Như mọi người đều biết, ta không thể quay về nhà[1]. Cuốn sách nổi tiếng đó đã dạy ta như vậy, dù nó đã phải mất quá nhiều trang để làm thế. Nhưng có một điều mà cuốn sách đó không chỉ ra nhưng bạn sẽ tìm thấy trong cuốn sách của tôi, đó là ta không nên quay về nhà dù chỉ để thay quần áo và tắm rửa trước khi đi gặp mẹ ở quán Hoàng tử Sinh viên, bởi ta sẽ đụng phải trinh sát Wilson ngồi thù lù ở ngay bàn ăn đợi ta. Mắt cậu ta thâm quầng, tay khư khư một tách cà phê to tướng, và tôi thì cũng đang mắt thâm quầng, tay khư khư một lon bia to tướng, một minh chứng cho thấy rằng tất cả đàn ông đều nhang nhác giống nhau.
“Gặp tôi anh không ngạc nhiên à?” cậu ta nói.
“Không,” tôi đáp, vì đúng là tôi không ngạc nhiên thật: xét cho cùng, mấy ngày vừa qua đã có quá nhiều người không mang họ Pulsifer xuất hiện ở nhà tôi đến mức tôi phải nới rộng định nghĩa của từ nhà, giờ thì nó bao gồm cả những người không sống ở đây, ngoài những người lẽ ra phải sống ở đây nhưng lại mất hút đi đằng nào. “Tôi chẳng ngạc nhiên gì cả,” tôi giơ lon bia lên chào, rồi ngồi xuống bàn, đối diện với cậu ta. Nằm giữa chúng tôi là một phong bao màu nâu dày cộm mà tôi đoán là được gửi cho bố hoặc mẹ tôi.
“Dạo này anh bận rộn nhỉ, Sam,” trinh sát Wilson nói, rồi lôi trong túi áo khoác ra một vài phong bao, rút từ mỗi phong ra một vài tờ giấy, trải chúng lên mặt bàn, phủ lên trên cả chiếc phong bao màu nâu. Những tờ giấy và phong bao trông lấm lem, tơi tả, nhàu nhĩ, và tôi chẳng cần đọc cũng biết rõ nội dung của chúng, nhưng tôi vẫn đọc để câu giờ thêm chút ít. Đó là những lá thư bố tôi làm mất, được gửi từ những người muốn tôi đốt nhà của những văn hào như Edith Wharton, Henry Wadsworth Longfellow và Nathaniel Hawthorne, cộng thêm một túp nhà gỗ ghép, bản sao của ngôi nhà của Henry David Thoreau ở ao Walden. Những thỉnh cầu này đều đã được đáp ứng: đêm qua, những ngôi nhà này đã lần lượt bị đốt sạch, và tại mỗi hiện trường thủ phạm đều vứt lại lá thư chỉ điểm ở gần đó. Trinh sát Wilson kể lại cho tôi chuyện này khi tôi làm bộ đọc từng lá thư một. Tôi biết tỏng rằng đám phân tích trái phiếu chính là thủ phạm - tôi có thể hình dung ra chặng đường của bọn họ, đầu tiên là lái xe từ New Hampshire xuống phía Nam, rồi rẽ sang hướng Đông tới Boston, để lần lượt phóng hỏa từng ngôi nhà, tôi cũng có thể hình dung ra Morgan nói, Hắn sẽ tiếc hùi hụi cho xem, khi rút từng lá thư ra vứt xuống hiện trường. Lẽ ra tôi nên kể cho trinh sát Wilson về đám phân tích trái phiếu; lẽ ra tôi nên trình ra cuốn hồi ký của Morgan và chồng bưu thiếp để giải thích lý do tại sao đám này lại đi đốt nhà và đổ tội cho tôi. Rồi không dừng ở đó, tôi sẽ thừa nhận với trinh sát Wilson rằng tôi chẳng biết họ của đám phân tích trái phiếu, ngoại trừ Morgan, cũng không biết chính xác chỗ trú ngụ của họ ở Boston. Nhưng Anne Marie đã không muốn nghe về đám phân tích trái phiếu, nên tôi nghĩ đó cũng sẽ là phản ứng của trinh sát Wilson, rằng cậu ta cũng sẽ đồng tình với vị nhà văn cư trú: cậu ta sẽ dứt khoát cho rằng đây chỉ là một chiêu trò rẻ tiền, và đám phân tích trái phiếu nghe không giống như là người thật. Thế nên thay vì nói toàn bộ sự thật cho cậu ta nghe, tôi chỉ nói cái phần đơn giản nhất - “Không phải tôi,” rồi trả lại những lá thư cho cậu ta.
“Đúng là anh rồi,” trinh sát Wilson nói, nhét đống thư vào phong bao và đút vào túi áo khoác. Tôi nhìn xuống mặt bàn nơi đống thư vừa nằm ở đó. Chiếc phong bao màu nâu đập vào mắt tôi. Tôi nhìn nó chăm chú thay vì nhìn trinh sát Wilson, và phát hiện ra một điều tôi chưa chú ý đến: góc trên bên trái của nó có ghi: “Wesley Mincer, ban Ngữ văn, Đại học Heiden, Hartford, CT 06106.” Trên phong bao không có dấu bưu điện, cũng không có địa chỉ nơi gửi, nhưng ở ngay giữa phong bao là tên tôi, được viết bằng phông chữ to đậm để ta không thể không để ý đến nó: “SAM”. Tôi vừa quay sang nhìn trinh sát Wilson, vừa đưa tay lật cái mặt phong bao có đề tên tôi úp sấp xuống mặt bàn thay vì để cho nó đập thẳng vào mắt tôi và cậu ta như cũ.
“Không,” tôi nói, “không phải tôi.”
“Chẳng anh thì ai vào đây nữa hả Sam,” cậu ta vỗ vỗ vào túi áo nơi đút mấy phong bao chứa những lá thư tố cáo.
“Nếu đúng là tôi,” tôi nói, “thì tôi vứt lại những lá thư này làm cái gì chứ?”
Rõ ràng trinh sát Wilson đã không nghĩ đến đây, đã không nghĩ gì về những bằng chứng này, ngoại trừ việc chúng có tồn tại và giúp cậu ta chứng minh được điều cậu ta muốn chứng minh, vì những bằng chứng - tôi sẽ đưa vào cuốn cẩm nang - chỉ là một phiên bản cầm nắm được của những ý nghĩ hão huyền. “Bởi vì anh muốn bị bắt,” cậu ta nói yếu ớt, rồi đập mạnh tay vào túi áo như để trừng phạt những lá thư vì đã làm cậu ta thất vọng.
“Sao tôi lại muốn bị bắt?”
“Cũng có thể anh chỉ lỡ tay làm rơi những bức thư,” cậu ta nói.
Tôi thấy thật khoái khi nghe người khác nói chữ “lỡ tay”, nên trong phút chốc tôi quên hết tất cả những “lỡ tay” của mình, và lỡ miệng nói, “Thôi nào. Cậu sáng dạ hơn thế nhiều chứ. Tôi đốt năm ngôi nhà và lần nào cũng lỡ tay để lại lá thư ư?”
“Tôi mới kể tên bốn ngôi nhà,” trinh sát Wilson nhanh nhảu phản đòn.
“À,” tôi nói.
“Nhưng anh nói đúng đấy. Đêm qua còn một ngôi nhà nữa cũng bị đốt.” Tôi đã biết đó là ngôi nhà nào rồi, nên chẳng cần đợi cậu ta nói ra. Nhưng tôi chợt nghĩ tới lá thư của Peter Le Clair trong túi áo tôi, chợt nghe thấy nó cất lời gọi những anh chị em của mình trong túi áo thám tử Wilson ở phía bên kia bàn. “Tôi không tìm thấy lá thư nào ở đó. Nhưng tôi cũng biết anh là kẻ đã đốt ngôi nhà đó. Anh có muốn biết tại sao tôi biết không?”
“Không,” tôi đáp. Xét cho cùng, tôi đã biết tỏng những gì trinh sát Wilson định kể, đã biết tỏng những gì Thomas Coleman kể cho cậu ta, đã biết tỏng rằng cậu ta đã lái tới New Hampshire để tìm tôi. Điều tôi không biết là vật nằm trong chiếc phong bao màu nâu kia, và liệu trinh sát Wilson đã bóc nó ra hay chưa.
“Này anh có nghe tôi nói không đấy?” trinh sát Wilson hỏi.
“Không,” tôi đáp. “Có gì quan trọng à?”
“Có,” trinh sát Wilson tiếp tục. “Tôi vừa kể anh nghe về việc cậu Thomas Coleman của anh đã gọi cho tôi và báo rằng anh sắp đốt tư gia Robert Frost ở Franconia, New Hampshire.”
“Làm sao cậu ta biết được?” tôi hỏi.
“Việc đó không quan trọng,” cậu ta đáp, và tôi biết ngay cậu thám tử này cũng chẳng biết câu trả lời, “không quan trọng” chỉ là một cách để gọi những thứ ta không biết. “Anh cười gì thế?”
“Tôi có cười đâu,” tôi đáp, mặc dù tôi đang mỉm cười thật. Rõ ràng là trinh sát Wilson đã không bám đuôi tôi đến New Hampshire - điều này vốn là điều tôi sợ nhất; rõ ràng cậu ta đã không nhìn thấy tôi đứng ở Tư gia Robert Frost, ở quán bar, ở đám cháy. Và vì không có lá thư trong tay, cậu ta sẽ không thể biết được Peter là người đã viết cho tôi, mà Peter lại là một trong những người nhất định sẽ quả quyết rằng tôi đã đứng sau vụ đốt Tư gia Robert Frost. Tôi mỉm cười khi nghĩ tới điều này, dù tôi nói với trinh sát Wilson rằng, “Tôi có cười đâu.”
“Kể từ lúc anh chuyển về nhà bố mẹ,” trinh sát Wilson nói, “chuyện xấu liên tiếp xảy ra.”
“Cái này thì đúng.”
“Lẽ ra anh không nên chuyển về đây,” cậu ta nói. Rồi cậu ta còn nói một chặp nữa, nhưng lại một lần nữa bị tôi bỏ ngoài tai. Tôi đang bận nghĩ ngợi về những gì cậu ta vừa nói - Lẽ ra anh không nên chuyển về đây - y hệt như câu Deirdre nói với tôi sáng nay. Như mọi thám tử đều biết, lý luận của người gây án và lý luận phá án luôn có điểm tương đồng, và nếu trinh sát Wilson đang cố gắng phá án, thì có khi nào Deirdre là người đã gây án? Liệu có phải bà ta là người đã đốt Dinh thự Edward Bellamy và Dinh thự Mark Twain? Liệu có phải bà ta là người phụ nữ bố tôi khuyên tôi nên đi tìm, là “người phụ nữ khác?” mà ông đã nhắc đến. Bỗng dưng tôi có linh tính - linh tính, tôi chợt nhận ra, là từ dùng sai hoàn toàn, bởi một khi có một linh tính nào đó, lưng người ta sẽ tự động dựng thẳng đứng lên, không gù một chút nào[2].
“Gì thế?” trinh sát Wilson nói. “Sao anh lại ngồi dựng đứng lên như thế?”
“Tôi không sao đâu đừng lo,” tôi đáp. “Cậu còn muốn nói gì với tôi không?”
“Tốt nhất là anh nên thú tội ngay lúc này đi Sam ạ,” cậu ta nói, rồi buông một tiếng thở dài não nề như được rút ra từ tận đáy lòng. “Mọi thứ sẽ tốt hơn rất, rất nhiều.”
“Cho ai?”
“Cho tất cả mọi người,” cậu ta cao giọng nói, vì đó là việc ta thường làm với giọng nói của mình mỗi khi chẳng biết làm gì với nó. “Cứ nói sự thật đi thôi.”
“Như thế sẽ làm cậu cảm thấy tốt hơn,” tôi nói.
“Hả?”
“Không có gì,” tôi đáp. Tất nhiên, tôi đang nhớ tới đám phân tích trái phiếu và mớ lý thuyết của họ về những cuốn hồi ký họ chưa từng viết, và về cuốn sách họ đã viết nhưng lại chẳng khiến họ cảm thấy tốt hơn tí nào vì nó vốn không phải là sự thật, cũng chẳng phải là câu chuyện có thật của bố tôi, thế nên có khi việc tìm kiếm sự thật cũng vô tích sự như việc tìm kiếm sự thật để làm ta cảm thấy tốt hơn. “Tôi phải đi tắm rửa đây,” tôi bảo cậu ta. “Ta kết thúc được chưa nhỉ?”
“Vậy là anh không chịu thú nhận hả,” trinh sát Wilson nói. “Vậy là anh định làm khó mọi thứ lên đấy hả. Anh còn nhăn nhở cái của nợ gì thế?” Rồi cậu ta đứng dậy và chạy phăm phăm ra khỏi nhà trước khi tôi kịp giải thích rằng tôi đang cười vì nghĩ tới mẹ mình. Khi tôi còn nhỏ, bà thường bắt tôi đọc một loạt sách rồi hỏi tôi thật nhiều câu, toàn những câu hóc búa về việc cuốn sách có ý nghĩa thế này thế nọ hay không, và tôi luôn đáp, “Mẹ cứ làm khó mọi thứ lên,” và bà luôn trả lời “Mọi thứ đã khó sẵn rồi,” và tôi sẽ nói câu này với trinh sát Wilson nếu cậu ta còn ở đây.
Vẫn còn kiện phong bao màu nâu. Tôi lật nó lên và mở ra xem. Có phần nằng nặng: tôi khá chắc chắn rằng bên trong là ba ngàn đô của Wesley Mincher. Đúng thế thật - ba cuộn tiền một trăm đô buộc dây thun. Nhưng ngoài ra còn có một mẩu giấy viết tay ghi, “Gặp tôi ở Dinh thự Emily Dickinson lúc nửa đêm.” Nét chữ không quen thuộc. Không phải nét chữ của bố trong danh sách đi chợ, cũng không phải nét chữ của mẹ trong xấp bưu thiếp. Tôi liếc nhìn đồng hồ: mới năm rưỡi chiều. Dư dả thời gian cho tôi tắm rửa, thay quần áo, lái xe tới quán Hoàng tử Sinh viên, rồi đi gặp người bí ẩn - mà linh tính đã nói cho tôi biết đó là ai - lúc nửa đêm ở Dinh thự Emily Dickinson, hoặc chính xác hơn là cái nền đất của nó. Tôi nhét tiền và mảnh giấy vào lại trong bao, uống nốt lon bia rồi đi lên gác để chỉnh đốn lại ngoại hình của mình. Rồi tôi đi xuống nhà, lôi từ trong tủ lạnh ra một lon bia nữa, bước ra khỏi cửa trước, leo lên xe và lái về quán Hoàng tử Sinh viên để tìm mẹ, không hề hay biết rằng tôi sẽ chỉ được nhìn thấy căn nhà của bố mẹ tôi thêm một lần nữa, và đó sẽ là lần cuối cùng mà bất kỳ ai nhìn thấy nó.
❀ ❀ ❀
[1] You Can’t Go Home Again là tên một tiểu thuyết của nhà báo nổi tiếng Thomas Wolfe.
[2] Trong tiếng Anh, từ hunch vừa có nghĩa là linh cảm, vừa có nghĩa là gù.