Cẩm Nang Đốt Nhà Các Văn Hào New England

Lượt đọc: 671 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5

❊ ❊ ❊

Chuyện đó lý giải vì sao tôi lại quay lại với những con phố Amherst, lần đầu trong năm năm trở lại đây, dù tôi chỉ sống cách trung tâm thị trấn nhõn hai dặm đường. Tôi đã nhận ra rằng mình có thể lái xe đến sở làm bằng cách men theo rìa thị trấn, và trường học của Katherine, Tiểu học Amherst, thực ra lại là một tòa nhà dài lát gạch đỏ mới xây nằm ở ngoại ô thị trấn, các siêu thị tôi vẫn đến mua sắm cũng không nằm trong địa phận Amherst mà trải dọc quốc lộ 116, nói cách khác là chúng chẳng nằm ở đâu cả. Thời đại này nó vậy đấy: bạn có thể định cư ở một địa phương mà chẳng cần phải có một cuộc sống bản địa.

Rồi giọng nói kia lại quay về, vang vọng hơn lúc nào hết, giục giã tôi: Còn gì nữa? Còn gì nữa? Chiếc xe trở nên im ắng và cô quạnh kinh khủng khi vắng tiếng lũ nhóc phá phách và tiếng Anne Marie liên tục nhắc nhở các con, thế nên để khỏa lấp nỗi trống vắng này tôi bèn chú tâm lắng nghe giọng nói nọ, có thể là quá chú tâm, mà chẳng thèm để ý đến việc lái xe nên rốt cuộc đã đâm thẳng vào một chiếc K-Car đằng trước. May sao chỉ là cú huých nhẹ: bà lão lái xe không bị thương và chiếc xe thật ra cũng chẳng hề hấn gì, và sau một chặp hiểu lầm ban đầu thì bà chợt nhớ ra cái ba đờ sốc đã long ra khỏi khung xe từ trước khi bị tôi đâm. Tuy vậy, tôi cũng đã húc đổ đống túi ở ghế sau, nên bèn chui vào xe bà để sắp đồ lại vào túi. Nhưng mấy chiếc túi đã bục mất rồi, nên đống rau quả lại lăn tùng phèo khắp trên ghế và dưới sàn xe. Dù vậy, bà lão vẫn tỏ vẻ rất ôn hòa, và dù tôi biết chắc là mình đã biết bà từ khi còn nhỏ, bà lão không hề nhận ra tôi chính là thằng choai choai đã đốt nhà, vân vân và vân vân, khiến tôi thấy lạc quan ra phết. Chúng tôi trao đổi thông tin liên lạc - theo luật thì phải làm vậy - rồi ai đi đường nấy. Nhìn chung, đó là một sự lỡ tay khá là dễ chịu và văn minh. Khi bà lão lái xe đi khuất, đầu tôi còn lởn vởn hình ảnh đám rau quả lăn lông lốc trên ghế sau, và nhớ ra bố tôi yêu thích rau quả tươi ra sao, ông từng có lần thử trồng hẳn một khoảnh vườn nhưng cuối cùng đã thất bại.

Vâng, giờ thì tôi sẽ kể bạn nghe sơ qua về bố tôi và mảnh vườn xấu số. Ông làm biên tập cho một nhà xuất bản cỡ nhỡ của một trường đại học trong thị trấn, chủ yếu biên tập sách lịch sử Mỹ, nhưng tiểu chuyên ngành của ông lại là về quan hệ giữa âm nhạc đại chúng và văn hóa Mỹ. Ngoài biên tập sách ra, ông còn chắp bút cho phóng sự thường niên về ngày hội đàn accordion toàn vùng cho tờ báo địa phương.

“Sam này,” có lần bố hỏi tôi, “con có biết vì sao chiếc phong cầm lại đóng vai trò quan trọng như vậy không? Con có biết không?”

Lúc đó tôi bảy tuổi, nào có biết đâu vào đâu, nên chẳng nói được gì mấy.

“Bởi vì nó là một phần của lịch sử âm nhạc và di cư,” ông giảng. “Những người vùng Acadia chơi loại nhạc cụ đó, và khi di cư từ Canada qua Louisiana họ đã mang theo nó. Đàn phong cầm là nhạc cụ đặc trưng của họ, và là món quà họ tặng cho cả thế giới.”

“Ôi nhưng nghe nó đau tai lắm,” tôi đáp.

Lời bình luận đơn giản, tưởng chừng như thơ ngây này đã làm bố tôi sụp đổ. Ông không thể chịu được việc con trai chẳng coi nghề nghiệp của mình ra gì. Mà nhắc lại nhé, tôi mới bảy tuổi đầu chứ mấy, có hiểu quái gì về sự liên hệ giữa sự nghiệp và lòng tự trọng bản thân, và lẽ ra bố nên mặc kệ tôi mới phải. Nhưng thay vào đó, ông lại bỏ béng cái nghề biên tập và âm nhạc học để đi kiếm việc khác, một việc mà thằng nhóc tôi chắc sẽ ngưỡng mộ. Bằng cách nào đó, bố quyết định rằng tôi sẽ tôn trọng ông nếu ông trở thành một lão nông. Amherst nào có phải vùng làm nông, nhưng bố tôi vẫn cứ hô biến mảnh vườn nửa mẫu sau nhà thành một khu canh nông tí hon. Trong sáu tháng liền tù tì - từ tháng Năm tới tận tháng Mười - bố tôi trồng nào củ cải đường, nào bí ngòi, cà chua, rồi bí ngô, rồi tỏi. Khoảnh vườn dần dà đầy lên nhong nhóc. Thế nhưng chúng tôi chưa ăn được miếng nào, vì bố không cho. Bố bảo cả nhà phải đợi đến thời điểm chín muồi mới được “thu hoạch”.

“Nhưng bao giờ thì mới chín muồi ạ?” tôi thắc mắc.

Khi được hỏi, bố nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên tột độ, cứ như thể trong suốt thời gian vừa qua ông cứ hy vọng rằng chính tôi sẽ là người mách cho ông thời điểm xác đáng để thu hoạch. Lúc này tôi mới tám tuổi, nhưng ngay cả thế thì tôi vẫn nhận ra rằng bố chẳng biết mình đang làm cái gì, và đang rơi vào một trạng thái hoảng loạn tâm lý. Mà cũng có thể ông không muốn thu hoạch vì ông sợ đám rau củ ăn chẳng ra gì. Dù gì đi nữa, đêm đó ông đã bảo mẹ tôi (sau này bà kể cho tôi) rằng ông phải đi chu du thiên hạ để kiếm tìm một việc gì đó đáng làm, một việc sẽ làm cho hai người - mẹ và tôi - tự hào.

Và mẹ thẳng thừng đáp trả rằng nếu ông tự rạch bụng mình ra để nhét đám đàn accordion, đàn concertina và lũ rau củ rữa nát rồi treo mình lên cái cọc cắm ở chính giữa rẻo vườn tí hin khốn khổ kia thì chắc ông sẽ đóng được vai con bù nhìn thô kệch vô tích sự.

Ngày hôm sau bố tôi ra đi biệt tích, ba năm sau mới về, và lại được nhà xuất bản nọ nhận vào làm. Nhưng ngay sau khi ông bỏ nhà đi thì mẹ bắt đầu kể tôi nghe những câu chuyện về Dinh thự Emily Dickinson cùng những bí ẩn được thêu dệt nên, và nếu những câu chuyện này cốt là để chỉ đường dẫn lối cho tôi nửa đêm nửa hôm đột nhập vào trong ngôi dinh thự, nhỡ tay đốt nó và ngộ sát bố mẹ Thomas Coleman - nếu những câu chuyện mẹ tôi kể cốt là để làm nhiệm vụ này, đồng thời tống tôi vào nhà giam và từ đó cắt phứt mất mười năm đời tôi - thì quả thật chúng đã thành công mỹ mãn.

Càng nghiền ngẫm quá khứ gia đình mình tôi càng thấy cáu tiết, và lúc về đến cửa nhà cũ thì tôi đã sẵn sàng trút cơn giận của mình lên một người hoặc một vật nào đó. Thế là tôi trút hết lên cánh cửa nhà, đập nện liên hồi cho đến khi nắm tay tôi đau buốt. Chẳng có ai ra mở cửa, nên tôi gào lên: “Con đây! Sam đây! Con về rồi đây!” Vẫn chẳng có ai đáp tiếng nào, và cơn giận hóa thành nỗi sợ hãi, nỗi sợ khi bạn về nhà và băn khoăn không biết liệu mọi thứ đã thay đổi hay vẫn chẳng có gì đổi thay.

Rồi tôi mở cửa - cửa không khóa - và phát hiện ra mọi thứ đều đã thay đổi: trông nó chẳng giống căn nhà trong ký ức tôi tẹo nào. Căn nhà trong ký ức tôi có cái vẻ bừa bộn vừa ngăn nắp đặc trưng của giới trí thức học rộng đọc nhiều: phải có sách và tạp chí vương vãi tứ tung, nhưng tất cả những thứ khác - bát đĩa, cốc chén, quần áo - đều nằm đúng chỗ đâu vào đấy. Còn căn nhà này, trái lại, nhìn cứ như đã bị càn quét bởi đám người Viking vậy. Rải khắp nhà là những chai lọ rỗng - nào rượu gin, nào bia, nào vang đỏ. Thậm chí còn có cả những bình rượu schnap vị đào rỗng không, xô ướp lạnh, và những chai vang nho xuất hiện ở mọi ngóc ngách - giữa những cái gối ôm, trong lò sưởi, trên nắp lò vi ba - khiến tôi không khỏi thắc mắc liệu hai cụ đã chè chén trong nhà này cùng với đám nữ sinh trung học hay là hội chị em kết nghĩa ở trường đại học. Trước kia bố mẹ tôi mê mẩn đồ gỗ tự nhiên - nào là ván lát chân tường, nào là rào bao lơn rồi bậu cửa sổ rộng rinh - nhưng giờ đây những ván gỗ ngả màu bợt bạt tang tóc như thể đã hóa thành gỗ công nghiệp. Rồi trên bề mặt hầu hết mọi thứ đều đặt một chiếc gạt tàn - loại nông lòng làm bằng thứ kim loại mỏng tang mà cách duy nhất để kiếm được là thó từ nhà hàng, quán ăn - nhưng vì tất cả những chiếc gạt tàn đều đã đầy tràn nên bên trong một vài cái chai tôi trông thấy có cả những mẩu đầu lọc thuốc lá nổi lều phều trên chút chất cồn còn thừa. Trong bồn rửa ngồn ngộn một núi bát đĩa, còn bếp chất hàng chồng nồi niêu xong chảo, cái nào cái nấy nhơ nhơ nhuốc nhuốc; thức ăn thừa bên trên đã két lại và khô queo đến mức đám nước xốt spaghetti, vụn rau củ và những mẩu thịt trông chẳng khác nào một bộ phận tự nhiên của đống nồi niêu, giống như là tay cầm và nắp vung vậy. Dãy kệ bếp trống huếch trống hoác vỏn vẹn vài thứ như đường làm bánh mứt kẹo, tăm xỉa răng, và những chiếc kẹo dẻo bé tí, những thứ mà muôn đời không thể vứt bỏ, cộng thêm một lô lốc những hộp đựng cái thứ nhìn giống hệt thanh kẹo, gọi là thanh Lima, mà tôi đồ là một thứ đồ ăn tốt cho sức khỏe phụ nữ bởi bìa hộp in hình minh họa cách điệu những phụ nữ chạy bộ quanh mặt trăng. Những thứ duy nhất có trong tủ lạnh là một chai nước tonic hai lít còn một nửa và một lọ mayonnaise ít béo hẳn đã định cư ở đây ít cũng phải vài kỳ tổng thống. Cả ngôi nhà sực lên một mùi như mùi con chó xịt nước hoa, dù theo trí nhớ của tôi thì bố mẹ chưa từng nuôi con chó nào, mà cũng chẳng bao giờ xài nước hoa. Có một chiếc xe đạp cố định đặt phía trước một màn hình ti vi to tổ chẳng và mỏng khủng khiếp nằm nghễu nghện trên giá giữa của cái kệ sách đã trống hoác - sạch trơn sách báo và thậm chí chẳng còn cả những kệ nhỏ bên trong. Đây là thay đổi ghê gớm nhất: ngôi nhà trong ký ức tôi tràn ngập sách vở, thế mà giờ đây tìm đỏ mắt cũng chẳng còn cuốn nào, đến cả cuốn Cẩm nang Ti vi cũng không có luôn. Khi bắt đầu phân vân không biết mình có vào nhầm nhà không thì tôi chợt nghe có tiếng động - một tiếng khò khè hoặc cọt kẹt - phát ra từ phòng ngủ dành cho khách. Tôi bèn mon men đi theo cái âm thanh ấy thì phát hiện ra bố tôi.

Dù chỉ nhìn thoáng qua cũng có thể thấy rõ ông cụ ốm đau quặt quẹo như thế nào. Gương mặt ông tóp đi và lõm sâu, trên đùi phủ một mảnh chăn len kẻ ca rô. Khi nhìn thấy tôi, ông rên lên một tiếng như con thú bị trọng thương, mà tôi đồ rằng một phần ba tỏ ý ngạc nhiên, một phần ba là Chào con đã về, và một phần ba là Đừng có nhìn bố trong bộ dạng gớm guốc thế này, rồi tấm chăn trượt khỏi đùi ông rơi xuống sàn, làm bay lên một đám bụi, chúng lơ lửng trong ánh nắng như thể một thứ vô cùng đẹp đẽ và quý giá, để rồi lại đáp xuống mặt sàn gỗ thông.

Tôi nhặt tấm chăn đắp lại lên đùi ông và hỏi: “Ôi, bố ơi, bố bị làm sao thế này?” mặc dù nguyên do đã quá ư rõ ràng: một cơn đột quỵ. Một nạn nhân đột quỵ thì không thể lẫn đi đâu được, kể cả khi bạn chưa từng gặp ai bị như vậy bao giờ, như tôi đây. Tôi chẳng biết nói gì hơn, nên đành lặp lại: “Ôi bố ơi.” Dường như bố cũng hiểu được sự khó xử của tôi, bởi ông lại rên lên như con thú bị trọng thương, nhưng lần này nghe có phần xoa dịu, làm tôi cũng trấn tĩnh lại.

“Thôi bố không phải nói gì đâu,” tôi bảo ông. “Bố cứ nằm nghỉ. Để con kể bố nghe.” Rồi tôi kể ông nghe chuyện tôi đi học đại học và chuyển chuyên ngành từ ngữ văn sang kỹ nghệ đóng gói, chuyện lập gia đình với Anne Marie rồi chuyện hai nhóc Katherine và Christian, rồi công việc của tôi ở Công ty Đóng gói Tiên phong và ngôi nhà ở Camelot và việc tôi đã nhớ bố và nhớ mẹ đến mức nào. Nhưng tôi không kể ông nghe về giọng nói trong đầu Còn gì nữa? luôn giục giã tôi và chuyện Thomas Coleman cũng như việc Anne Marie tống cổ tôi khỏi nhà, bởi tôi nghĩ ông đã có đủ thứ để lo. Nhưng ngay cả vậy thì lượng thông tin chắc hẳn cũng đã quá khủng với ông, nên khi tôi kể xong thì ông dường như đã thiêm thiếp đi rồi. Tôi lắc cánh tay ông, ban đầu còn lay khe khẽ, rồi mạnh dần, mạnh dần cho đến lúc ông choàng tỉnh với một tiếng khịt mũi. Từ lúc đó tôi chỉ dám hỏi những câu ngắn gọn, vào thẳng vấn đề, rồi tôi hỏi “Mẹ đâu rồi ạ?” và nhận được một tiếng lè nhè hai âm tiết mà tôi đoán có nghĩa là Đi vắng.

Chúng tôi ngồi im một lúc lâu. Trời nhá nhem tối, tôi bèn bật đèn lên. Tôi cảm thấy không việc gì phải trò chuyện thêm, bởi những gì tôi vừa tuôn ra chắc cũng không khôn khéo hơn sự im lặng. Với tôi, bố có phẩm chất của một thánh nhân: ở ông toát lên một vẻ thông tuệ sâu sắc mà những người tàn phế thường có được từ những ngày tháng tàn phế, khiến tôi sẵn sàng ngồi yên ở đó, hứng lấy bất kỳ giọt hiểu biết nào mà ông phát tiết ra. Thật dễ chịu. Nhưng căn nhà quả thật quá sức bừa bãi. Ngay cả phòng ngủ của bố cũng vương vãi đầy vỏ lon bia và chai rượu rỗng, thậm chí còn có vài thùng rượu có vòi rót nữa chứ. Chắc chắn là của mẹ tôi, bởi bà luôn nhấm nháp rượu cùng bữa tối trong khi bố thì chẳng đụng đến một giọt. Thêm nữa, đã đến mức này thì tôi không thể tưởng tượng được bố lại uống được bất kỳ thứ gì mà không có ống hút, mà quanh đây làm gì có cái ống hút nào.

Nhân nhắc đến mẹ tôi, bà đang mất hút ở xó xỉnh nào thế nhỉ? Sao lại đi đâu mà để kệ bố dặt dẹo ở nhà một mình thế này, và mặc cho nhà cửa như vậy? Chẳng lẽ người chồng tàn phế của bà không xứng đáng một tí quan tâm, một tẹo vệ sinh nào hay sao? Càng ngẫm nghĩ tôi càng thấy đó đúng là bản tính mẹ tôi. Xưa nay bà lúc nào cũng là người sắt đá, ngay cả khi chồng bỏ đi biền biệt ba năm trời cũng chăng nhỏ nước mắt một lần. Khi ông quay về, bà chẳng thèm mảy may chào mừng, và bố tôi đã phải cố gắng trầy trật để chắp vá lại hình tượng của mình trong mắt bà. Giờ nghĩ lại thì tôi thấy có một mối liên hệ trực tiếp giữa cú đột quỵ của ông và quãng thời gian chật vật đó. Và rồi còn cả những câu chuyện về Dinh thự Emily Dickinson bà đã kể cho tôi nữa, những câu chuyện đã phá hỏng nhiều hơn một cuộc đời, khiến tôi bắt đầu thấy quạu bà, bà mẹ nhẫn tâm của tôi, lúc này dường như đã ruồng bỏ bố tôi khi ông cần bà nhất. Bà lượn đi chỗ quái nào rồi? Hẳn tôi đã thốt câu này ra thành tiếng, bởi tôi thấy bố nhướng đôi lông mày lên, trong tích tắc tôi cứ nghĩ ông chuẩn bị phạt tôi vì vô lễ với mẹ, nhưng thay vào đó ông lại khò khè: “Cứng.”

“Cứng gì cơ ạ?” tôi hỏi.

“Cáp,” bố nói, hoặc tôi đoán ông nói vậy, rồi nhấc ngón tay như thể trỏ vào tôi. Hoặc điều đó chỉ có trong suy đoán của tôi. Ngón tay nhấc khỏi đùi được chừng một tấc rồi lại rơi xuống. Đương nhiên, rất có thể tôi hiểu lầm. Nhưng nói đi thì phải nói lại, có khi sự hiểu lầm lại chính là lý do để ta ở lại với gia đình mình. Dù sao đi nữa, khi mới tám tuổi tôi đã đi guốc trong bụng bố rồi: ông quá sợ hãi nên phải bỏ nhà ra đi. Mẹ thì quá lẻ loi và uất ức vì bị bố rời bỏ nên mới kể những câu chuyện về Dinh thự Emily Dickinson cho tôi nghe. Tôi cũng hiểu rõ điều đó. Có khi nào chúng tôi đã hiểu nhau quá mức cần thiết không; có khi nếu chúng tôi hiểu lầm nhau, thì gia đình này đã chẳng tan đàn xẻ nghé. Mà nếu gia đình này vẫn còn tồn tại thì tôi đã được gặp bố trong mười năm qua và ông đã chẳng bị choáng ngợp vì sự trưởng thành của tôi. Có khi nào, có khi nào, có khi nào.

“Vâng, con đã cứng cáp,” tôi đáp. Và rồi, chợt nhớ đến bác Terrell trong tù, tôi đính chính: “Một người đàn ông đích thực.”

Bố nhìn tôi chòng chọc phải đến nửa phút, cho đến khi tấm chăn lại trượt khỏi đùi. Ông khẽ nghiêng người khỏi ghế để chụp lấy tấm chăn trước khi nó chạm đất, và động tác này, dù rất khẽ, cũng khiến tôi chợt nhớ lại cái điều tôi tự bắt mình quên đi trong bao nhiêu năm nay: thời khắc khi bố cúi người xuống để mở ngăn kéo bàn, rút ra hộp giày Converse, và cho tôi xem những lá thư yêu cầu tôi thiêu trụi nhà của một loạt đại danh hào. Giờ đây chiếc bàn con vẫn nằm ở vị trí cũ; ngăn kéo vẫn đặt trong bàn. Vậy còn hộp giày thì sao, nó còn nằm trong ngăn kéo không? Những lá thư có còn nằm trong hộp không? Đã bao nhiêu năm rồi, tôi không còn tơ tưởng về chồng thư nọ, nhưng giờ chúng đang bay về nhảy múa loạt soạt trong đầu tôi, hòa vào điệp khúc xén cỏ rì rì của những nhà hàng xóm cũ, của lưỡi lửa lách tách liếm trọn Dinh thự Emily Dickinson và những âm thanh khác vọng lại từ quá khứ. Trong số những âm thanh đó còn có lời bố nói từ nhiều năm trước, “Sam ơi, con là một tên hỏa tặc mà,” đó là lý do vì sao lúc này, sau bao nhiêu năm trời, tôi mới đột ngột buột miệng thốt lên, “Bố nhầm rồi.”

“Nhầm,” bố tôi lặp lại, ráng bắt kịp tôi.

“Vâng, nhầm rồi ạ,” tôi đáp. “Con làm việc ở Công ty Đóng gói Tiên phong. Con thiết kế hộp đựng hàng, hàng xịn hẳn hoi.”

Bố tôi bĩu môi phì một tiếng chế giễu, làm văng một mớ dãi ra cằm, khiến tôi phải kiềm chế không chùi nó đi.

“Con biết thế vẫn chưa là gì,” tôi tiếp lời. Và đúng vậy thật, ngay cả khi tôi kể ông nghe chi tiết về mẫu hộp đựng bóng tennis tôi mới thiết kế xong, một mẫu hộp được đóng chân không bằng nắp nhựa dẻo chứ không phải loại nắp kim loại sắc ngọt vẫn hay cứa đứt tay con nhà người ta. Bố lại trề môi phì thêm tiếng nữa, cằm nhễu nhão nước bọt.

“Hộp… bóng… ten… nis… thì… có… gì… vĩ… đại,” phải đến nửa tiếng đồng hồ ông mới thều thào xong. Vĩ đại! Tôi! Thằng con nào chẳng muốn được bố nói rằng mình có khả năng làm nên việc lớn? Thằng con nào chẳng mơ làm nên trò nên trống! Có gì mà một thằng con không dám làm, không dám hy sinh, để được bố công nhận tài cán, nhất là một thằng con như tôi trong cái thời điểm này, thời điểm bí bét nhất và chỉ cần một vài lời động viên từ bố? Tôi thấy như thể là mình đã rút ra những lời muốn nghe nhất nhét vào miệng bố, và xem chúng tuôn ra từ từ, ngắt quãng, bọc trong đờm dãi.

“Bố đang khen con vĩ đại?” tôi hỏi.

“Không,” ông rành mạch đáp, hết sức rành mạch. Rồi tiếp, “Nhưng… có… tiềm… năng.”

“Vậy con phải làm sao?”

“Con… hãy… giúp… người,” ông đáp.

Công nhận là ý tưởng giúp người nghe cũng bùi tai thật, bởi cho đến lúc này thì cuộc sống của tôi cũng chỉ là qua ngày đoạn tháng, mà những lúc không phải như vậy thì tôi lại chỉ rặt gây ra những nỗi phiền não bực mình cho mọi người. Nào là vụ Dinh thự Emily Dickinson, tất nhiên rồi, và nỗi đau mất mát mà ai nấy đều đã tường tận. Rồi cả Thomas Coleman, bao nhiêu năm rồi vẫn còn quằn quại - tôi không làm sao quên cậu ta đi được, nhất là từ khi cậu ta quyết tâm phá nát đời tôi như tôi từng phá nát đời cậu ta. Và còn Anne Marie nữa chứ, người vợ đã bị tôi gạt xuống vực thống khổ và cũng đã tập dượt cái sự hành hạ trong suốt những năm qua. Thí dụ như có lần sang nhà hàng xóm sát vách dự tiệc mừng hè sang, tôi phát hiện ra Sheryl (tôi chẳng còn nhớ họ của cô này là gì, mà nếu tôi nhớ đúng thì cô ta thậm chí còn chẳng có họ) đang rấm rứt khóc trong nhà kho vì (theo như tôi phát hiện ra) bị chồng bỏ đi theo bồ, và đang mường tượng ra viễn cảnh phải một mình lủi thủi trong những buổi chiều muộn nhá nhem mà không biết làm sao cho đành. Tôi ôm lấy cô - có vẻ như đó là cử chỉ bác ái nên làm - và rồi để dứt ra khỏi cái ôm, tôi bèn thơm cô. Đó chẳng qua là một cái thơm an ủi kiểu “thôi nào, thôi nào”, nhưng tôi cũng xỉn thú nhận rằng khi lướt môi tới má cô thì hình như tôi cũng có chạm phải đôi môi cô, thoáng qua. Điều này quá sai trái, hết sức sai trái, thế nên để trút bớt gánh nặng khỏi con tim và bộ não, tôi bèn đi kiếm Anne Marie trong đám tiệc, cắt ngang câu chuyện dang dở của nàng, và kể nàng nghe - trước mặt cả nửa tá con người - rằng tôi đã hôn Sheryl, rằng đó chỉ là một sự lỡ tay và bắt nguồn từ ý tốt, nhưng tôi quyết định phải bảo cho nàng biết vì tôi cảm thấy tội lỗi khi đôi môi hai bọn tôi cọ phải nhau và thậm chí còn nấn ná trong giây lát - ngay cả khi đó chỉ là một sự lỡ tay bắt nguồn từ hảo ý - và tôi có thể nghe thấy những tiếng thì thầm ái ngại phát ra từ một vài vị khách đang dỏng tai nghe. Những lời đó cộng thêm nét đau đớn trên gương mặt Anne Marie ngay trước khi nàng bỏ lơ tôi và quay trở lại cuộc hội thoại dở dang của mình, ngay lập tức khiến tôi nhận ra mình đã làm một việc không phải. Một nỗi đau tương tự đã thấm đẫm trong giọng nói của nàng, trên điện thoại, khi chì chiết tôi là đồ lăng nhăng và cấm tôi bén mảng về nhà. Tôi đã nặn ra nỗi đau của Anne Marie, một chuyện rõ rành rành như việc tôi đã nặn ra cái lọ đựng xốt mayonnaise không hẳn là nhựa mà cũng không hẳn thủy tinh, lại còn siêu chịu lực. Có điều cái lọ thì có hình hài, còn nỗi đau thì không. Vâng, vậy nên việc giúp được người ta thay vì hành hạ họ nghe hay ho quá đi chứ.

“Nhưng hãy gượm,” tôi chợt hoàn hồn, quay về với con người đích thực của mình. “Con thì giúp được ai. Con chỉ là một thằng đầu lừa.” Bố tôi có vẻ không hiểu khái niệm này lắm - đôi mắt ông càng thêm nhòa đục - thế nên tôi giải thích, “khờ khạo ấy mà.”

“Khờ khạo,” bố hổn hển, “không… phải… bệnh… mãn… tính.”

“Thì nhất định bố sẽ nói vậy rồi,” tôi đáp. Bôi tôi đang nghĩ về rẻo vườn bố đã vun xới như một kẻ đầu lừa và việc ông đã bỏ chúng tôi trong ba năm chỉ để cố chứng minh ông không phải là một kẻ đầu lừa.

Và trong ba năm đó thì ông đã đi những đâu? Ông đi chu du khắp thiên hạ, làm đủ mọi trò, và còn gửi bưu thiếp để chúng tôi biết đích xác ông đã ở đâu và làm gì.

Điểm dừng chân đầu tiên của ông là South Carolina, vì ông chưa từng đến đó bao giờ và giọng nói trong đầu ông cứ thúc giục ông nhất định phải đi - phải đi! - thăm thú đủ năm mươi bang trước khi nhắm mắt xuôi tay. Ông tới xem đấu bóng ở tất cả những sân bóng lớn của đất nước. Ông tham quan Yosemite, Badlands, Sequoia và tất cả những vườn quốc gia có tiếng khác. Ông đặt chân tới di tích của mọi trận đánh chủ chốt thời Nội chiến, đặc biệt những trận máu đổ xương rơi nhiều nhất. Ông định bụng sẽ lắng tai hứng lấy những lời thở than của bao vong hồn đã bỏ mạng khi xông pha vào các cuộc đại chiến ở Gettysburg, Antietam, Vicksburg, nhưng rốt cuộc chỉ nghe thấy tiếng rè rè của những cuộn băng cát xét ghi âm lời hướng dẫn viên đặt sẵn trong mấy chiếc xe đồng hành với ông khi tất cả trườn đi với một tốc độ tỏ lòng tôn kính dọc theo các bãi chiến trường và khu nghĩa địa. Bố tôi săm soi tấm Road Atlas của nhà xuất bản Rand McNally và rồi quyết tâm sẽ bon bon trên mọi nẻo đường lừng danh giờ đã hóa hoang vu từ khi có hệ thống siêu quốc lộ liên bang và hằng ngày đều được tưởng niệm trên kênh Phát thanh Công cộng Quốc gia. Ông thuê một chiếc ca nô và mải miết chèo mười lăm dặm dọc con kênh Erie. Ông phăm phăm cuốc bộ trên con đường mòn Appalachian từ bang Georgia tới Pennsylvania trước khi phải cuốn gói đi vì bị hai gã thợ săn ngồi trên chòi bắn nai quát tháo dọa nạt ngay góc phía nam hạt Carlisle. Ông phá lệ và tìm tới uống ở tất cả các quán bar trên toàn vùng Bắc Mỹ mà Hemingway đã từng cạn chén. Ông lái xe ngược lên ngọn Mt. Washington ở New Hampshire rồi mua một cái đề can làm bằng chứng. Ông theo dõi thông tin về mọi cuộc diễu hành kỷ niệm từng đợt chiến thắng hoặc chiến bại của phong trào đòi quyền công dân và nhất quyết phải tham gia bằng được dù khó khăn đến đâu. Bố tôi còn tới thăm một vùng bị tràn dầu ngoài bờ biển bang Washington và mua một lọ dầu cùng một tấm áp phích chụp hình chú hải cẩu con ngập ngụa trong dầu với dáng vẻ não nề đau thương. Ông đến viếng di tích của trận thảm sát Wounded Knee[1] và ngỡ ngàng khi cảm nhận thấy sự bối rối trước những bài học nơi này mang lại cho mình. Ông tới tham quan gò cỏ và kho sách giáo khoa ở Dallas[2] và mua một bản xịn của phim Zapruder, mặc dù hỏi ai là người đứng ra phát hành đoạn phim đó thì ông tắc tị, chặc lưỡi coi như chính bác Zapruder hoặc một người họ hàng thân thích nào đó của bác ta.

Nhưng bố tôi tuyệt nhiên không phải loại lông bông, hoặc là ông không muốn bị nghĩ như vậy, và ông cũng phải kiếm sống nữa. Thêm đó, là sự mơ hồ về mục đích sống đã đẩy ông ra xa khỏi chúng tôi. Phải, ông được đào tạo để làm một biên tập viên sách, nhưng ông có thể giả vờ đóng những vai khác rồi kể cho chúng tôi nghe qua những tấm bưu thiếp. Ông giả vờ làm một bác sĩ thú y chuyên chữa thú lớn ở Enid, Oklahoma, và nhận ra công việc này cũng không đến nỗi nặng nhọc và hôi hám như người ta tưởng. Ông hóa thân thành kiểm soát viên không lưu ở Newark và được đồng nghiệp thán phục vì sở hữu bộ thần kinh thép và biết cách kể hàng lô chuyện cười tục tĩu cũ mèm theo lối mới. Ông thủ vai một nhạc sư tài ba ở Mississippi, có công dẫn dắt ban nhạc diễu hành trường Trung học Giấc mơ Đồi thông đoạt cúp quán quân toàn bang. Ông còn tham gia khai quật xương khủng long ở South Dakota với tư cách là thành viên khoa Khảo cổ học của trường đại học của bang. Cũng có khi ông lại là một bác sĩ phẫu thuật đảm nhiệm một loạt cuộc tiểu phẫu trên khắp bốn bang thuộc dãy Rocky Moutain mà chưa từng đưa chệch một mũi khâu. Khi tới bờ biển Delray, Florida, thì ông thoắt biến thành một giám đốc nhà tang lễ, và bình luận rằng những xác chết hóa ra chẳng có gì đáng sợ, mà chính những người thân còn sống của họ mới thật quá quắt không chịu nổi. Chuyển sang Ypsilanti, Michigan, ông nhảy sang hành nghề bác sĩ nhi và nghiệm ra rằng nghề này còn nguy hiểm hơn và tiền công không thỏa đáng bằng nghề bác sĩ thú y ở Enid, Oklahoma. Ông còn đảm đương vai trò thuyền trưởng một tàu câu cá mướn ở Rumson, New Jersey, và đặt tên chiếc thuyền là Con sò nổi giận. Bố tôi ngạc nhiên nhận ra rằng khách hàng của ông chẳng quan tâm cóc gì đến việc câu cá mà chỉ nằng nặc hỏi mua chiếc áo phông lưu niệm có in huy biểu của thuyền -một con sò cổ rụt mắt quạu miệng bập xì gà - với giá mười sáu đô la một chiếc. Ông cũng đóng một vai môi giới nhà đất ở Normal, Illinois, và nhận thấy những cặp vợ chồng gợi tình nhất khi họ thì thầm to nhỏ trong phòng tắm hoặc hành lang về số tiền mà họ có thể hoặc không thể chi trả. Thậm chí ông đã từng là một linh mục ở Platteville, Wisconsin, và phát hiện ra rằng suốt cả buổi xưng tội dài hàng mấy tiếng đồng hồ, các con chiên chẳng hề thú nhận lỗi lầm nào khác ngoài thói quen thủ dâm quá độ. Rồi khi về đến Fayetteville, North Carolina, thì ông lột xác thành một vận động viên đua xe phân khối lớn, chỉ để nhanh chóng nhận ra đây chẳng qua chỉ là một trò đuổi bắt tẻ ngắt và vô tích sự hơn ông tưởng gấp nhiều lần.

Khi còn nhỏ, tôi đọc những tấm bưu thiếp đó và hiểu đích xác vì sao bố lại làm vậy: ông đang cầm dao đâm vào sự vĩ đại, đấy là nếu như sự vĩ đại chỉ là cách gọi khác của việc nhảy ra ngoài quỹ đạo những việc ta vẫn thường làm - mà cũng có thể sự vĩ đại chính là thứ chúng ta muốn có để những người khác vì vậy mà sẽ muốn có ta, hoặc giả sự vĩ đại chẳng qua chỉ là mục tiêu phấn đấu của bản ngã bất hạnh nhưng cầu tiến của ta, một thứ ta nghĩ ta cần nhưng thực ra lại chẳng cần và có cố cũng chẳng thể với tới. Gì thì gì, tôi biết rằng sự vĩ đại chính là thứ bố tôi đã bỏ nhà đi để lùng sục.

Thế rồi ông quay về. Có thể Còn gì nữa? Còn gì nữa? chính là câu hỏi đã ong ong trong đầu ông trước khi ông quyết định bỏ chúng tôi, và chắc ông đinh ninh rằng một khi rời khỏi nhà thì ông sẽ tìm thấy câu trả lời, hoặc chí ít sẽ không còn nghe thấy câu hỏi đó nữa, mà cũng có khi nó chưa bao giờ ngừng vang vọng trong đầu ông; có khi nó luôn luôn hiện hữu trong đầu mỗi người chúng ta. Tôi không rõ lắm: cả bố lẫn mẹ đều chẳng đả động đến lý do vì sao bố quay về, mà tôi cũng chưa từng hỏi, và thế là sự im lặng đồng lõa của cả nhà đã biến nó thành một trong những bí mật gia đình, những bí mật sẽ mãi mãi là bí mật một khi chúng tôi còn là một gia đình. Mẹ từng bảo tôi, sau khi bố quay về, rằng bố rất “nhạy cảm” về những việc ông đã từng làm trong thời gian vắng nhà, và tôi tuyệt đối không được lân la nhắc tới đám bưu thiếp khi có ông ở bên. Bà chưa bao giờ tiết lộ lý do vì sao ông lại thấy “nhạy cảm” về đống bưu thiếp, và tôi cũng chẳng hỏi sâu thêm. Tôi bỏ đống thiếp vào một phong bì rồi cất ở sâu tít tận tầng cao nhất tủ quần áo của mình, và từ đó trở đi không hề đả động đến chủ đề này nữa. Nhưng cho dù lý do đó là gì, thì bố cũng đã về nhà và xin lại được việc ở nhà xuất bản, và chúng tôi tha thứ cho ông, hoặc ít ra là tôi tha thứ cho ông. Bởi ông là bố tôi, và tôi nhớ ông.

“Con nhớ bố,” tôi bảo ông.

“Mẹ,” bố nhắc.

“Mẹ sao cơ?”

“Ừ, Bradley,” giọng nói sau lưng tôi vang lên. “Tôi làm sao?”

Đương nhiên, đó là giọng mẹ, chẳng cần quay lưng tôi cũng biết, nên lúc đầu tôi cứ giữ nguyên tư thế. Tôi ngồi quay lưng về phía bà, mường tượng ra tất cả những thứ tôi sẽ nói vào mặt bà, những lời trách móc vì bà đã bỏ mặc ông bố khốn khổ, tàn phế của tôi, bỏ mặc ngôi nhà bẩn thỉu hủi lậu, và vì những câu chuyện bà đã nhồi vào đầu khi tôi còn bé cùng những hậu quả chúng để lại cho tôi và cuộc đời tôi, vân vân và vân vân. Tôi quả quyết rằng khi quay lại đối mặt với bà, tôi sẽ có một bài hạch tội hùng hồn và mãnh liệt. Có lẽ chính ký ức về những lá thư đốt nhà và sự tiệm cận với hiện thực của chúng đã tiếp dũng khí cho tôi - những lá thư và lời bố nói về tiềm năng trở nên vĩ đại của tôi. Có lẽ bởi tôi đã từng thường xuyên đọc qua những đoạn đối đầu giữa mẹ và con trai trong những cuốn sách mẹ bắt tôi luyện, nên tôi biết nó phải diễn ra như thế nào. Dù là lý do gì, thì lúc này tôi cũng đang hừng hực ngọn lửa chính nghĩa, như một thiên thần trừng phạt hay cái gì đó đại loại vậy. Và khi bạn thấy mình là một thiên thần trừng phạt thì bạn phải làm sao? Bạn quay lại và mắng mẹ mình một trận.

Thế nên tôi bèn quay lại để mắng cho mẹ một trận. Bà đứng đó, giữa cửa phòng. Tôi không nhìn rõ hình hài của bà - có thể vì lúc này trời đã trở muộn và kính áp tròng của tôi thì khô queo, mờ đục, và bởi ánh đèn hành lang sau lưng khiến bà trở nên mờ ảo, kỳ bí, như tắm trong ánh sáng, như Bà Chúa Hồ, nhân vật mà mẹ cũng từng bắt tôi đọc nhiều năm trước đây. Tôi không nhìn rõ bà, đó là điều tôi muốn nói, và cũng không nhìn rõ biểu hiện trên khuôn mặt bà khi bà cất giọng, “Con bị vợ tống cổ khỏi nhà chứ gì?”

Đương nhiên, một trong những sở trường của các bà mẹ là xoáy thẳng vào vấn đề, và trong quá trình xoáy thẳng vào vấn đề thì mẹ tôi cũng đồng thời xẻo béng đi một phần cái xúc cảm thỏa mãn trong lòng tôi. Dù tôi có là hiện thân của một thiên thần trừng phạt đi nữa, thì vợ tôi cũng vẫn đinh ninh tôi là thằng lang chạ trí trá và ghét bỏ tôi, tôi vẫn không được phép gặp hai đứa nhóc và vẫn bị cấm tiệt không được bén mảng về Camelot. Anne Marie đã đuổi tôi rồi, có lẽ là mãi mãi. Đây là sự thật, mẹ đã nhìn xuyên thấu tôi, và tôi chợt thấy mỏi mệt, mỏi mệt rã rời.

“Con mệt mỏi quá mẹ ơi,” tôi đáp.

“Ừ,” mẹ đáp, rồi quay người bước theo hành lang vào sảnh, và tôi lũn cũn đi theo, im lặng, xuyên qua những căn phòng đen thui, trèo lên cầu thang, vào trong phòng cũ của mình. Bởi vì đây là một sở trường khác của các bà mẹ: họ biết cách nắm bắt được sự thật, và khi sự thật đó khiến bạn bải hoải chán chường đến nỗi không muốn nghe thêm một chữ nào nữa, thì họ biết rõ đâu là lúc chỉ đường dẫn lối cho bạn ra khỏi mớ bùng nhùng tăm tối, và đưa bạn đi ngủ. Mẹ mở cửa phòng tôi, rồi quay lại đặt tay lên má tôi nói, “Chợp mắt một chút đi Sam.” Lòng biết ơn trìu mến dâng trào trong tôi, và để thể hiện sự cảm kích, tôi đã làm theo đúng như lời mẹ bảo. Tôi ngủ.

❀ ❀ ❀

[1] Con lạch Wounded Knee thuộc bang South Dakota là nơi diễn ra cuộc thảm sát dân da đỏ của binh lính Mỹ năm 1890, khiến ít nhất 150 người thiệt mạng, bao gồm cà phụ nữ và trẻ em.

[2] Kho sách giáo khoa ở Dallas là nơi xảy ra vụ ám sát tổng thống Kennedy năm 1963 và toàn bộ sự việc này đã được một người tên là Abraham Zapruder tình cờ ghi lại bẳng máy quay phim cá nhân.

ACE LE dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.