Là nhờ mẹ tôi đấy: bà có khiếu kể chuyện, và những câu chuyện bà kể trong thời gian bố tôi bỏ đi lúc nào cũng xoay quanh Dinh thự Emily Dickinson. Thí dụ hồi tôi lên tám, bà kể cho tôi nghe một câu chuyện về hai cô bé cậu bé vừa khéo trạc tuổi tôi lúc bấy giờ. Hai cô cậu ấy thường nắm tay nhau chạy nhảy tung tăng, luôn miệng ném cho nhau những câu châm chích mỉa mai học được từ phim ảnh, truyền hình hay đám bạn cùng trang lứa, mà bọn này chắc cũng chẳng học từ nguồn nào khác, chỉ khác cái là đã biến báo đi để thành của mình.
Cả hai đều là những đứa bé ngoan: chúng đến chơi nhà nhau sau giờ tan học, vào cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ; tặng thiệp cho nhau vào dịp sinh nhật và nấu cháo điện thoại hàng tiếng đồng hồ. Rồi một ngày nọ khi hai đứa đi ngang qua Dinh thự Emily Dickinson và thấy thật lạ là cửa sau đang mở toang, chúng quyết định bước vào dò la. Nhưng ngay khi chúng vừa đưa chân qua bậc thềm thì, mẹ tôi kể, hai cánh cửa đột nhiên đóng sầm lại sau lưng và cả tòa nhà rung rền như cái máy nén rác quá khổ đang hồi khởi động. Người ta nghe thấy tiếng gào thét bên trong ngôi nhà, tuy nhỏ mà rõ, và khi mẹ kể xong câu chuyện thì tôi buông một hơi thở dài, nhăn nhó kêu ca: “Sao lại chẳng công bằng gì thế.” Và mẹ tôi sẽ gật đầu đáp: “Dinh thự Emily Dickinson giống như lỗ cuối cùng trên một sân golf mini vậy. Còn hai đứa bé là quả bóng golf, chúng lọt thỏm vào đó, để rồi ngôi nhà lại tiếp tục chờ đợi người kế tiếp.” Quả là một phép so sánh tai hại, vì quãng thời gian đó mẹ và tôi vẫn thường hay chơi trên sân golf mini cùng nhau.
Câu chuyện mẹ kể là như thế đấy (tôi quên chưa nói thêm là nó chẳng bao giờ làm hai mẹ con tôi vui lên được chút nào), nhưng giờ thì sắp đến lượt tôi kể câu chuyện của mình, và đó là câu chuyện có thật. Tôi sẽ nói thật cho Anne Marie và các con nghe về chuyện của mình và Dinh thự Emily Dickinson, việc tôi đã đốt trụi thùi lụi nó và giết mất hai vợ chồng tội nghiệp nhà Coleman thế nào. Tôi đã gian dối một thời gian quá dài. Giờ đây khi Thomas Coleman đã ló mặt ra và dọa sẽ khều cái kim trong bọc thì tôi hiểu rằng mình phải kể với gia đình sự thật này khi nó còn có cơ hội cứu vãn tôi và khi tôi tạm có khả năng kiểm soát nó. Mà biết đâu đấy, có khi sự thật lại làm tôi hạnh phúc hơn thì sao. Đã chẳng có lần một tay phân tích trái phiếu bảo một tay khác khi cả đám đang công não viết hồi ký: “Có gì kể nấy đê ông tướng ơi,” (họ nói năng theo kiểu đó đấy: như là những tay lướt sóng bận vest hiệu Brooks Brothers). “Cho nó nhẹ người.” Nghe như thể tất cả chỉ là chuyện nhân quả, khiến cho tôi, một nhà đóng gói học, hoàn toàn hiểu và thấm thía. Nhưng tôi cũng biết việc này chẳng dễ dàng gì. Khi tôi cuốc bộ ra khỏi Camelot, dọc theo quốc lộ 116, và lượn vòng vòng quanh bãi đậu xe ngoài siêu thị đồ làm vườn (lẽ ra tôi có thể đi dọc vỉa hè quốc lộ 116 hoặc trong khu Camelot, nhưng làm gì có vỉa hè mà đi), và mường tượng ra khuôn mặt hai thiên thần nhỏ khi bố của chúng cố gắng giải thích mình là một kẻ sát nhân và một tên hỏa tặc, chưa kể còn là một gã dối trá trường kỳ, tôi phần nào bị lung lay. Nhưng sẽ ổn thôi, vì tôi biết mình sắp làm một việc đúng đắn, và tôi đang có thừa quyết tâm đây, nên bớt đi một chút cũng chẳng hại gì.
Thế rồi tôi quay gót trở về Camelot, bước lên lối vào nhà, và đánh mất thêm một ít quyết tâm nữa. Chiếc xe tải mini của Anne Marie đã đậu ở đấy tự bao giờ. Cũng giống như Camelot, căn nhà, lũ trẻ và bản thân Anne Marie, chiếc xe được chăm sóc rất cẩn thận và tôi yêu nó, yêu gia đình, yêu căn nhà quá đỗi, tôi cảm thấy tình yêu ấy trong người lớn dần lớn dần, thấy trái tim trong ngực như muốn nở to lên, to nữa lên cho tới khi căng phồng yêu thương đến mức nổ tung tóe vương vãi khắp nơi khiến tôi lìa đời luôn mà chẳng phải bận tâm gì nữa. Tôi lượn vòng ra sau nhà theo lối cửa hậu, bước vào bếp, nơi lát những viên gạch nung lấp lóa nắng. Tôi chẳng hiểu gạch nung là cái thứ gạch gì, chỉ biết nó có liên hệ gì đó tới những người da đỏ và đất sét, đất nện, mà mấy thứ đó dường như chả có liên quan gì đến cái thứ được lát trên nền bếp nhà tôi đây. Mặt sàn này và tên gọi của nó thật bí ẩn, không thể giải nghĩa được, có khác nào tình yêu đâu, và con tim tôi cứ phồng to lên, thách thức sự chịu đựng của những vách ngăn. Tôi quỳ xuống hôn lên sàn bếp, đặt môi lên nền gạch lạnh mát. Mày là của tao. Đó là ý nghĩ tôi dành cho cái sàn gạch. Mày là của tao, và tao yêu mày lắm. Nhưng liệu cái sàn có còn yêu lại tôi không sau khi tôi kể cho nó nghe về sự thật đời mình? Chỉ nghĩ đến đó môi tôi đã có thể cảm nhận thấy lớp gạch đang co lại để né khỏi mình. Liệu gia đình tôi có giống thế không? Làm sao có thể khác được? Ôi, tôi lo sợ, không chỉ một thứ, mà tất cả mọi thứ, dù chưa tới một phút trước đây tôi còn tràn trề lòng dũng cảm và quyết tâm. Ngay cả lớp gạch sàn cũng còn làm tôi sợ và muốn cao chạy xa bay trước khi bị nó hoàn toàn cạch mặt. Tôi lau xong vết môi hôn trên sàn và chống gối đứng dậy thì cũng là lúc Katherine con gái tôi bước vào bếp.
Katherine nay đã tám tuổi rồi, cao gầy khẳng khiu giống hệt mẹ nó hồi xưa - kiểu con gái chẳng mặc gì ngoài quần yếm trong suốt thời gian du hành từ vóc dáng lộc ngộc như con trai sang vẻ yêu kiều đầy nữ tính. Con bé đã học từ mấy chương trình truyền hình hoặc đám bạn cái cách chào hỏi người ta không theo lối thông thường, “Hế nô,” con bé đang nói với tôi trong bếp lúc này đây, và tôi muốn đáp lại: Ôi, cục cưng, con gái rượu đầu lòng, bố sắp nói với con điều này, chắc con sẽ ghét bố lắm, nhưng ngay cả nếu có ghét thì ít nhất con cũng hứa với bố là đừng bao giờ chào “Hế nô” như thế nữa nhé? Nhưng thay vì vậy thì tôi lại hỏi, “Mẹ đâu rồi con?”
“Mẹ ở trên gác tập thể dục.” Vào giờ này hằng ngày Anne Marie vẫn thường leo lên phòng ngủ trên tầng, bận đồ thể thao, những mảng vải trơn bóng thít lấy những mảng da trắng, tóc búi cao, nhân trung lấm tấm mồ hôi, vừa xem ti vi vừa guồng cật lực chiếc xe đạp cố định. Đôi khi tôi tự hỏi nếu nàng cứ guồng mãnh liệt thế kia thì chiếc xe còn cố định được thêm bao lâu nữa. Tim tôi nhói buồn khi nghĩ tới cảnh phải vén mở cho nàng biết về con người thật của mình; và rồi, bởi tôi không phải là kẻ e ngại những câu hỏi lớn, tôi băn khoăn không biết liệu nàng có hạnh phúc hơn khi lấy một người khác hay không, một người không đầu lừa như tôi. Trong quan hệ của chúng tôi có không ít lần tôi thể hiện cái sự đầu lừa ấy. Chẳng hạn như lần chúng tôi ăn tối với vợ chồng cậu đồng nghiệp, lan man thế nào lại tán sang chuyện người Do Thái, hoặc ít nhất là về tôn giáo của người Do Thái, và Anne Marie hỏi cô vợ (vốn mang quốc tịch Mỹ) xem cô ta có phải người Do Thái không, cô ta đáp không phải, rồi tôi quay sang bảo cậu đồng nghiệp: “Tôi thì biết chắc cậu không phải người Do Thái.” Tôi nói vậy vì tôi biết cậu ta là người Đức, đến từ nước Đức - tên cậu ta là Hans - nhưng nói vậy thì chẳng khác nào ngầm ám chỉ rằng vì cậu ta là người Đức, chắc hẳn cậu ta phải là một tên Phát xít: sau này Anne Marie đã phân tích như thế. Và tôi thanh minh với nàng rằng tôi nào có ngụ ý đó, nhưng rõ ràng hai vị khách đã hiểu theo hướng Anne Marie nói: họ giục nhau cáo từ, ngay cả khi món tráng miệng còn chưa bưng lên. Sau khi họ đi khỏi, Anne Marie nổi đóa với tôi - nổi đóa, người anh họ cáu bẳn của sự cam chịu, thứ cảm xúc nàng thường xuyên cảm nhận thấy khi ở bên tôi. Tôi bèn xin lỗi nàng. Nhưng tội của tôi cũng có to đâu: sau này tôi phát hiện ra cậu chàng đó đúng là chẳng phải người Do Thái!
Nhưng chắc đó không phải là điểm mấu chốt ở đây. Anne Marie có hạnh phúc không? Tôi đã bao giờ làm cho nàng thấy hạnh phúc chưa? Hay là chỉ toàn làm nàng bận bịu: vừa chạy theo bọn trẻ như cờ lông công, vừa đi làm, vừa nai lưng làm hết những việc nhà mà tôi chẳng mó tay vào - nghĩa là (trừ việc xén cỏ và vài buổi tối xem ti vi với lũ trẻ) tất tần tật mọi thứ - kể cả việc dọn dẹp những điều tôi lỡ tay gây ra, nhiều đến mức nàng chẳng còn tin được liệu chúng có phải là sự lỡ tay hay không nữa? Tôi chỉ là một trong những thứ khiến nàng bận bịu, ừ thì, nói đúng ra là tôi và cái xe đạp cố định. Gần đây nàng có vẻ ít phiền não và khóc lóc hơn trước, liệu đó là vì nàng hạnh phúc hay vì nàng bận bịu? Tôi khiến nàng hạnh phúc hay chỉ đơn thuần quá bận bịu? Mà hai cái đó có gì khác nhau không?
“Trái đất gọi bố,” Katherine nhắc. Con bé đã đủ cao để với tay lên cốc đầu tôi, như thể kiểm tra xem hồn tôi đã nhập về chưa, và nó vừa làm thế, với tay lên cốc vào trán tôi, nhẹ nhàng thôi, gần như không đau và chỉ thoắt một giây. “Bố có ở đó không?”
“Có,” tôi đáp. “Em con đang làm gì?”
“Nó đang ở trên phòng xem ti vi ấy.”
Tôi có thể vẽ ra cái cảnh Christian đang dán mắt vào chiếc ti vi (mỗi thành viên trong gia đình tôi đều có một chiếc trong phòng mình, cộng thêm một cái ở dưới nhà, và một cái đặt dưới tầng hầm - với cả đống màn hình như thế này, chúng tôi chẳng khác gì những kẻ điều khiển một điệp vụ mật). Khi Christian phóng trên chiếc xe scooter, thằng bé thường kêu lên những tiếng kêu thích thú như hồi nó còn bé xíu, tựa như là tiếng “Wheeee.” Còn khi chăm chú vào ti vi thì trông thằng bé như đang bối rối và tức giận với những thứ xảy ra trên màn hình, nhìn hệt một đứa đần độn hung tợn. Tôi chỉ ước sao thằng bé đang chơi xe scooter, chơi trong nhà cũng được, điều chúng tôi bình thường vốn không cho phép, để giờ tôi có thể mường tượng cảnh thằng bé đang chơi trò đó thay vì ngồi đần độn và câm lặng trước màn hình ti vi. Tôi cũng ước giá mình có thể để lại cho Christian và Katherine một thứ gì đó để nhớ về bố chúng. Đó là một mong ước của mọi phụ huynh, tôi biết vậy. Mẹ tôi chẳng hạn, trong quãng thời gian vắng chồng, bà đã kể tôi nghe mấy câu chuyện về Dinh thự Emily Dickinson để tôi còn có một cái gì đó, ngoài một người cha biệt tích. Và đến giờ tôi vẫn còn có chúng; tôi đã giữ chúng suốt bấy lâu nay, trong đầu mình, vì đó là những câu chuyện quá là hấp dẫn.
Những câu chuyện mẹ kể xoay quanh Dinh thự Emily Dickinson bao giờ cũng kết thúc với những hơi thở cuối đời của nạn nhân, những đứa trẻ mất tích và bị chìm vào quên lãng, những thi thể người, lớn nhỏ mới cũ đủ cả, rơi lả tả xuống một kẽ nứt cô quạnh nghiệt ngã. Năm tôi chín tuổi, mẹ bắt đầu kể một loạt những câu chuyện, ngày một dài và kinh dị, về những gã lạ mặt lai vãng tới thị trấn: toàn những kẻ có quá khứ mờ ám, lưng giắt một mớ tiền án tiền sự, quần bò bạc thếch, miệng phì phèo Marlboro, hoặc vẫy xe xin đi nhờ hoặc rong ruổi trên xe buýt để vào thị trấn hòng kiếm một chỗ đặt lưng, một công việc vài xu đút túi, cóc cần biết bầu cử hay thuế má là gì. Đám người này có coi Dinh thự Emily Dickinson ra cóc khô gì ngoài một nơi tạm trú qua đêm: chẳng qua đó cũng chỉ là một ngôi nhà to cộ, bụi bặm, ổ khóa thì lỏng lẻo và chỉ ban ngày mới có bóng người. Những gã này đột nhập vào căn nhà một cách dễ dàng, nhưng chính vì vậy mới khiến sự mất tích sau đó (theo như những câu chuyện của mẹ thì người ta chỉ có thể loáng thoáng nghe thấy những tiếng rú của họ khi bị ngôi nhà địa ngục cựa mình răng rắc nuốt trọn) trở nên đáng sợ hơn gấp bội: bởi đám người này đã trải nghiệm và sống sót qua biết bao điều kinh hoàng ngoài đời, nhưng lại không sao thoát khỏi bóng tối của ngôi dinh thự này. Nó vừa rùng rợn, vừa cuốn hút như thế đấy, mà nó lại còn tọa lạc lù lù ngay đầu phố mới sợ chứ. Trong khi đó bố tôi, cả đời không đụng đến điếu thuốc, bận quần kaki thay vì quần bò mốc, chưa từng biết rắc rối là gì: ông hẳn sẽ không thể nào sống sót mà quay trở về Amherst và Dinh thự Emily Dickinson; ông sẽ bị cuộc đời nuốt chửng trước khi đặt chân về tới nhà. Khi tôi nói rằng tôi thấy lo lắng cho những kẻ du đãng trong câu chuyện của mẹ, thì thực ra là tôi đang lo cho bố của mình, người hẳn đang cô quạnh ở thế giới bên ngoài rặt những hung hiểm tàn nghiệt, tôi đã tin như vậy. Những câu chuyện về Dinh thự Emily Dickinson của mẹ chẳng qua chính là nói về bố tôi, vì vậy nên tôi mới nghĩ ngợi về nó (Dinh thự Emily Dickinson ấy) và bố mẹ tôi nhiều đến như vậy - hồi đó và cả bây giờ nữa.
Nhưng thế đủ rồi. Còn hằng hà sa số những câu chuyện khác, những món quà mẹ đã tặng tôi, và hãy xem chúng đã dẫn tôi đến bến bờ nào - đó mới là vấn đề. Tôi không hề muốn để lại cho hai đứa nhóc tì của mình một thứ tương tự như vậy; nhưng đồng thời tôi chợt nhận ra rằng mình cũng chẳng muốn cho chúng biết sự thật, một hành động nguy hiểm và có thể sẽ làm tổn thương cả gia đình nhỏ này và chẳng giúp được ai sất. Trong lúc tôi đang vơ vẩn nghĩ xem nên tặng chúng món quà gì an toàn hơn, thì bé Katherine đã mở tủ lạnh, thò tay vào móc ra một chiếc cốc xốp cỡ lớn rồi đưa lên miệng mút chùn chụt chiếc ống hút cắm trên miệng cốc.
“Con uống gì đấy?”
“Sinh tố,” con bé đáp.
“Có giống sữa lắc không?”
“Không,” con bé đáp.
“Thế sinh tố với sữa lắc khác nhau thế nào?” tôi hỏi.
Con bé đắn đo trong giây lát: “Sinh tố thì không bị lắc.”
“Giỏi,” tôi khen, khen thành thực. Tôi vốn định về nhà để kể cho gia đình nghe về sự thật của mình, nhưng thay vào đó lại cho con gái mình một cuộc trò chuyện lý thú về sinh tố, một thứ con bé sẽ chẳng đời nào nhớ, và có lẽ đây là điều tốt nhất ta có thể để lại cho con cái mình: chẳng để lại cái gì cả. “Tốt lắm,” tôi khen thêm lần nữa.
“Cái gì tốt?” Anne Marie bước vào bếp sau lưng tôi. Tôi quay lại nhìn nàng. Tóc nàng ướt sũng; rõ là mới tắm xong. Buồn cười lắm nhé: nàng chẳng bao giờ chịu sấy tóc cho khô, dù mái tóc nàng dày và dài như cuộn thừng, đến công chúa Rapunzel chắc cũng phải ghen tị, nhưng nàng chưa từng mua cái máy sấy tóc nào bao giờ, ấy thế mà vẫn làm khô tóc được mớỉ lạ. Khi rỗi việc, tôi vẫn thường nghĩ, bên trong mái tóc nàng hẳn phải có những sợi dây xoắn gia nhiệt, và chỉ cần nhìn nàng cũng đủ khiến tôi cảm thấy những sợi dây xoắn gia nhiệt bên trong mình tỏa hơi ngùn ngụt, ngọn lửa phừng phừng liếm từ hai chân lên chỗ kín, qua ngực rồi lên khuôn mặt tôi. Tôi phải cưỡng lại cái thôi thúc muốn nhảy vào ngấu nghiến nàng ngay tại đây trong tình ái và đam mê. Điều này tôi đã từng làm một lần, trong một tiệm giày ở trung tâm mua sắm Thung lũng Tiên Phong, khi Anne Marie đang ướm thử một đôi bốt đen cao lút gối, xoay người bên này bên nọ như một cô người mẫu mà nàng hoàn toàn có thể trở thành nếu muốn, và lửa dục trong tôi đã cháy bừng đến mức tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc đâm bổ vào nàng. Và tôi đã làm y hệt như thế, xô dạt đống thùng đựng đồ và kệ trưng bày và các thượng khách khác trong quầy. Sau khi phải dọn dẹp đống bừa bãi, xin lỗi chủ tiệm và nhận mua đôi bốt, Anne Marie đã buộc tôi phải hứa sẽ tuyệt đối không bao giờ được lặp lại chuyện đó nữa. Thế nên lúc này tôi đành đáp: “Sinh tố.”
“Sinh tố gì cơ?”
“Katherine đang uống thứ đó. Hai bố con anh vừa mới tán dóc xem sinh tố với sữa lắc thì khác nhau thế nào.” Anne Marie nhìn tôi đầy khó hiểu như thể tôi vừa nói một thứ ngoại ngữ tôi chưa từng được học vậy. Nên tôi bèn giải thích. “Hai thứ khác nhau mà.”
“Hôm nay thế nào anh?” Anne Marie hỏi. “Ở nhà có gì lạ không?”
Đương nhiên đây là thời khắc để tôi kể nàng nghe cái sự thật lúc này đang án ngữ trước mặt tôi như thể là một thành viên của gia đình. Tôi lại nhớ tới đám phân tích trái phiếu, nhớ tới những trang hồi ký của họ bay lật phật như cao su dẻo: Có gì kể nấy, có gì kể nấy đê; như thế sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn, ông tướng ạ. Tôi hoàn toàn có khả năng làm việc này chứ, phải không nào? Tôi sẽ kể Anne Marie nghe về vụ hỏa hoạn ở Dinh thự Emily Dickinson và gia đình Coleman và quãng đời tù tội của mình; tôi sẽ kể nàng nghe về bố mẹ tôi, rằng tôi đã làm họ đau đớn, và rồi vì thế họ đã gửi tôi đi học đại học; tôi sẽ kể nàng nghe về cuộc viếng thăm vừa mới đây thôi của Thomas Coleman. Tôi sẽ cho nàng biết rằng những lời lừa dối trước đây chẳng qua đều là do tôi yêu nàng quá và sợ mất nàng đấy thôi, và giờ đây tôi kể sự thật cho nàng cũng chính vì nỗi sợ đó, và xin nàng làm ơn làm phúc hãy tha lỗi cho tôi, tôi sẽ không bao giờ hở thêm một lời dối trá nào nữa.
Và rồi rốt cuộc thì tôi đã nói gì với nàng? Thêm một lời dối trá nữa. Bởi vì khi bạn là một kẻ dối trá thì bạn luôn làm như vậy: bạn nói dối, rồi nói dối thêm nữa, và sau một chặp thì bạn chỉ hy vọng là những lời dối gian sẽ ít đau đớn hơn sự thật, hoặc ít ra thì đây là lời nói dối bạn tự nói với bản thân.
“Chẳng có gì lạ,” tôi đáp. Và rồi, trước khi nàng kịp hỏi tôi thêm câu nào để tôi lại phải trí trá đáp lại, tôi bèn thốt ra một câu hoàn toàn chân thật: “Anh yêu em nhiều lắm, Anne Marie ạ. Em có biết không cưng?”
Nàng mỉm cười, áp bàn tay lên má tôi, cử chỉ âu yếm yêu thích của nàng, và đáp: “Em biết rõ mà. Em biết mà.”
“Anh đói ngấu rồi,” tôi nói. “Mình nấu bữa tối đi thôi.” Thế là chúng tôi lăn vào bếp: Katherine tách cây xà lách, rửa bằng vòi rửa rồi cho vào rổ quay rau, con bé mắm môi mắm lợi ấn tay thật lực, mỏi tay này thì chuyển tay khác; tôi thì dọn bàn ăn, sắp đặt dao nĩa đĩa thìa theo thứ tự mà tôi cho là đúng; còn Anne Marie mới là người đóng vai chủ đạo, tôi không nhớ cụ thể bữa tối hôm đó gồm những gì nhưng chắc chắn là có đầy đủ những nhóm thức ăn quan trọng nhất. Christian đi xuống, vẫn còn lờ đờ vì xem ti vi, và cũng cố làm tròn bổn phận của mình, tức là ngồi im trên ghế và không làm phiền đến ai.
Khi chúng tôi bận nấu nướng, căn bếp đầy ắp những câu chuyện thường nhật: Anne Marie nói về câu lạc bộ sách nàng mới tham gia, Katherine khoe mình đang là ngôi sao trong đội bóng đá nữ, Christian kể lại bộ phim hoạt hình thằng bé vừa xem nhưng chỉ hiểu lõm bõm. Còn tôi, chẳng mở được mấy lời, chủ yếu là vì bị phân tâm bởi giọng nói oang oang ấy, Còn gì nữa? Còn gì nữa? Đã rất nhiều năm rồi nó mới quay trở lại, mà tôi cũng không hiểu vì sao nó lại xuất hiện. Tôi đã đạt được những gì mình muốn, chính là những gì đang hiện diện cùng tôi trong căn phòng này và bao gồm cả căn phòng nữa. Có lẽ nào ta nghe thấy giọng nói đó không phải vì ta còn muốn gì khác nữa, mà là vì ta sợ mất những thứ ta đang có? Giọng nói đó vang to đến mức tôi phải đập tay vào thái dương hòng xua nó đi, làm nhóc Christian nhìn thấy và bắt chước, nhưng lại làm quá tay, nên thằng bé bắt đầu mếu máo khiến tôi phải dỗ dành, nhưng ít ra làm vậy cũng giúp tôi tạm thời gạt được giọng nói kia qua một bên.
Cuối cùng cả nhà cũng ngồi vào bàn ăn. Sau một ngày đầy sóng gió, việc cả nhà vẫn còn quây quần được quanh bàn ăn đối với tôi chẳng khác gì một phép mầu. Mà phép mầu thì phải được phúc đáp bằng những lời cầu nguyện, hồi học đại học tôi được dạy thế, duy chỉ có điều tôi chẳng thuộc lời cầu nguyện nào cả, những lời hiếm hoi mấy xơ bắt chúng tôi học giờ đã bay biến đi đâu mất. Vậy nên tôi chỉ đơn giản nói thế này: “Tôi là nguời chồng, người cha may mắn nhất trên thế gian này.” Mà đúng là như vậy; vận may đã đi theo tôi suốt mười năm trời, và nó sẽ nán lại với tôi thêm bốn ngày nữa trước khi mất tích và tôi sẽ làm một điều không nên chút nào.