câu tuyên bố vừa rồi của bà giảng viên, nhưng cái từ tối kỵ nhất trong các từ tối kỵ đó làm tôi ngã ngửa ra, dù đáng lẽ ra tôi phải lường trước được việc này sau khi đã đọc thư của ông Wesley Mincher mới đúng. Tôi quay sang con bé Mao Chủ tịch thì thầm, “Có phải cô ta vừa nói,” rồi tôi ngập ngừng vì chẳng dám nói ra từ đó, cái từ quá trớn nhất trong các từ quá trớn dùng để miêu tả âm hộ người phụ nữ, “cái từ đó không?”

“Chứ sao,” con bé đáp. Chữ “sao” nghe như một âm xuýt ướt át, khiến tôi ngờ rằng lưỡi con bé cũng đính một cái khuyên, một phần của cái bộ sưu tập khuyên vòng tôi vừa thấy. Nếu có tạp chí nào tên là Gương mặt và Kim loại thì thể nào con bé cũng chễm chệ trên trang bìa.

“Tại sao?”

“Cả lóp đang đọc đến My Ántonia”. Chắc hẳn khuôn mặt tôi lúc đó nhìn đần lắm, nên con bé phải giải thích tiếp: “Đấy là tên một quyển sách. Của Willia Cather.”

“Cái đó thì tôi biết,” tôi đáp. My Ántonia cũng là một cuốn mẹ đã bắt tôi đọc, và đến giờ tôi còn nhớ kỹ: thảo nguyên Nebraska trải dài, tuyết đóng dày đến tận hông, một nhóm người Scandinavia và người Slav di cư cùng phẩm chất lao động của họ, những phụ nữ gang thép chuyên mặc váy vải hoa, chuyên nốc cà phê đặc. Rồi phải kể đến nhân vật chính, nàng Ántonia, người mà theo trí nhớ của tôi là rất gan dạ, ngoài những phẩm chất đáng kể khác. “Nhưng sao cô ấy lại gọi Willa Cather,” đến đây tôi dồn hết lòng dũng cảm mà nặn ra, “là cái l*n?”

Mao Chủ tịch chẳng thèm chớp mắt khi nghe tôi thốt ra từ đó. “Cô Ardor cho rằng mọi nhà văn đều là cái l*n.”

Tôi quay sang tổng thống Nixon để xem nó có ý kiến gì không, nhưng cậu này chẳng đếm xỉa gì đến hai đứa chúng tôi. Hai mắt thằng nhóc còn mải ngắm giáo sư Lees với vẻ đắm đuối, đờ đẫn, còn bàn tay thì cứ vuốt vuốt ve ve cái cà vạt, và chẳng cần là một sinh viên ngữ văn hay một độc giả tinh tường thì bạn cũng biết cái động tác đó có ý gì.

Trong khi đó, đám sinh viên ngồi bên trên đang thảo luận gì đó. Một đứa con gái mặc đồ căng đét phát biểu về My Ántonia, “Em thích cuốn này.”

“Thích là thích thế nào?” Lees Ardor hỏi với cùng một giọng điệu cô ta dùng để hỏi tôi nghĩ cô ta giảng cái gì. Kéo theo đó là một cuộc tranh luận dài để cắt nghĩa xem thích một cái gì đó nghĩa là gì. Tôi không chú tâm đến cuộc thảo luận này lắm, không phải bởi tôi không hiểu, mà bởi nó chẳng có tí liên quan gì đến thứ tôi cần biết. Sau một chặp tranh cãi kịch liệt, rốt cuộc cuộc thảo luận cũng đến hồi cạn kiệt, cạn kiệt ra trò ấy: đến cả bầu không khí trong lớp học cũng như bị hút cạn.

“Bọn em xin chia buồn về mẹ giáo sư,” một con bé diện đồ căng đét khác nói.

“Sao nó lại nói thế?” tôi hỏi Mao Chủ tịch.

“Mẹ cô ấy mới mất,” con bé thì thào. “Tuần trước cô ấy nghỉ dạy để đi đưa tang. Ở Nebraska.” Rồi nó ngưng lại, đưa ngón tay mân mê cái khuyên mũi như một con bò suy tư, và tiếp, “Mà truyện My Ántonia cũng viết về vùng đó đấy.”

“Cái đó tôi cũng biết rồi,” tôi đáp. “Tôi cũng đọc quyển đó rồi chứ có phải không đâu.”

“Bà già mất vì ung thư,” con bé nói. “Loại hiểm nghèo ấy.”

Tôi nghe thấy một sự biến chuyển trong giọng nói của con bé, sự chán ngán và vẻ thạo đời chuội đi, nhường chỗ cho lòng trắc ẩn. Tôi cũng thấy sự thay đổi ở những đứa sinh viên nữ còn lại. Đứa nào đứa nấy đều đã ngồi thẳng lên, hướng người về phía Lees Ardor, và ta thậm chí có thể cảm thấy chúng đã có phần lung lay trong nỗi ác cảm dành cho giáo sư Lees. Đám con trai thì chẳng quan tâm - như thường lệ, chúng ngả ngớn trên ghế, mũ lưỡi trai kéo xuống che mặt để giấu đi hoặc phô trương thêm sự bất cần - nhưng đám con gái lại quan tâm đến Lees Ardor: dù gì thì mẹ cô ta cũng vừa mới mất, và chúng mới đọc My Ántonia, và không còn nghi ngờ gì, chắc hẳn chúng đang nghĩ cái điều mà tôi đang nghĩ. Chắc hẳn chúng đang vẽ ra cảnh Lees Ardor sầu muộn trở về với thảo nguyên Bắc Mỹ trải dài bao la. Chắc hẳn chúng đang tưởng tượng ra những người đàn bà gang thép mặc váy vải hoa thể hiện sự gang thép của mình trong đám tang mẹ Lees Ardor rồi đi nốc cà phê đặc ngay sau đó. Ấy là chưa kể đến bà mẹ của Lees Ardor, một người (theo như tưởng tượng của chúng tôi, tức là bao gồm tôi và đám con gái) gang thép và khắc kỷ không kém một người phụ nữ nào ở Nebraska - gang thép khi chồng bà đột quỵ mà chết mười năm về trước, khiến bà phải bán tháo nông trại, rồi gang thép trong sáu tháng cuối khi chống chọi với căn bệnh máu trắng. Bà mẹ của Lees Ardor được cảm phục bởi tất cả mọi người quen bà, đến mức họ không cần phải lặp đi lặp lại bằng lời nói nữa, và tang lễ của bà không cần phải có những lời chia tay đẫm lệ, bởi ai nấy đều hiểu rằng lúc sinh thời bà Ardor vốn ghét cay đắng những lệ bộ đó. Còn Lees Ardor, tôi mường tượng, đã cảm kích với lễ viếng đầy tinh thần khắc kỷ này tới mức cô ta cất tiếng khóc tu tu giữa đám tang, lần đầu khóc sau bao nhiêu năm trời khô khốc. Cô ta đưa tay bưng mặt mà nức nở, tiếng khóc nghe như dội lại từ một nơi xa thẳm nào đó, như tiếng khóc của một nàng công chúa bị nhốt trong lâu đài hẻo lánh. Mẹ của Lees đã mãi mãi khuất bóng khỏi thế giói này, sẽ chẳng có ai giống như bà nữa và giờ đây chỉ còn lại một mình cô ta. Cô ta biết rõ mình sẽ không thể nào sánh được với mẹ. Làm sao có thể sánh được, khi cô ta dù cố gắng lắm cũng không thể nuốt được hết nước mắt vào trong trong một thời gian đủ lâu để nhận lấy bình cà phê đặc từ những bà bạn nối khố của mẹ, những người rồi chẳng còn bao lâu nữa cũng sẽ lần lượt chết một cái chết khắc kỷ? Tôi ngồi sau bàn học và tưởng tượng ra tất cả những điều trên, và tôi cá rằng những đứa con gái trong lớp cũng đều thế cả, đều để cho trí tưởng tượng dẫn lối sang lòng cảm thông với Lees Ardor. Có đứa còn nuốt một tiếng khóc nghẹn vào trong. Nhưng vị giáo sư thấy khó chịu ra mặt, bởi tôi thấy cô ta nhìn cả lớp đầy căm phẫn - mái tóc sáng lấp lóa như bộ chiến giáp dưới bóng đèn trần - và nói, “Bà mẹ tôi là cái l*n.”

Điều này đã vượt quá giới hạn: tất thảy bọn con gái đều há hốc miệng cùng một lúc, rồi đồng loạt đứng dậy kéo nhau ra khỏi lớp, kể cả Mao Chủ tịch người đeo đầy khuyên. Hầu hết đám con trai cũng đi ra, không phải vì bị xúc phạm bởi từ “cái l*n”, điều này thì tôi chắc chắn, mà bởi vì nãy giờ chúng chẳng thèm nghe ai nói gì, thấy lũ con gái đứng dậy đi về thì tưởng là tan lớp sớm nên lục tục đi theo. Cuối cùng thì chỉ còn lại tôi, Lees Ardor và tổng thống Richard Nixon, lúc này vẫn còn nhìn cô ta với ánh mắt bị giằng xé giữa nỗi sợ hãi và lòng cuồng si. Có lẽ cậu này thuộc tip èo uột: chỉ yêu được những người khiến mình sợ sệt. Không còn nghi ngờ gì, việc Lees Ardor liên tiếp xả ra cả đống chữ “l*n” đã khiến cậu mê như điếu đổ.

“Cút khỏi đây mau,” Lees Ardor mắng thằng nhóc. Tổng thống Nixon khoan khoái đến lịm cả người, rồi cậu đứng dậy lảo đảo rời khỏi phòng. Lees Ardor bước theo, đóng cửa phòng, rồi quay xuống ngồi ở hàng ghế sinh viên và bật khóc như một cơn bão, khóc nức nở đến mức tôi cứ ngỡ hai tròng mắt cô ta sắp văng ra xuống mặt bàn, vấy bẩn những hình vẽ bậy của tụi sinh viên. Thế rồi, dường như khóc lóc thế còn chưa thấm vào đâu, cô giáo sư bắt đầu đập đầu xuống bàn, ban đầu còn nhẹ, càng về sau càng mạnh, như một con chim gõ kiến quyết tâm làm tròn thiên chức, dù không có mỏ. Tôi chỉ lo cô ta sẽ gây ra thiệt hại to, cho bản thân mình, cho cái trán của cô ta lẫn cái bàn học.

“Thôi cô đừng khóc,” tôi khuyên nhủ. Mới hai ngày trước tôi cũng vừa nói câu này với cụ Frazier. Có phải đây là công việc chính của các nhà thám tử? Có phải họ sẽ cố gắng dỗ dành nghi phạm ngưng khóc trong một thời gian đủ lâu để tra khảo ra điều họ muốn biết? “Xin cô đừng khóc nữa.”

“Tôi đã từng yêu bà ấy, rất rất nhiều,” Lees Ardor thổn thức.

“Mẹ của cô?” tôi đoán.

“Ừ,” cô ta đáp. “Sao tôi lại lăng mạ bà ấy nhỉ?”

“Thật ra cô không nghĩ bà ấy là cái l*n đúng không?”

“Không, tôi yêu bà ấy lắm.”

“Thế thì sao cô lại gọi bà ấy như thế?”

“Tôi cũng chẳng biết.”

“Ồ không, cô biết chứ,” tôi nói. Bởi khi còn nhỏ, tôi thường hay trả lời mẹ tôi, “Con chẳng biết nữa,” mỗi khi đứng trước một câu hỏi khó, và khi lớn lên tôi cũng dùng đúng câu đó với các giáo sư trong bộ môn kỹ nghệ đóng gói và chẳng có ai chấp nhận cả. Tôi dám cá rằng Lees Ardor cũng không chấp nhận câu trả lời đó từ đám sinh viên, nên giờ tôi sẽ tuân thủ đúng ý muốn của cô ta. “Hãy nói tôi nghe xem vì sao cô lại gọi mẹ mình là cái l*n.”

“Bởi vì,” cô ta đáp, đầu gục xuống mặt bàn, hai tay đan chéo sau gáy như đang bị cảnh sát bắt, và rồi từng từ một được thốt ra, lí nhí nhưng dứt khoát, có lẽ bởi đó là những lời cô ta đã muốn nói ra từ lâu lắm rồi. “Bởi vì tôi không muốn hóa thành nhân vật trong cuốn sách tôi đang dạy lũ sinh viên.”

“Cô không muốn trở thành Ántonia à,” tôi nói, dù trong đầu không đang nghĩ tới cuốn sách hay Lees Ardor: tôi đang nghĩ về mẹ tôi, về việc bà từ bỏ đám sách, và tự hỏi không biết việc làm đó có tốt cho bà hay không. Mẹ tôi không muốn trở thành nhân vật nào? Tôi tự hỏi. Hay trong người bà có sự hiện thân của quá nhiều nhân vật, đến mức khi bà vừa thoát khỏi cái bóng của nhân vật này thì đã ngay lập tức trở thành một nhân vật khác?

“Đúng vậy,” Lees Ardor đáp. Cô ta ngước lên nhìn tôi với vẻ gấp gáp, như thể chuẩn bị nói ra một điều quan trọng. “Tôi không muốn hóa thành một nhân vật cứng cỏi phải trải qua bi kịch để trở nên một người tốt hơn, bác ái hơn.”

“Sao cô lại không muốn?”

“Anh không hiểu được đâu,” cô ta vừa nói vừa tiếp tục mếu máo. “Tôi muốn làm một con người thật.”

“Tôi hiểu rõ chứ,” tôi đáp. Bởi tôi chắc chắn mình hiểu rõ, và tôi cũng chắc chắn mình biết lý do vì sao cô ta không thích và không tin vào văn học. Đó là vì cô ta sợ phải hóa thành một nhân vật văn học thay vì một con người thật, bất kể điều đó có nghĩa là gì, và việc không biết một con người thật tròn méo ra sao khiến cô ta càng chán ghét văn chương hơn, chán ghét những cuốn sách và cả những từ ngữ bên trong chúng, và sự căm thù này bành trướng ra tất cả từ ngữ nói chung, chẳng hạn như “cái l*n”, một từ cô ta ghét cay ghét đắng nhưng lại không thể ngừng thốt lên, một từ dơ dáy và vớ vẩn như mọi từ khác. Có lẽ tất cả từ ngữ, tất tần tật mọi từ, những từ không đủ khả năng miêu tả sự rối rắm của cơn giận trong ta mà chỉ có thể mơn man gọi là cho có, đã khiến cô ta - hoặc ông Wesley Mincher của cô ta - đi cầu khẩn một người lạ mặt thiêu trụi Dinh thự Mark Twain. Giả thiết này nảy ra trong đầu tôi, tròn vẹn và đầy đặn, như cô con gái của vị thần Hy Lạp nọ đã nhảy từ hộp sọ của bố ra thế giới cổ đại, tròn vẹn và đầy đặn.

Nhưng ngay sau đó tôi đã phạm phải một sai lầm. Sự cảm thông khiến ta làm những việc không nên làm, và khiến ta tự hỏi, vậy thì vì sao nó lại là một trong những sắc thái cảm xúc được đề cao nhất. Sự cảm thông đã khiến tôi đưa tay nhẹ nhàng xoa lưng cô ta, vốn chỉ để cho cô ta biết tôi hiểu những gì cô ta đang trải qua, và tôi có mặt ở đây với tư cách một nhà thám tử để dỗ dành cô ta. Nhưng có vẻ như cô ta chẳng cần cả thám tử lẫn người dỗ dành. Khi tôi vừa chạm tới, cô ta đột ngột nhảy vọt khỏi ghế, quay lại nhìn tôi, hai mắt lập tức ráo hoảnh như được làm bằng loại muối nhanh khô đặc biệt. “Mà anh là tên quái quỷ nào thế nhỉ?”

“Tôi là Sam Pulsifer. Vị,” nói đến đây tôi ngập ngừng, như bất kỳ một người nào khác, “nam bằng hữu của cô, giáo sư Mincher, viết cho tôi một bức thư từ rất lâu rồi, nhờ tôi đốt Dinh thự Mark Twain.”

Nghe vậy, gương mặt cô ta thay đổi tức thì, cơn giận dữ và nỗi nghi ngờ kéo đến choán chỗ sự buồn đau. “Hóa ra anh là tay Sam Pulsifer chết bầm.”

“Vâng, tôi đây,” tôi đáp, dù trong bụng thầm ước giá tôi không phải là tôi khi nghe cách cô ta đay nghiến tôi. Lees Ardor nhìn tôi với vẻ nghi ngại đến mức tôi định chìa giấy tờ tùy thân ra để cuộc nói chuyện này được trôi chảy hơn. Nghĩ vậy, tôi bèn rút bằng lái xe trong ví ra đưa cho cô ta. Cô ta săm soi cái thẻ, rồi săm soi tôi, rồi lại săm soi cái thẻ, rồi mới nặn ra một câu gằn đục, “Anh nợ chúng tôi ba nghìn đô la.”

“Tôi nợ hai người?”

“Đúng thế,” cô ta đáp. “Đừng có làm bộ không biết gì cả.”

“Tôi có làm bộ đâu?”

“Chứ còn không à.”

“Thật mà,” tôi phân bua, và chúng tôi nói qua nói lại như thế thêm một lúc lâu nữa, như hai kẻ thù không mang theo vũ khí, chỉ được trang bị bởi một vốn từ vựng rất hạn hẹp. Cuối cùng tôi quyết định hỏi cái câu sẽ chốt hạ cuộc chiến này: “Vì sao tôi lại nợ ba nghìn đô?”

“Thôi được,” cô ta chuyển sang một giọng buồn tẻ rất kịch, như để cho tôi biết rằng cô ta đồng ý chơi trò chơi tôi đang chơi, nhưng không hề vui vẻ chút nào: “Anh nợ chúng tôi ba nghìn đô vì đó là số tiền chúng tôi đã trả anh để đốt Dinh thự Mark Twain, công việc mà anh đã không thực hiện.”

“Hai vị trả tôi tận tay hay sao?” tôi đáp, tiếp tục cuộc chơi.

“Không,” cô ta đáp. “Anh gửi Wesley một lá thư phúc đáp ghi rõ rằng anh sẵn sàng đốt tòa nhà đó với giá ba nghìn đô la. Wesley chấp thuận. Anh ấy để tiền trong một chiếc phong bì, đặt tại thùng rác cạnh khu nông trại Cumberland bên dưới phố nhà Dinh thự Mark Twain. Mới trưa hôm qua. Trong thư anh đã hướng dẫn rất cụ thể.”

“Vậy à,” tôi đáp. “Duy chỉ có điều, đó không phải là tôi.” Và trước khi cô ta kịp phản ứng, tôi tiếp luôn, “Nếu đó là tôi thật, thì tại sao giờ này tôi lại ló mặt ra ở đây, ngay sau khi tôi thất bại trong việc thực thi nhiệm vụ để cho hai vị có cơ hội đòi lại tiền? Nếu tôi đã có được số tiền đó, thì sao tôi lại không biến đi cho rồi?”

Cô ta ngẫm nghĩ một hồi, trán nhăn lại, như thể đang giải nghĩa một đoạn văn đặc biệt khó nhằn trong một cuốn tiểu thuyết. Nhưng cũng chẳng biết được, có khi cô ta đang nghĩ xem có phải tôi cũng là một nhân vật tiểu thuyết hay không, và nếu đúng thì là (những) nhân vật nào.

“Chó chết,” Lees Ardor cuối cùng cũng thốt lên. “Ta phải đi gặp Wesley thôi.”

Wesley Mincher và Lees Ardor cư trú tại West Hartford, trong một căn nhà khá giống với nhà bố mẹ tôi: một căn nhà thuộc địa cũ kỹ ẩm mốc có nhiều phòng, tất cả đều trông như phòng làm việc chứ chẳng giống phòng khách, phòng ăn hay phòng ngủ như theo thiết kế lúc ban đầu. Mỗi phòng đều có những kệ sách cao chót vót đầy ắp sách, ánh sáng thì tờ mà tờ mờ, nhìn chung toát lên một vẻ tồi tàn vì bị bỏ bê và sao nhãng theo một cách học giả. Chúng tôi thấy Wesley Mincher đang ngồi trong căn phòng lớn nhất: hai chân ông gác trên một chiếc tràng kỷ nhỏ, và ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là một người không chịu chơi thể thao và mắc chứng tiểu đường. Gương mặt ông vàng vọt, nhưng có thể đó là do ánh sáng đèn. Ông đang đọc một quyển sách nhìn rất cổ xưa, bìa được bọc vải và các trang giấy cũng vàng như làn da của ông.

“Wesley,” Lees Ardor gọi, “có người muốn gặp anh.” ông không thèm trả lời cô giáo sư dù hai người chỉ cách nhau một khoảng hai cánh tay. “Wesley,” cô ta gọi lại, lần này giọng có dịu dàng hơn, như thể cô ta yêu cái cách ông không trả lời mình. Cô ta gọi tên ông thêm năm lần nữa, đến lúc này thì nghe như không phải là “Wesley ơi, Wesley ơi,” mà là “Tình yêu ơi, tình yêu ơi.” Vẫn không có tác dụng. Không phải Mincher bị điếc; mà là ông thuộc tip học giả tập trung cao độ, chìm đắm trong dòng tư tưởng của mình và phải rất lâu mới nhận ra rằng thế giới bên ngoài hộp sọ đang gọi đến mình. Nhưng cuối cùng thì ông cũng nghe thấy: ông ngước lên, trông thấy vị nữ giáo sư, và nhoẻn một nụ cười đầy âu yếm. Ông thậm chí còn đặt sách xuống, mà đúng hơn là bọc nó lại bằng cái bìa plastic, không khác gì cách Anne Marie bọc chiếc bánh kẹp cho bữa trưa của Katherine bằng cái bọc plastic. Nhân đây cũng nói luôn, chính tôi đã thiết kế cả hai loại bọc plastic này, hoặc ít nhất từng làm việc cùng với người đã thiết kế ra chúng.

“Wesley,” Lees Ardor lên tiếng, “đây là Sam Pulsifer.”

“Tôi là Mincher đệ tứ, quê ở vùng đồi núi Bắc Carolina dưới chân dãy núi Smoky Vĩ đại,” Wesley Mincher trịnh trọng giới thiệu, dù chẳng nhân dịp lớn lao gì. Ông nói thổ ngữ miền Nam theo lối hòa nhã, du dương. Bố tôi đã biên tập rất nhiều sách của các nhà sử học miền Nam về lịch sử miền Nam cho nhà xuất bản, và tôi từng có dịp gặp gỡ một vài người mà ông gọi là các “tác giả của ông”, và đã nghe bố kể nhiều về họ, nên ngay lập tức tôi nhận diện ra Wesley Mincher: ông cũng là một nhân vật văn học, và thuộc cái tip nhân vật miền Nam luôn đinh ninh rằng làm một nhân vật miền Nam thì nhất thiết phải gắn mình với thói quen nói nước đôi làm người nghe rối trí; với việc thua liểng xiểng trong cuộc Nội chiến và không muốn ai nhắc đến chủ đề đó nhưng bản thân lại không thể ngừng lải nhải về nó; với việc có những cụ thân sinh thông thái nhưng sầu khổ hay ngồi trước hiên nhà; và những người da đen, luôn là những người da đen, mà họ biết tường biết tận nhưng ngoài họ ra thì chẳng ai biết cái cóc khô gì cả; hay tư tưởng cho rằng tự phê bình là một nghệ thuật nhưng người khác phê bình thì lại là đạo đức giả; hay những vị cảnh sát trưởng khôn ngoan và xuề xòa, và Chúa, và gia súc, và những đồ ăn ngon mà ta chỉ thấy ngon khi được ăn trong bếp mẹ nấu còn ra đến nhà hàng thì lại dở tệ; hay một loạt bánh xe cao su xếp dọc theo nông trại mà hẳn trông sẽ rất tươm khi lắp vào dòng xế hộp hiệu Buick năm 1957 mà bao giờ họ cũng thủ sẵn một câu chuyện đùa để kể về nó.

“Anh Pulsifer đây có chuyện cần nói với chúng ta liên quan tới Dinh thự Mark Twain, Wesley ạ,” Lees Ardor nói dịu dàng, hết sức dịu dàng. Bạn có thể cảm nhận được sự trìu mến tuôn trào từ cô ta, giống như những giọt nước mắt đã tuôn trào một giờ đồng hồ trước.

“Những người vùng Appalachia vốn vẫn bị gọi là dân hai lúa hóa ra lại nói tiếng Anh chuẩn hơn cả một gã da trắng học Harvard.”

“Anh ta nói anh ta không phải là kẻ đốt, hoặc cố gắng đốt, tòa dinh thự đó.”

“Mẹ tôi có thể chế thuốc đắp từ nhựa cây họ thông để trị chứng đau răng và sẽ đạt hiệu quả trong nháy mắt, anh bạn ạ.”

“Anh ta nói anh ta không phải kẻ đã nhận ba nghìn đô từ chúng ta.”

“Vị tướng Bobby Lee của chúng tôi đã giữ một lọn tóc của con gái trong chiếc túi đeo vai. Lọn tóc đó thật thần diệu. Nó bảo vệ ông khỏi những viên đạn súng trường.”

Tôi cứ đứng đó, với cơn buồn ngủ dưới ánh đèn tù mù, thưởng thức màn trình diễn giữa hai người bọn họ. Tôi cá là hai màn độc thoại chẳng hề gặp nhau này có thể diễn ra hàng giờ liền, cho tới khi đêm đã về khuya và họ sẽ gặp nhau ở chỗ họ gặp nhau.

“Em tin anh ta, Wesley ạ,” Lees Ardor nói. “Em nghĩ anh ta nói thật.”

“Thế thì anh cũng tin anh ta, cưng ạ,” Mincher đáp. Ông nhoài người về phía trước và chìa tay ra cho cô ta nắm lấy. Bọn họ nắm chặt tay nhau cho đến hết buổi, và tôi thấy mình như thể tàng hình, hoặc như thể tôi đến đây chỉ để làm nhân chứng cho công cuộc nắm tay nhau của họ.

Suốt ngày hôm đó tôi chỉ thu thập được một mẩu bằng chứng, nhưng nó đã ngốn mất của tôi nhiều giờ liền. Hầu hết thời gian, Mincher kể cho tôi nghe câu chuyện hai người bọn họ đã gặp nhau thế nào. Họ đã cùng công tác ở ban ngữ văn tại trường Heiden trong tám năm liền, nhưng chưa từng để ý đến nhau bởi mỗi người đều bị bít kín trong bốn bức tường oán ghét của riêng mình mà không nhận biết được gì ở bên ngoài. Lees Ardor là nữ giảng viên duy nhất trong ban, đó có thể là lý do vì sao (cô ta tự thú nhận) cô ta lại văng “l*n” thường xuyên đến vậy. Còn Mincher lại là người miền Nam duy nhất ở ban - người duy nhất có bằng cử nhân ở Sewanee và bằng tiến sĩ ở Vanderbilt, thay vì ở Amherst và Harvard - nên thật khó khăn để ông vượt qua được hàng rào tự vệ cao ngất và để ý tới những thành viên khác trong ban. Ông đã nói nguyên văn như vậy, “hàng rào tự vệ cao ngất”, và tôi đã ghi nhớ nó để phòng trường hợp tôi quyết định xây cho mình một hàng rào và cần từ ngữ để diễn tả nó.

Gì thì gì, Mincher là người đã để ý đến Lees Ardor trước, trong một cuộc họp của ban để chuẩn bị cho cuộc hội thảo sắp diễn ra ở Heiden với chủ đề “Mark Twain: Hai mặt của sự vĩ đại”. Cuộc họp lần lượt bàn về phiên họp toàn thể, các cuộc họp nhóm, cho đến danh sách diễn giả chính, và đến cuối buổi thì Lees Ardor chốt một câu sang sảng, “Mark Twain là cái l*n.”

Các vị đồng nghiệp hẳn nhiên đã quá quen với lối nói này của Lees Ardor nên cũng giống như lũ sinh viên, họ chẳng hề bị choáng bởi phát ngôn đó. Họ mặc kệ cô ta, nhưng Mincher thì không. Cái cách cô ta phát ngôn “Mark Twain là cái l*n” có một vẻ gì đó yêu kiều, mỏng manh và huyền bí, nên sau buổi họp, Wesley Mincher đuổi theo Lees Ardor trong hành lang và hỏi, “Cô có nhã ý thưởng thức rượu vang đỏ cùng tôi và trao đổi về tiền tệ liên bang, và nếu có thể thì chiêm ngưỡng cả tờ thạch bản hiếm hoi in hình nhà máy tiền tệ liên bang ở Richmond, Virginia, mà tôi sưu tập được?” Lees Ardor đã làm chính mình phải ngạc nhiên khi nói, “Được thôi,” (cô ta thú nhận với tôi rằng trước đó, cô ta không thể nhớ được lần cuối cùng cô ta chấp thuận bất cứ một điều gì là từ bao giờ). Trong suốt sáu tháng sau đó, cô ta đã nói “Được” rất nhiều lần với Wesley Mincher (má cô ửng đỏ khi ông kể lại điều này, nhưng bạn có thể thấy cô ta không hề phật lòng), cho tới khi ông mở lời hỏi vì sao cô ta lại nói vậy về Mark Twain.

“Vì em sợ trở thành bà cô Polly,” cô ta thú nhận với ông. Đương nhiên, cô ta đang ám chỉ bà cô ế chồng đanh đá trong Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn và Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer. Tôi đã đọc những cuốn đó nên dễ dàng nhận ra cô ta sợ cái gì, và tôi công nhận đúng là điều đó đáng sợ thật. “Em không muốn trở thành bà cô Polly,” cô ta đã nói với Mincher như vậy.

“Anh cũng không muốn thế đâu,” Mincher đã nói với cô ta như vậy, và đã nhắc lại với tôi trong căn nhà của mình nhiều năm sau đó. “Và thế là tôi trở thành một chàng hiệp sĩ, như những người đàn ông trong dòng họ nhà tôi từng làm.” Và thế là ông bắt đầu kể tràng giang đại hải về những thế hệ hiệp sĩ trong dòng họ Mincher mà ông, Wesley Mincher, chính là người hiệp sĩ cuối cùng, cũng là người đã quyết định tìm cách biến Dinh thự Mark Twain thành ngọn đuốc để chứng tỏ tình yêu của mình với Lees Ardor. Ông nhớ rằng đã đọc được một mẩu tin về một cậu trai đã thiêu hủy Dinh thự Emily Dickinson ở Amherst, Massachusetts (tin này đã khiến một người đồng nghiệp trong ban của họ, một chuyên gia về thơ từ, sũng trong vũng nước mắt). Vậy nên ông đã viết một bức thư cho cậu hỏa tặc nọ. Rồi ông chờ đợi. Nhiều tháng và nhiều năm trôi qua; ông ngày càng đắm đuối trong tình yêu với Lees Ardor, và Lees Ardor cũng đắm đuối trong tình yêu với ông. Nhưng Dinh thự Mark Twain vẫn nằm trơ trơ ra đó: mỗi ngày đến trường họ đều đi ngang qua nó (cô ta chuyển vào ở cùng ông một năm sau khi họ yêu nhau), và nó như một vết sẹo nhắc nhở sự thất bại của ông với tư cách một người đàn ông, nhắc nhở rằng Lees Ardor vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cơn ác mộng về bà cô Polly.

“Gượm một phút,” đến đây tôi cắt lời. “Sao anh không cưới cô ấy cho xong? Nếu hai người cưới nhau thì cô ấy sẽ không là bà cô Polly được còn gì?”

“Tôi muốn chứng tỏ mình xứng đáng với cô ấy trước đã,” Mincher đáp. “Việc thiêu hủy Dinh thự Mark Twain sẽ chứng tỏ được giá trị của tôi.” Tôi thấy đây là một thứ sến súa lố bịch nhất mình từng được nghe, giống mấy loại thề non hẹn biển đầy kinh dị mà chắc chắn Lees Ardor sẽ cười vào mũi nếu nghe đám sinh viên thốt ra hoặc đọc được trong quyển sách nào. Nhưng khi Mincher nói điều này, Lees Ardor lại không hề chế giễu. Cô ta đưa tay nhẹ nhàng đặt lên cái cổ vàng ủng của ông và giữ nguyên tư thế đó; ông run lên thấy rõ như thể cái vuốt ve đó làm bằng loại băng tuyết hảo hạng.

“Nhưng sao anh lại đợi tôi lâu thế?” tôi hỏi. “Sao anh không tự mình đốt quách nó đi có phải hơn không?”

Mincher không đáp mà chỉ khinh khinh nhìn tôi chằm chằm. Tôi biết vì sao: trong thế giới của ông, chỉ tồn tại hai loại người - chuyên gia và không phải chuyên gia. Ông không đời nào dám đốt tòa nhà đó, cũng như ông sẽ không đời nào để cho tôi lảm nhảm về phong trào Chính nghĩa bị đánh mất[2].

Tất cả những điều này đã khiến tôi - và bạn nữa - nắm vững sự tình của bọn họ, và giờ thì đến một ngày trước đó, ngày mà lá thư giả danh tôi đã hạ cánh xuống hòm thư của Mincher. Wesley lái xe đến chỗ thùng rác, để lại ba nghìn đô, rồi quay về nhà và kể cho Lees Ardor việc mình vừa làm, tất cả chỉ vì cô ta. Cô ta đã bật khóc, như là những con người tỏ vẻ cứng rắn thường khóc để tưởng thưởng cho việc mình đã tỏ vẻ cứng rắn.

“Sao vậy em?” Mincher hỏi.

“Thật cảm động quá,” cô ta đáp. “Nhưng đó không phải điều em muốn.”

“Thế em muốn gì?”

“Em muốn anh ngỏ lời cầu hôn em.”

Thế là ông ngỏ lời. “Tôi chưa bao giờ được hạnh phúc như lúc này,” Lees Ardor nói. Đến đây, cô ta giơ tay lên cho tôi thấy chiếc nhẫn đính hôn bằng kim cương, thứ duy nhất tôi thấy có thể chống chọi được với độ rực rỡ của mái tóc cô ta cho tới thời điểm đó. Chiếc nhẫn và mái tóc cứ như hai ngôi sao sáng soi đường trong bóng tối âm u nhợt nhạt của căn phòng khách. “Điều duy nhất em thấy không hài lòng là việc anh đã ném món tiền đó qua cửa sổ.”

“Những phụ nữ nhà Mincher luôn có truyền thống… nói thế nào nhỉ… căn cơ,” Mincher nói. Ông mỉm cười nhìn Lees Ardor, và tôi không trách ông: cô ta rất đẹp, đẹp hơn mái tóc và chiếc nhẫn cộng lại. Lúc này cô ta là một thái cực đối ngược hẳn với nữ giáo sư trên giảng đường, người chửi mẹ đẻ mình là cái l*n.

“Hai vị còn giữ lá thư đó chứ?” tôi hỏi.

“Gì cơ?” Mincher đã quay về bên trong hộp sọ của mình, chỉ có điều lần này tôi cược là cả Lees Ardor cũng đang tung tăng trong đó, khiến tôi và những câu hỏi của mình càng trở nên bơ vơ.

“Lá thư mạo danh tôi gửi cho anh đề nghị trả tiền ấy. Anh còn giữ nó không?”

“Còn chứ,” Mincher đáp, đoạn đứng dậy bước tới chiếc bàn ở góc phòng, rút ra một lá thư trong ngăn kéo, quay lại trao cho tôi, ngồi xuống ghế và lại một lần nữa cầm lấy tay Lees Ardor - trong suốt quá trình đó hai mắt ông không rời khỏi vị nữ giáo sư, như thể cô ta là cái la bàn, là sao Bắc Đẩu của ông vậy. Tôi rút lá thư ra khỏi phong bì. Lá thư được đánh máy, với nội dung cũng na ná như những gì Mincher và Ardor đã thuật lại. Phong bì trắng trơn, không có dấu bưu điện nào cả, không tên tuổi địa chỉ, không có dấu hiệu gì của nơi nó được gửi và của người giao thư. Nói trắng ra là một mẩu bằng chứng vô tích sự nhất trần đời. Tôi đút nó lại vào phong bì rồi nhét vào túi, cạnh lá thư đã giúp tôi lần ra Wesley Mincher và Lees Ardor.

“Xin tạm biệt,” tôi chào họ, nhưng họ dường như chẳng nghe thấy tôi, và chẳng có lý do gì họ cần phải nghe cả. Ngoài nhau ra, họ còn cần gì ở thế giới nữa cơ chứ? Rời nhau ra, họ lập tức hóa thành những con người nhỏ mọn hẹp hòi như tất cả những người còn lại trong chúng ta, loại người ta vừa cảm ghét vừa thương hại. Rời nhau ra, họ chỉ là những nhân vật, và không hay ho gì cho cam. Nhưng ở bên nhau, họ lại trở thành một thứ đáng ngưỡng mộ và thậm chí là đáng ghen tị. Khi bước ra khỏi cửa và leo lên xe, trong đầu tôi nảy ra một suy nghĩ có phần sáo mòn: tình yêu thay đổi chúng ta, biến chúng ta thành những người mà người khác muốn yêu thương. Đó là lý do vì sao, với những ai không có tình yêu, thì tình yêu chính là giọng nói chất vấn Còn gì nữa? Còn gì nữa? Và với những ai đã có và đánh mất hoặc vứt bỏ tình yêu, thì tình yêu lại là giọng nói dẫn dắt ta quay lại với nó, để xem xem nó có còn thuộc về ta hay ta đã mất nó mãi mãi. Với những ai đã mất hẳn tình yêu, thì tình yêu cũng là thứ khiến ta thốt lên những cách ngôn về tình yêu, mà chính vì vậy nên ta mới luôn tìm cách chiếm lại tình yêu để khỏi phải tiếp tục thốt ra những lời đó. Những lời cách ngôn đầy triết lý.

❀ ❀ ❀

[1] Một nhãn vật trong tiểu thuyết Moby Dick (1851) của Herman Melville.

[2] Một phong trào văn chương Mỹ thời Nội chiến.

ACE LE dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.