Khi tôi đến, Camelot đang có tuyết rơi. Tuyết ở đây khác với tuyết ở New Hampshire: ít khắc nghiệt, ít chết chóc và cũng ít đẹp hơn, chỉ là những bông tuyết to bay bay xuống mặt đất, như thể là ta thấy kim tuyến rơi đầy đường nhưng lại chẳng có bóng dáng nào của cuộc diễu hành. Trời không một gợn gió, và lạnh, không phải cái lạnh buốt giá mà là cái lạnh trong lành, tươi tắn, tiếp thêm sinh lực cho ta, khiến cho ta nghĩ rằng lạnh chưa chắc đã không hay. Mặt trời cứ lấp ló sau những áng mây, khiến cho những áng mây và bông tuyết trở nên rực rỡ hơn hẳn những lúc chúng chỉ có một mình. Trên những lối đi không có xe đậu, trong những ngôi nhà gỗ đồ chơi không có đứa trẻ nào chơi, trên thềm nhà không có ai xúc tuyết. Bây giờ là giờ ăn trưa của một ngày trong tuần. Không có khi nào và không có nơi nào yên ả hơn Camelot trong giờ ăn trưa của một ngày trong tuần, nhưng hôm nay có vẻ còn yên ả hơn thường lệ. Tôi cảm thấy như mình đang bị kéo tới tương lai của nhiều năm về sau, và đang tham quan một khu đô thị được bảo tồn, không phải nơi người ta sinh sống mà là nơi để hàng đoàn hàng đoàn học sinh đi xe buýt đến và xem xem con người đã từng sinh sống ra sao và ở một nơi như thế nào trước khi di cư sang một nơi khác.
Tôi đã nói ở trên rằng không có dấu vết gì của xe cộ, nhưng điều này không hoàn toàn đúng. Có chiếc của tôi, dĩ nhiên, và trên lối đi nhà tôi là chiếc xe của bố vợ tôi cùng chiếc xe của Anne Marie. Không thấy bóng dáng chiếc Jeep của Thomas Coleman đâu cả. Còn Katherine , hẳn đang ở trường; Christian hẳn đang ăn trưa. Thằng bé thuộc cái kiểu ăn uống chăm chú và không thể tập trung vào cái gì khác ngoài sữa và những chiếc bánh kẹp mà cu cậu phải chén sạch. Đây là giây phút quyết định của tôi: nếu ông Mirabelli đã kể với Anne Marie những gì ông nhìn thấy, thì tôi sẽ thanh minh, sẽ giải thích mọi thứ; còn nếu ông chưa kể, thì tôi sẽ tự kể. Tôi uống nốt lon bia, vứt nó ra đằng sau xe, xuống xe và bước tới cửa trước. Đây là cơ hội cuối cùng của tôi: tôi biết rõ điều này vì khuôn mặt tôi không đỏ bừng lên mà lại lạnh như băng, như thể nó đang chuẩn bị để trở thành một khuôn mặt khác cho một cuộc sống khác.
Tôi gõ cửa và đợi. Tuyết ngừng rơi trong chốc lát như thể đang cùng tôi chờ đợi; mặt trời rọi xuống vai tôi theo cái cách nó chưa từng làm bao giờ, hệt như trong Kinh Thánh, khi thời tiết tham gia vào câu chuyện để nhấn mạnh cái bi kịch nhân sinh chứ không chỉ để nuôi dưỡng và giết chết những vụ mùa.
Rồi cánh cửa mở ra. Thomas Coleman đứng lù lù ở ngưỡng cửa. Cậu ta xỏ xăng đan da và mặc một chiếc quần baggy kẻ ca rô trắng đen mà những tay lực sĩ cử tạ có thể sẽ khoác ra ngoài bộ đồ tập bó chít người trong cuộc thi Nam vương Hoàn cầu ở San Diego. Cậu ta đang để mình trần, ngực phẳng phiu xương xẩu và chẳng qua chỉ là một phiên bản trên cao của cái bụng; hai đầu vú thì to đến đáng ngạc nhiên và mọc đầy lông, những mảng lông bự chảng màu nâu sậm. Còn trên đầu cậu ta là một chiếc khăn tắm, được cố định lại bởi một sợi dây thừng dày cui. Cậu ta nhoẻn cười, bước một bước tới gần tôi, và tôi lấy hết sức bình sinh thụi cho cậu ta một quả vào hàm mà tôi phải thú nhận là không được mạnh cho lắm: nắm tay tôi khi đụng phải xương hàm gã chỉ tạo ra được một tiếng thịch thay vì một tiếng rắc. Thomas ngã dập mông xuống sàn; gã ngồi đó xoa xoa hàm nhưng vẫn nhoẻn cười nhìn tôi. Đây là lần đầu tiên tôi thụi một ai đó và đấy đúng là cảm giác ít thỏa mãn nhất trên đời, và lập tức tôi hiểu ra rằng bị thương bao giờ cũng hơn là đả thương người khác, một chân lý nữa mà tôi sẽ đưa vào cẩm nang đốt nhà. Gandhi cũng hiểu rõ điều này, cho tới khi có kẻ bắn ngài trọng thương và ngài qua đời, một minh chứng cho thấy rằng bao giờ cũng có ngoại lệ, khiến ta tự hỏi thế thì có luật lệ làm gì cho mất công.
Thomas lồm cồm bò dậy rồi đứng lên, miệng vẫn nở nụ cười, còn hai tay khoanh trước ngực, và cuối cùng tôi cũng đặt câu hỏi về bộ y phục kỳ dị của cậu ta.
“Cậu ăn mặc kiểu gì đấy?” tôi hỏi.
“Boola, boola, boola,” cậu ta đáp.
“Ôi, không,” tôi nói.
“Boola, boola, boola,” cậu ta lặp lại, như thể là một tín đồ đạo Hồi đang giục giã những tín đồ khác cùng cầu nguyện.
Nhưng đó hẳn là những gì cậu ta đã làm, giờ thì tôi có thể nói vậy, và tôi hiểu chính xác chuyện gì đang diễn ra. Nhà Mirabelli mang trong mình dòng máu đa cảm và hoài niệm, tức là không những họ tìm thấy sự an ủi từ quá khứ mà họ còn thường tái tạo lại những sự an ủi đó bất cứ khi nào họ cần đến chúng trong thời điểm hiện tại. Chẳng hạn như là hồi nhỏ, Anne Marie có một dạo dài đi đâu cũng mặc chiếc váy ba lê của mình, một chiếc váy mà nàng đã rất gắn bó. Rồi khi chúng tôi mới chuyển tới Camelot, và Anne Marie gặp vấn đề với độ mỏng của những bức tường, một đêm nọ bố mẹ nàng đã mặc váy ba lê tới thăm chúng tôi và điều đó không hiểu sao đã khiến nàng cảm thấy dễ chịu hơn, như thể độ mỏng của những bức tường có thể được bù đắp bằng độ dày của quá khứ. Như thể tưởng nhớ quá khứ không thôi thì chưa đủ; như thể ta phải tái hiện nó thì mới có tác dụng. Rồi một lần khác, ngay trước khi Katherine chào đời, Anne Marie gặp một vài vấn đề trong quá trình mang thai, mà cụ thể là tim thai đập không ổn định, và nàng phải vào viện mất vài ngày. Để động viên nàng, và vì Ben Franklin vốn là người cha sáng lập đất nước được nàng yêu thích nhất thời còn đi học, ông Mirabelli đã tới thăm nàng trong diện mạo của Ben Franklin, với mục kỉnh, quần chẽn, con diều và cuốn niên giám, còn khi đến lượt bà Mirabelli vào chăm con gái thì bà hóa trang thành phu nhân Franklin hoặc một bà đầm Pháp lố lăng. Đã có rất nhiều những phút giây tuổi thơ như thế này, nhiều không kể xiết, và một trong số đó là chuyến đi đến Marocco, chuyến du lịch nước ngoài duy nhất của gia đình Mirabelli, nơi họ đã nghe thấy những người đạo Hồi giục giã nhau, và là nguồn cơn của những gì đang diễn ra trong buổi trưa ngày hôm nay ở Camelot. Tôi đã luôn tham dự những màn tái hiện quá khứ này - đã từng mặc váy ba lê và hóa trang thành Sam Adams hoặc John Adams gì đó, cái ông béo hơn ấy - cho đến giờ.
“Hãy xê ra nào,” tôi nói, rồi băng qua Thomas để vào nhà, đi qua phòng khách trống không và tiến vào phòng ăn. Bàn ăn hôm nay thấp hơn bình thường, và được kê trên bốn khối xếp hình của Christian, chân bàn đã được tháo ra và vứt ở góc phòng, như một đống củi đang chờ vào lò sưởi. Tấm khăn trải bàn màu trắng có viền ren đã được thay thế bằng một tấm khăn có họa tiết phức tạp theo kiểu của Trung Đông. Trên bàn là mấy cái đĩa đang được đậy điệm cẩn thận và đang đựng những món ăn mà tôi đoán là cũng chẳng dễ nuốt gì (nhà Mirabelli vốn không được biết đến với kỹ năng bếp núc). Ngoài tôi ra, bà Mirabelli là người duy nhất đang ở trong phòng; bất chấp chứng viêm khớp, bà vẫn ngồi xếp bằng trên sàn, và trên người đang bận một chiếc áo burka[1] trắng tự làm, thực chất chỉ là một tấm ga trải giường phủ lên người, che kín cả mái tóc cùng hai tai và chỉ khoét ra một lỗ cho đôi mắt. Bà đã tháo từng mũi chỉ và khâu lại từng mũi chỉ của một cái khăn ăn hoặc khăn tay bằng ren để làm mạng che mặt; khi nghe thấy tôi bước vào, bà nhấc tấm mạng tự làm lên, nhìn tôi theo cách một bà mẹ vợ nhìn anh con rể lầm lỗi - một cái nhìn đan xen giữa lòng thương hại và nỗi căm hận - rồi lại buông tấm mạng xuống.
“Ái chà, xem ai đến thế này,” bố vợ tôi lên tiếng khi ông bước vào phòng. Ông Mirabelli ăn mặc như thủ lĩnh của một băng nhóm đạo Hồi cực đoan: ông khoác một chiếc áo quân đội màu xanh, một cái áo trắng dài thượt hẳn đã được lấy trộm từ một bệnh viện nào đó, và một chiếc khăn kẻ ca rô trắng đỏ quấn quanh đầu với mấy cái vạt khăn đổ dài xuống lưng. Tất cả những gì ông thiếu là một khẩu súng máy sản xuất từ Nga, một điều mà, xét trong trường hợp này, tôi thấy thật may cho mình. Bàn tay trái của ông đang đặt trên vai Christian. Christian cũng đang ăn vận giống Thomas - quần chạy bộ và để mình trần - duy có chiếc khăn tắm thì được thằng bé cầm trên tay trái thay vì trùm trên đầu, như thể cu cậu không muốn hóa trang đến nơi đến chốn. Hoặc cu cậu chỉ đơn giản là vừa đánh đổ cái gì đó, như vẫn thường làm, và tận dụng luôn cái khăn để lau.
“Xin chào anh bạn,” tôi nói với thằng bé. Cu cậu nặn ra một nụ cười gượng; đưa bàn tay lên ngang hông và vẫy vẫy một cách ngượng ngùng, lén lút, rồi ngồi xuống cạnh bà ngoại.
“Xin chào ông Mirabelli,” tôi quay sang chào bố vợ, như thể đang tự giới thiệu bản thân lần đầu. Mà trong mắt ông thì có khi là thế thật.
“Xà lách trộn!” ông gọi to rồi ngồi xuống kế bên Christian. Thằng bé đột nhiên liếc sang tôi với vẻ hốt hoảng, như những đứa trẻ thường làm mỗi khi không biết nên cười hay nên sợ.
“Ai cơ?” tôi thắc mắc. “Cái gì cơ?”
“Xà Lách Trộn, ngồi vào bàn cùng cả nhà đi,” bố vợ tôi nói. “Đến giờ ăn tối rồi.”
“Boola, boola, boola,” Thomas vừa nói vừa bước vào phòng và ngồi xuống đầu bàn, chỗ tôi thường ngồi. Thật khó để không nhìn ra điều này có nghĩa là gì, và tôi nhìn ra ngay; chỉ có điều là ngay lúc đó tôi đã không thể tập trung toàn bộ trí óc và sự giận dữ vào chuyện đó được.
“Bố vừa gọi con là Xà Lách Trộn đấy ạ?” tôi hỏi bố vợ. Nếu đây là tên thân mật của tôi, thì tôi chưa từng được nghe qua bao giờ. Nhà Mirabelli xưa nay có bao giờ chuộng cái trò đặt tên thân mật cho nhau đâu, kể cả việc gọi tắt tên cũng chẳng có ở họ, có thể bởi tên Anne mà thiếu đi Marie thì hỏng hết cả, và tên bà Mirabelli -Louisa - sẽ hóa thành tên đàn ông nếu ta gọi tắt đi, còn tên ông Mirabelli là Christian, nếu ta gọi tắt cái tên này thì lại thành không tôn trọng Đấng Cứu rỗi.
“Ta chẳng gọi anh là Xà Lách Trộn thì còn gọi anh là gì nữa, hả Xà Lách Trộn?” ông Mirabelli đáp, rồi nở một nụ cười chẳng lấy gì làm vui vẻ và ra dấu về một chỗ trống ở bàn, đối diện với ông, có sắp sẵn đĩa, nĩa và khăn ăn. Tôi đoán chỗ này vốn dành cho Anne Marie chứ không phải tôi.
“Anne Marie đâu rồi ạ?” tôi hỏi rồi ngồi bệt xuống sàn, đầu gối kêu răng rắc và mông dập đánh bịch một cái, vừa đúng lúc lò sưởi ga trong phòng đột ngột cháy phừng lên, cứ như thể hành động ngồi xuống của tôi là Moses còn cái lò sưởi thì là bụi gai. Ông Mirabelli giơ chiếc điều khiển lò sưởi lên, nhét nó vào trong cái áo quân đội màu xanh như nhét vũ khí và nói, “Xà Lách Trộn, làm ơn chuyển đĩa couscous sang cho ta.” Món couscous, với nguyên liệu chính là gạo chứ không phải couscous, và là loại cơm ăn liền của hãng Uncle Bens, ở gần Thomas hơn tôi, nhưng tôi vẫn cứ làm theo: tôi nhổm người lên, tay trái đặt lên mặt bàn làm trụ rồi với tay phải về phía chiếc đĩa. Nhưng sức nặng của tôi đã vượt quá giới hạn chịu đựng của chiếc bàn bị què cả bốn chân: trước khi tôi kịp chạm tới đĩa couscous, góc bàn nơi tôi ngồi trượt khỏi khối xếp hình và rơi xuống mặt sàn gỗ, khiến cho đống đĩa, cốc và tất cả mọi thứ, ngoại trừ món couscous, từ từ đổ về phía tôi cứ như quân lính tấn công một lâu đài cố thủ.
“Ôi con xin lỗi,” tôi mò mẫm tìm kiếm cho tới khi sờ thấy khối xếp hình, kê nó lại dưới góc bàn và sắp lại mọi thứ trên bàn đâu vào đấy.
“Không vấn đề gì,” ông Mirabelli nói. “Cuộc sống trong thành cổ Casbah là thế đấy!”
Tới đây thì Thomas kêu thêm vài lần “boola, boola” nữa, còn bà Mirabelli đưa tay lắc chũm chọe và kể lại cái lần ở Marocco, khi ông Mirabelli đã trả hớ một đống tiền để mỗi người nhà họ lần lượt cưỡi trên một con vật được quảng cáo là lạc đà nhưng lại chẳng phải là lạc đà.
“Con thành thật xin lỗi về mọi thứ,” tôi nói, khi bầu không khí náo nhiệt đã lắng xuống chút ít. Khi nói câu này với ông Mirabelli, tôi đã cố tình nói đủ to cho mọi người đều nghe thấy, phòng khi ông đã kịp kể cho họ nghe về cảnh tượng ông bắt gặp ở New Hampshire. Và khi tôi xin lỗi về mọi thứ, ấy cũng là tôi xin lỗi mọi người, trừ Thomas, lúc này đang ngồi ở đầu bàn bên kia đút cơm vào miệng với vẻ khoái chí. Giờ tôi lại tiếc mình đã không hỏi cậu ta vài câu trước khi chạy vào nhà - về những gì cậu ta đã kể với nhà Mirabelli, về những thứ họ đã biết và chưa biết về quá khứ và hiện tại của tôi.
“Ta chẳng hiểu anh đang nói về điều gì, Xà Lách Trộn ạ,” ông Mirabelli nhã nhặn nói.
“Về chuyện xảy ra ở New Hampshire ấy,” tôi nói. Vì tôi đồ rằng đây là một phần trong kế hoạch của ông: ông muốn tôi tự thú về những việc sai trái mình đã làm thay vì để ông phải nói ra. Đây là một chiêu dạy con cái: bất cứ khi nào Katherine hoặc Christian làm gì sai trái, vợ chồng tôi luôn luôn buộc chúng phải tự chỉ ra mình đã phạm lỗi gì trước khi chịu hình phạt, như một món khai vị của cái món chính là hình phạt.
“New Hampshire à,” ông Mirabelli đáp. “Anh nhắc ta mới nhớ, Xà Lách Trộn ạ. Ta đã từng có lần bám đuôi một anh chàng đến New Hampshire đấy.”
“Thomas đã nói với bố rằng con đang đến đó,” tôi nói, rồi bắn một tia nhìn mà tôi mong là đủ giận dữ về phía Thomas. Nhưng dường như cậu ta chẳng quan tâm đến những gì đang xảy ra xung quanh, vẻ hài lòng tuyệt đối vẫn chưa biến mất khỏi gương mặt Thomas, rõ ràng là cậu ta rất hạnh phúc khi được phép ngồi đầu bàn mà hô, “Boola, boola, boola,” vào những thời điểm thích hợp và hành xử như mình thuộc về nơi này.
“Ta chẳng cần người khác dạy cho cách bám đuôi,” ông Mirabelli đáp. Giờ tôi mới nhớ ra rằng ông bố vợ tôi vốn hành nghề thẩm định bảo hiểm suốt ba mươi năm liền và việc bám đuôi, theo dõi người khác là cần câu cơm của ông. Không, ông Mirabelli hẳn là đã chẳng cần tới Thomas để bám theo tôi tới New Hampshire, nhưng tôi cược là trinh sát Wilson thì cần. Và tôi cũng cược rằng Thomas đã giúp cậu ấy.
“New Hampshire lạnh thật,” ông Mirabelli nói. “Ta không thích nó lắm.”
“Con biết,” tôi nói.
“Anh cũng biết à?” ông nói. “Làm sao anh biết, hả Xà Lách Trộn?”
“Con biết đấy là nơi bố bắt gặp con hôn người phụ nữ đó.”
“Anh hôn một phụ nữ cơ à, Xà Lách Trộn?”
“Con còn chẳng biết tên cô ấy,” tôi thú nhận.
“Với ta thì việc anh hôn ai nào có quan trọng, Xà Lách Trộn.” Ông Mirabelli nói với một giọng thờ ơ đến mức nó chẳng có vẻ gì là thờ ơ, như thể ông đã tập nói đi nói lại câu này trước gương trước khi tôi đến. “Có ai ở đây thấy điều đó là quan trọng không?”
Tất cả, kể cả Christian, đều lắc đầu để tỏ ra mình chẳng quan tâm xem tôi hôn ai, một hành động mà nếu đặt trong một hoàn cảnh khác thì hẳn đã được coi là tử tế và giúp tôi trút được gánh nặng. Thomas tự xúc thêm một muỗng đầy cơm. Bà Mirabelli lật mạng lên, với tay lấy đĩa đậu gà ướt, múc ra ba hạt, rồi hẳn là vì nghĩ tới vóc dáng của mình nên bà bỏ hai hạt vào lại đĩa và cho hạt còn lại vào miệng, rồi chầm chậm mút như thể nó là một viên kẹo dẻo mềm. Christian thì ngồi đó, miệng há hốc ra, một tay cầm khăn tắm như đang sẵn sàng lau sạch vệt dãi có thể sẽ chảy ra từ cái miệng há hốc của mình.
“Trong mắt bọn ta,” ông Mirabelli nói, “anh muốn hôn ai thì tùy anh, Xà Lách Trộn ạ.”
“Trừ bọn ta ra,” bà Mirabelli nói.
“Anh có thể hôn bất kỳ ai trừ bọn ta ra, Xà Lách Trộn ạ,” ông Mirabelli nói. “Hẳn nhiên là việc hôn hít cũng có giới hạn của nó, Xà lách trộn nhỉ.”
“Tại sao bố cứ gọi con bằng cái tên đó thế?” tôi hỏi, mắt liếc về phía Christian: cái khăn giờ đã biến đi đâu mất, nhưng thằng bé vẫn còn nguyên cái vẻ rối bời, như thể mọi thứ đang diễn ra ở một nơi cu cậu dù nghe thấy, nhìn thấy nhưng lại chẳng hiểu cóc khô gì.
“Ta chẳng biết gọi anh bằng tên nào khác nữa, Xà Lách Trộn ạ,” ông Mirabelli nói.
“Tên của con ấy,” tôi nói. “Sam!”
“Ai cơ?” ông hỏi, rồi quay sang nhìn Thomas rồi nhìn bà vợ và cháu ngoại của mình, và mỗi người đều lần lượt hỏi lại, “Ai nhỉ? Ai nhỉ? Ai nhỉ?” như những con cú tọc mạch, kể cả là Christian, mặc dù tôi không thể và sẽ không đổ lỗi cho thằng bé, vì làm gì có đứa trẻ nào không thích bắt chước những tiếng kêu của thú vật? Đến lúc cả bàn đã hỏi xong xem “Sam” là ai thì chính bản thân tôi cũng bắt đầu tự hỏi mình là ai. Có lẽ, đến giờ thì tôi đã hiểu, đó chính là vấn đề - rằng tôi không còn là một đứa con rể trong mắt họ nữa, mà chỉ là một người lạ hoắc với một cái tên lạ hoắc - và cũng như với mọi vấn đề, tôi bắt đầu tiếc nuối cái khoảng thời gian, hay nói chính xác hơn là một vài phút trước, khi tôi còn chưa hiểu ra vấn đề.
“Anne Marie đi đâu rồi ạ?” tôi hỏi. “Con cần nói chuyện với cô ấy.”
“Trước khi anh tới bọn ta đang nhắc tới con bé,” bố vợ tôi nói.
“Nhắc tới chuyện gì cơ?”
“Rằng con bé thật kiên cường,” ông đáp.
“Vâng,” tôi đồng ý với lời ông nói, nhưng trong bụng hơi rờn rợn.
“Hôm nay con bé nhận được một tin xấu, Xà Lách Trộn ạ,” ông đáp, và tất nhiên tôi biết đích xác cái tin xấu đó là gì, và ai là người đưa tin cho nàng. “Nó nhận được một tin xấu, nhưng nó rất kiên cường. Nó sẽ vượt qua thôi. Sẽ tiếp tục tiến bước. Như nó đã và đang làm.”
“Con sẽ quay lại ngay,” tôi nói, rồi bước vào bếp gọi toáng lên, “Anne Marie! Anne Marie!” nhưng chẳng có gì trong đó ngoài những viên gạch nung, cửa sổ hai cánh, bếp lò chất lượng cao như của nhà hàng, cùng chiếc tủ lạnh kiêm tủ đá bằng titan. Tôi quay lại phòng ăn và tiến tới chân cầu thang. “Anne Marie!” tôi vừa gọi vừa leo lên cầu thang, và ngó vào phòng ngủ của chúng tôi, phòng ngủ của lũ trẻ, phòng tắm ngoài hành lang, phòng dành cho khách mà trước giờ chưa có ai dùng, rồi quay lại phòng tắm ngoài hành lang và phòng ngủ của chúng tôi. Thậm chí tôi còn mở cả cánh cửa dẫn lên gác xép trên trần và hét vào gác xép, “Anne Marie!” và được đáp trả bởi một đám mưa bụi mà tôi coi như là cách ngôi nhà muốn bảo tôi, Cô ấy không có ở đây. Vợ anh không có ở đây.
“Cô ấy đi đâu rồi?” tôi gặng hỏi ông bà nhạc trên lối đi xuống cầu thang và vào phòng ăn. “Cô ấy phải ở đây chứ. Xe cô ấy còn đậu ngoài kia. Cô ấy đi đâu rồi?” “Ai đi đâu cơ?” bố vợ tôi hỏi. Rồi trước khi tôi kịp nói gì, vẻ thờ ơ của ông biến mất trong giây lát khi ông nói, “Đó đếch phải việc của anh nữa mà quan tâm.” Rồi ông hồi tỉnh và chỉnh lại cái mặt nạ và nói thêm, “Xà Lách Trộn ạ.”
“Thomas, cô ấy đi đâu rồi?” tôi quay sang cậu ta.
Cậu ta đã thôi nhăn nhở cười, đã thôi thốt lên “boola, boola”. Nhìn cậu ta có vẻ bất an hơn là hài lòng, như thể vị trí trên bàn ăn của cậu ta đang bị lung lay. Thomas lắc đầu đầy nghiêm trọng, môi mím chặt, thể hiện rõ ra rằng một trong những khác biệt lớn nhất giữa cậu ta và tôi là việc tôi đang mở miệng nói còn cậu ta thì đủ thông minh để giữ yên lặng.
“Louisa Mirabelli, xin mẹ,” tôi nài nỉ. Bà vốn là một tình nguyện viên năng nổ của hầu hết các tổ chức từ thiện Công giáo trong vùng, nên tôi hy vọng bà sẽ thương hại mà đưa tôi vào danh sách những kẻ khốn khổ cần sự giúp đỡ của bà. Bà hít vào và thở ra nặng nề, chiếc mạng phập phùng theo từng nhịp thở, nhưng chẳng có từ nào được thốt ra.
Nên tôi bèn quay sang Christian. Thằng bé là hy vọng duy nhất của tôi trong căn phòng này, trong căn nhà này. Lúc này cái khăn tắm đã quấn quanh đầu cu cậu, mấy cái vạt phủ xuống tận cổ và trùm qua hai tai. Trông cu cậu nhỏ bé, sợ sệt và lo lắng khi ngồi giữa ông và bà ngoại: cu cậu không biết có nên nhìn vào mắt tôi không, cũng không biết lý do tại sao mình lại đang phân vân, nhưng lại biết rõ mẹ mình hiện đang ở đâu.
“Mẹ đi thăm bà,” thằng bé nói với tôi.
“Nhưng bà ở đây cơ mà,” tôi nói
“Không, bà khác cơ,” thằng bé nói. “Con lại có thêm một bà nữa hả bố?”
Làm sao để miêu tả cái cách thằng bé hỏi câu này? Làm sao để miêu tả cảnh một thằng bé năm tuổi phát hiện ra mình có tới hai cặp ông bà chứ không phải một? Làm sao để miêu tả một cậu con trai của một ông bố đã nói dối rằng bố mẹ mình đã chết trong bao nhiêu năm trời? Và làm sao để miêu tả một ông bố chưa một lần nghĩ rằng việc giết chết bố mẹ mình cũng đồng nghĩa với việc giết chết ông bà nội của con cái mình?
“Ôi Christian,” tôi nói, “bố xin lỗi, anh bạn nhỏ.” Và rồi, như ta đều biết, một câu xin lỗi nào có đủ, nên nước mắt tôi lã chã tuôn rơi để chứng tỏ tôi thành thực hối lỗi thế nào, tôi cứ khóc, khóc và khóc, vừa khóc vừa lần tay khắp người để tìm xem có chiếc khăn tay nào không mà chẳng có. Thế là Christian kéo chiếc khăn trên đầu xuống và đưa cho tôi lau mặt.
“Cám ơn anh bạn,” tôi nói.
“Con đi xem ti vi được rồi chứ?” thằng bé hỏi với một cung cách như được học từ ông bà ngoại hoặc trên ti vi, vì tôi có dạy nó thế đâu.
“Được rồi,” tôi nói, rồi thằng bé đi khỏi phòng để lại mỗi cái khăn cho tôi bấu víu, khiến tôi càng khóc tợn hơn. Tất cả những giọt nước mắt chắc hẳn đã làm trái tim ông bà Mirabelli mềm đi chút ít, mặc dù có lẽ tốt hơn là không nên như vậy: sẽ thoải mái hơn cho tôi khi nhớ đến họ như là những kẻ gàn dở thích hóa trang và có trái tim hóa đá thay vì là những nhạc phụ nhạc mẫu có trái tim hóa đá được làm dịu lại bởi chính cái người đã khiến chúng hóa đá, cái người sẽ sớm là một phần của quá khứ, cái phần quá khứ mà họ sẽ không bao giờ muốn tái hiện lại.
“Này Xà Lách Trộn, sao anh không ngồi xuống mà ăn miếng cơm,” bố vợ tôi nói khẽ. “Mọi thứ dường như đều tốt hơn khi ta no bụng.”
“Vâng chắc thế ạ,” tôi đáp, và quay lại chỗ ngồi ở tít phía kia của bàn ăn, nhưng ông lại nói. “Anh ngồi xa thế, sao không lại đây,” rồi vỗ vỗ vào chỗ của Christian. Cả hai ông bà đều nhích ra để chừa chỗ cho tôi.
“Bố chắc chứ?” tôi hỏi.
“Ừ,” ông đáp. “Nhưng hãy quấn khăn của thằng bé lên đầu đi.”
Tôi quấn chiếc khăn lên đầu và ngồi vào giữa ông bà nhạc, rồi tất cả đều ăn thật chậm rãi trong yên lặng, theo đúng tinh thần của bữa ăn cuối cùng. Tôi muốn hỏi thật nhiều câu. Nếu mọi người đều ăn mặc thế này vì Anne Marie, thì sao nàng lại không ở đây? Chính xác thì Thomas đã nói những gì với họ, và nói khi nào? Có phải cậu ta đã tiết lộ cho họ biết về bố mẹ tôi, hay tự ông Mirabelli phát hiện ra? Nhưng cái kiểu im lặng này lại dễ chịu hơn là những lời sẽ phá vỡ nó. Ngoài ra, tôi có cảm giác rằng một khi sự im lặng bị phá vỡ, bữa ăn sẽ kết thúc ngay và tôi sẽ bị mời ra khỏi nhà. Đây là nhà của tôi, và sẽ lại một lần nữa tôi bị đuổi đi, và sẽ lại một lần nữa tôi nghe theo. Có một số người đàn ông sẽ quyết không rời nhà mình, nhưng tôi không nằm trong số đó. Tôi đã từ bỏ cái quyền đó của mình, giống như một số kẻ tội phạm đã từ bỏ quyền được im lặng của họ.
Nhưng dù chúng tôi có im lặng đến mức nào đi nữa thì đồ ăn cũng được chén hết và bữa ăn cũng kết thúc. Bà Mirabelli đứng dậy thu dọn chén đĩa, với sự trợ giúp của Thomas, để lại tôi và ông Mirabelli trong phòng với nhau.
“Mirabelli, con có thể hỏi bố một câu không?”
“Được chứ, Xà Lách Trộn.”
“Tại sao cả nhà lại ăn mặc thế này nếu Anne Marie không có ở đây?”
“Con bé đã ở đây,” ông đáp, “nhưng ngay trước khi chúng ta ngồi xuống ăn thì nó nói nó muốn qua nhà của mẹ anh. Và nó nói rằng tất cả những thứ này,” ông xoa xoa bộ đồ hóa trang, “đều thật nực cười.”
“Cô ấy nói vậy à?”
“ ‘Con không còn là một đứa trẻ nữa’ đó là những lời con bé nói.” Tôi có thể thấy rằng đây là điều buồn bã nhất đã từng xảy ra với ông Mirabelli. Đôi mắt ông mờ đi và ầng ậc nước; ông nhắm mắt lại, tháo kính ra, và vuốt sống mũi trong vài giây. Rồi ông đeo kính lại và mở mắt ra, lúc này đã lại khô ráo như cũ. “Ta rất tiếc nhưng đã đến giờ anh phải đi rồi, Xà Lách Trộn,” ông nói. “Ta cảm thấy như chúng ta chưa mấy hiểu anh, nhưng đã đến giờ anh phải đi rồi.”
“Con cũng rất tiếc,” tôi nói.
“Mọi người đều tiếc,” ông đặt tay lên vai tôi. “Anh nên đi chào tạm biệt thằng nhóc đi.”
“Vâng,” tôi đáp, rồi im lặng đứng dậy và bước vào phòng ti vi. Christian đang nằm trên chiếc tràng kỷ đặt trước ti vi. Thằng bé đang ngủ, một nửa đầu đã bị che khuất bởi cánh tay nó, và tôi nghe thấy tiếng hơi thở ngọt ngào của thằng bé tràn ra khỏi bờ môi. Tôi yêu thằng bé. Tôi yêu thằng bé quá nhiều để có thể nói lời chào tạm biệt. Không bao giờ ta nên chào tạm biệt con cái của mình, không phải vì ảnh hưởng của hành động đó tới chúng, mà là vì ảnh hưởng của nó tới chính ta. Nên tôi không chào Christian mà rút chiếc khăn xuống, phủ lên người thằng bé làm chăn, rồi khẽ hôn lên trán nó. Cu cậu xoay người và rên rỉ trong giấc ngủ, còn tôi rón rén quay ra khỏi phòng trước khi cu cậu thức giấc. Trên lối ra khỏi nhà, tôi bước ngang qua phòng ăn. Thomas không có ở đó, nhưng ông bà Mirabelli thì đang ngồi bên bàn uống cà phê và trò chuyện về cái lần ở Marocco khi anh chàng hướng dẫn viên du lịch hỏi họ đã bao giờ thử hút hookah chưa, nhưng họ lại nghe nhầm sang thành “hooker”. Sau nhiều năm chưng cất, câu chuyện ấy đã trở nên tức cười hơn rất nhiều so với cái lúc nó diễn ra. Ông Mirabelli thậm chí còn đưa chiếc khăn tắm lên che mặt vì cười quá hăng, và tôi lợi dụng giây phút ông không nhìn thấy gì để mở cửa và bỏ gia đình Mirabelli cùng căn nhà Camelot sau lưng.
Thomas đứng bên ngoài đợi tôi, lưng tựa vào xe của tôi, tay khoanh trước ngực. Chắc hẳn cậu ta phải thấy lạnh lắm: giờ tuyết đã rơi mạnh hơn, rặng phong còi cọc được trồng dọc theo đường Hyannisport thì đang gập mình và chao đi chao lại theo từng luồng gió thổi. Lúc ở trong nhà, với bộ y phục của mình, Thomas trông như thể là thuộc về nơi này; nhưng ra đến bên ngoài, cậu ta trông như một kẻ ngốc không biết đường mà mặc thêm áo khi đứng giữa cơn bão tuyết. Lúc ở trong nhà cậu ta gần như câm lặng, nên tôi hy vọng ra đến bên ngoài cậu ta sẽ trả lời một vài câu hỏi của tôi.
“Có phải cậu đốt Dinh thự Mark Twain không?” tôi hỏi.
“Không,” cậu ta đáp.
“Tôi chẳng tin,” tôi nói. “Thế vết bỏng trên tay cậu ở đâu ra?”
Thomas rút tay ra khỏi nách cho tôi xem. Trên bàn tay phải của cậu ta là một vết bỏng: to cỡ đồng hai mươi lăm xu, đỏ tấy ở rìa vết thương, và đã bắt đầu đóng vảy. “Do cái bếp nhà anh đấy,” cậu ta đáp. “Anh phải sửa nó đi chứ.”
“Tôi đã sửa rồi mà,” tôi biết cậu ta đang nhắc tới cái gì. Một hay hai năm trước, một bên bếp tự dưng không tỏa sức nóng như ba cái còn lại. Anne Marie bảo tôi rằng chẳng quan trọng lắm và cứ kệ nó đi. Nhưng tôi không nghe lời, và cứ nghĩ rằng sửa nó không khó. Tôi đồ rằng có một sợi dây bị lỏng bên trong, nên thò tay vào trong, tháo hết dây ra và nối chúng lại vào mạch, hoặc ít ra là tôi nghĩ mình đã làm vậy. Vì trên thực tế, tôi đã nối nhầm đám dây khiến cho cái bếp bên trái ở đằng trong đã tịt ngòi luôn, và khi vặn nút của cái bếp đó thì cái bếp bên trái ở đằng trước sẽ cháy. Cho nên ai mà không biết điều đó sẽ rất dễ bị bỏng. Tôi đã hứa với Anne Marie sẽ sửa lại nó, nhưng tôi chưa kịp sửa. Chẳng có cơ hội để sửa. “Thế cậu thật sự không đốt Dinh thự Mark Twain à?” tôi hỏi.
“Không. Tôi cũng khai với trinh sát Wilson như thế.”
“Đó là trước khi cậu nói với cậu ấy là tôi đang trên đường tới New Hampshire đúng không?”
“Đúng,” Thomas đáp, răng đã bắt đầu lập cập. Cậu ta lại khoanh tay vào nách để trốn cái lạnh.
“Và trinh sát Wilson tin lời cậu à?”
“Tôi có bằng chứng ngoại phạm,” Thomas chỉ vào trong nhà. “Đêm đó tôi ở đây.”
“Suốt đêm?” tôi hỏi, nhưng chẳng muốn nghe câu trả lời. Tim tôi như sắp bật tung khỏi lồng ngực. Suýt nữa thì tôi cởi phăng áo ra để cái lạnh làm tê đi sự đau đớn và thuyết phục quả tim nằm yên vị trong ổ của mình.
“Suốt đêm,” cậu ta đáp.
“Tôi không tin cậu,” tôi nói. “Cậu nói với Marie Anne rằng cậu đã nói dối cô ấy về chuyện tôi ngoại tình, thế mà cô ấy vẫn để cho cậu ở lại suốt đêm hay sao? Sao cô ấy lại làm thế? Chẳng lẽ cô ấy lại không muốn biết tại sao cậu lại nói dối à?”
“Tất nhiên là có chứ,” Thomas nói, “Cô ấy hỏi vì cái quái gì mà giữa bao nhiêu là người, tôi lại chọn anh để đặt điều.”
“Ôi, không,” tôi thốt lên.
“Một câu hỏi xuất sắc,” Thomas thừa nhận. “Xứng đáng có được một câu trả lời xuất sắc.”
“Ôi, không,” tôi lặp lại.
“Nên tôi bảo cô ấy rằng tôi làm vậy để trả thù việc anh đã giết bố mẹ tôi.”
“Cậu đã nói sự thật cho cô ấy biết,” tôi nói.
“Đúng vậy,” cậu ta nói với vẻ rất đỗi tự hào, như thể sự thật là một thứ cậu ta không bao giờ dám nghĩ mình có thể nói ra được. “Nhưng ban đầu cô ấy không chịu tin tôi. Ngay cả khi tôi kể lại từng chi tiết cho cô ấy về Dinh thự Emily Dickinson và đám cháy, về việc anh đi tù nữa, cô ấy vẫn không tin.”
“Cô ấy không tin?”
“Không, cô ấy một mực khăng khăng rằng không khi nào anh lại giấu cô ấy những chuyện như thế. ‘Sam không làm vậy với em đâu’ cô ấy nói thế đấy.” Rồi cậu ta ngưng lại, và tôi thấy sự tự hào đã chuyển thành vẻ bối rối (một điều vẫn thường xảy ra). “Tôi không hiểu lắm. Có vẻ như cô ấy đã thực sự yêu anh đấy.”
“Cô ấy vẫn còn yêu tôi!” tôi nói. “Vẫn còn yêu tôi!”
Thomas chẳng để ý gì, vì những ý nghĩ hão huyền kiểu đó luôn là cái kiểu dễ bị lờ đi nhất. “Nên tôi bảo cô ấy rằng nếu không tin tôi thì có thể đi tìm gặp bố mẹ anh.”
“Ôi không,” tôi thốt lên, bởi nếu cuộc đời này là một bài ca vô tận về hy vọng và hối tiếc, thì “ôi không” hẳn nhiên sẽ là điệp khúc của cả bài, là câu chúng ta cứ chốc chốc lại ngân nga.
“Và đó là lúc cô ấy kể cho tôi những gì anh đã kể cho cô ấy: rằng bố mẹ anh đã qua đời trong một vụ cháy nhà.”
“Để tôi giải thích,” tôi nói. Tôi có thể thấy rõ là cơn giận mức độ nhẹ của cậu ta sắp sửa bùng lên thành một cơn thịnh nộ đầy căm thù, giống như một cơn mưa nhỏ sắp sửa chuyển thành bão lớn.
“Bố mẹ anh bị giết trong một vụ cháy nhà,” cậu ta lặp lại. “Anh muốn kể chuyện hài đấy hả?” Thomas hỏi, rồi bước một bước về phía tôi, rút tay ra khỏi nách và nắm lại thành nắm đấm; trong giây lát tôi cứ ngỡ cậu ta sẽ thụi cho tôi một quả, nhưng không. Có thể Thomas đã học từ sai lầm của tôi hồi nãy, khi tôi thụi cậu ta. Khi thụi ai đó, ta muốn nắm đấm là lời nói cuối cùng. Nhưng thực tế chẳng bao giờ diễn ra như vậy. Và nếu một cú thụi vào mặt không phải là lời cuối cùng, thì cái gì mới là lời cuối cùng? Có phải ta đã sai khi muốn gì không muốn lại muốn có lời cuối cùng? Mà liệu trên đời có tồn tại cái gọi là lời cuối cùng? Và ta phải tìm ở đâu, ôi, phải tìm ở đâu mới ra được người nói lời này?
“Anh giết bố mẹ tôi còn chưa đủ hả?” Thomas chất vấn. “Sao anh lại phải dùng cách đó để giết thêm cả bố mẹ mình nữa?”
“Tôi có giết bố mẹ tôi đâu,” tôi nói. “Chỉ là một câu chuyện thôi Thomas.”
“Câm miệng lại ngay,” cậu ta nói. “Trong câu chuyện đó anh đã giết bố mẹ anh theo đúng cái cách anh đã giết bố mẹ tôi ngoài đời thực.”
“Được rồi, tôi hiểu ý cậu,” tôi hiểu Thomas muốn nói rằng một khi một câu chuyện bi kịch diễn ra với ta, thì ta sẽ được quyền sở hữu nó - câu chuyện về nỗi bi kịch của ta - và chỉ có mình ta mới được quyền làm cái gì đó với nó. Chẳng hạn như viết một cuốn hồi ký về nó. Vâng, tôi đã ăn cắp nỗi đau của Thomas, cũng như đám phân tích trái phiếu nghĩ rằng họ đã ăn cắp nỗi đau của tôi. “Tôi xin lỗi,” tôi nói.
“Xin lỗi làm quái gì,” cậu ta nói. “Anh thì lúc nào chả xin với lỗi.”
Điều này thì hiển nhiên là đúng nên tôi chẳng cảm thấy cần phải xác nhận lại. “Và tôi đoán Anne Marie đã kể với bố mẹ cô ấy những điều này,” tôi nói. “Thế nên ông Mirabelli mới bám theo tôi.”
“Và anh đã hôn hít một phụ nữ không phải vợ mình dưới sự chứng kiến của ông bố vợ,” Thomas nói. “Tôi chẳng cần động tay phá bĩnh gì hết.”
“Mẹ tôi cũng nhìn thấy nữa,” tôi thú nhận.
“Một người đàn bà tội nghiệp,” cậu ta nói.
“Cậu biết bố tôi,” tôi nói. “Cậu cũng biết mẹ tôi à?”
“Tôi đã quen biết cả hai trong một thời gian dài, Sam ạ,” cậu ta nói, cơn giận đã chuyển thành vẻ buồn bã và điều đó có nghĩa là cơn giận không những chỉ là một cảm xúc thoáng qua mà khi nó tan chảy đi thì thế chỗ nó luôn là nỗi buồn.
“Từ những buổi bù khú của bố tôi à?” tôi nói.
“Không,” Thomas nói. “Mẹ anh chưa bao giờ dự những buổi đó, theo như tôi biết.”
“Bố tôi bảo rằng bà không thích những vị khách của ông.”
“Thực ra chỉ một người mà thôi,” Thomas nói, và cuối cùng tôi cũng dần dà hiểu ra. Bố mẹ tôi đã có giao kèo với nhau: cứ mỗi thứ Ba, bố sẽ tổ chức nhậu nhẹt ở nhà với Deirdre và bạn hữu, và mẹ sẽ lánh mặt đi. Miễn là bố tôi đủ tỉnh táo để nhớ được hôm đó là thứ mấy thì mẹ tôi sẽ không phải chạm mặt Deirdre, và miễn là bà không phải chạm mặt Deirdre thì bà sẽ không phải thừa nhận rằng bà già kia tồn tại trên đời. Và những buổi tối đó mẹ sẽ lánh tới căn hộ của mình, còn Deirdre thì tới nhà tôi đàn đúm; và sáng hôm sau khi mẹ về nhà thì Deirdre đã biến mất. Nghĩa là bà vừa biết và vừa không biết về sự tồn tại của Deirdre; giờ tôi đã hiểu ý bố khi ông nói rằng mọi chuyện rất phức tạp.
“Nghĩa là cậu biết chuyện bố tôi với bà Deirdre.” Thomas gật đầu và nói, “Chuyện phức tạp lắm.”
“Bố tôi đã ngoại tình sau lưng mẹ tôi trong ba mươi năm trời,” tôi nói. “Điều này chẳng phức tạp tí nào.”
“Họ không phải người xấu, Sam ạ, không ai trong số họ là người xấu cả.” Ngay lập tức tôi nhận ra cậu ta vừa nói gì và bản chất của câu nói ấy: đây là lời bào chữa của một cậu con trai dành cho bố mẹ mình. Tôi chợt nhận ra rằng bố mẹ tôi đã trở thành bố mẹ của cậu ta, ngoài vai trò là bố mẹ của tôi. Mà cũng có thể bố tôi và Deirdre mới được cậu ta coi là bố mẹ? Một người được quyền có bao nhiêu bố mẹ? Liệu nguồn cung bố mẹ có vô tận không? Và giả sử như nguồn cung bố mẹ là vô tận, thì điều đó có đồng nghĩa với một nguồn cung vô tận của an ủi, hoặc của tổn thương?
“Làm sao cậu biết mẹ tôi nếu bà không tham gia những cuộc nhậu đó?”
“Mẹ anh đến hỏi thăm tôi sau khi bố mẹ tôi mất,” cậu ta đáp. “Bà ấy muốn xin lỗi. Bà ấy là người duy nhất trong gia đình anh làm việc đó. Thỉnh thoảng tôi có đến thăm bà ấy ở căn hộ riêng, nhưng tôi có cảm giác bà ấy không muốn tôi ở đó.”
“Tại sao?”
“Tôi nghĩ bà ấy không ưa tôi cho lắm’’ Thomas thú nhận. Tôi biết tại sao: có thể mẹ tôi thấy cậu ta đáng thương đến mức không thể ưa được. Tôi nhớ đến những cuốn sách bà không đọc và cũng không cho tôi đọc, bởi chúng đầy ắp sự đáng thương. Trong môn ngữ văn lớp tám, tôi được phân cho đọc Túp lều bác Tôm và Giết con chim nhại, và mẹ không cho phép tôi mang chúng vào nhà. Tôi phải đọc chúng ngoài bậc thềm, mặc dù lúc đó đang là mùa đông và trời lạnh đến mức tôi rét run lên dù trên mình đã nai nịt đủ áo xống, một hình ảnh ngược hẳn với Thomas bây giờ. Tuyết bắt đầu phủ lên tóc và hai vai cậu ta, và cậu ta phải nhảy lò cò hết chân này đến chân kia để giữ ấm. Cậu ta rét run đến mức tím tái cả vùng ức. Tôi nghĩ lý do duy nhất cậu ta không vào trong nhà là vì cậu ta đang khoái cái việc chứng tỏ rằng mình biết nhiều về gia đình tôi hơn cả tôi.
“Kể thêm cho tôi về căn hộ của mẹ tôi đi,” tôi đề nghị. “Bà ấy mua nó được lâu chưa?”
“Lâu rồi. Từ khi tôi mới biết bà.”
“Nhưng khi tôi ra tù thì bà vẫn đang sống ở nhà,” tôi nói. “Bố tôi cũng chẳng nhậu nhẹt gì. Tôi sống ở đó suốt một tháng liền cơ mà.”
“Họ gắng gượng trong một tháng vì anh đấy thôi,” Thomas nói. “Và rồi thì anh ra đi.”
“Nhưng họ muốn tôi đi mà.”
“Chuyện phức tạp lắm,” Thomas thận trọng lặp lại như một nhà thông thái, như thể chỉ có mình cậu ta mới là người hiểu biết mọi chuyện.
“Có vẻ như cậu biết nhiều quá nhỉ,” tôi nói. “Nếu cậu không đốt Dinh thự Mark Twain thì ai đốt?”
“Tôi chả biết,” Thomas đáp. Đây là câu trả lời của bố tôi khi được hỏi tại sao mẹ lại không thích những bữa nhậu nhẹt của ông. Nhưng ông biết tỏng đi chứ, ông chỉ giả vờ thế thôi.
“Thế còn Dinh thự Edward Bellamy?” tôi hỏi, dù biết cậu ta sẽ trả lời thế nào.
“Tôi chả biết,” Thomas đáp. Đến giờ cậu ta mới tỏ vẻ muốn vào nhà, vì một ngôi nhà không chỉ là nơi che chắn nắng mưa mà còn là nơi ta trốn tránh những thứ ta không biết hoặc không muốn biết.
“Tôi nghĩ thủ phạm là một phụ nữ,” tôi mớm mồi cho cậu ta. “Giả thiết của tôi đấy. Cậu có biết người phụ nữ nào có khả năng đốt những ngôi nhà đó không?”
“Tôi chả biết,” cậu ta đáp.
“Tôi nghĩ cậu biết đấy,” tôi nói. Tôi nhớ lại những gì trinh sát Wilson đã nói hôm trước, khi cậu ta đang có vẻ tự tin, nên tôi cũng bắt chước theo. “Tôi chưa biết thủ phạm là ai,” tôi nói, “nhưng tôi cược là cậu biết. Và tôi cược là tôi sẽ tìm ra.” Tôi vỗ lên bờ vai đã đóng băng của Thomas rồi bước vòng sang phía cửa người lái, và Thomas đi theo tôi.
“Anh định đi đâu?” cậu ta hỏi.
“Đi đến căn hộ của mẹ tôi để nói chuyện với bà và Anne Marie.”
“Chúa ơi, Sam,” Thomas lắc đầu. “Muộn quá rồi.”
Nhưng mọi thứ không quá muộn. Tôi tin vậy. “Tại sao Anne Marie lại lái chiếc Jeep của cậu đến nhà mẹ tôi mà không lái xe của cô ấy?” tôi hỏi. “Tôi hơi tò mò một chút.”
“Chiếc Jeep chắn lối ra vào,” cậu ta đáp. “Nên cô ấy lái nó đi thì tiện hơn.”
“Sao cậu không đi cùng cô ấy?”
“Cô ấy nói muốn đi một mình,” Thomas không giấu được vẻ bất mãn trong lời nói. Nên tôi biết ngay là cậu ta đã muốn đi cùng nhưng nàng không chịu, và điều đó khiến cậu ta cảm thấy hơi hơi rối bời và như bị bỏ rơi, vì mối quan hệ giữa một người đàn ông và một người phụ nữ cũng giống như mối quan hệ giữa thủy thủ trên boong tàu và chiếc bè cứu hộ.
“Vẫn chưa quá muộn đâu,” tôi nói.
“Quá muộn rồi,” Thomas nói. “Anh nên bỏ cuộc đi thôi.” Rồi cậu ta đột ngột quay người chạy thẳng vào nhà, vừa chạy vừa phủi tuyết trên đầu và vai.
Thomas nói đúng: lẽ ra tôi nên bỏ cuộc, và đó cũng là một điều tôi sẽ đưa vào trong cuốn cẩm nang đốt nhà. Khác với những cuốn cẩm nang khác - những cuốn ra rả khuyên bạn đừng bao giờ từ bỏ cái này hay cái kia, đừng bao giờ đầu hàng, những điều tốt đẹp sẽ đến với những ai không chịu bỏ cuộc - tôi sẽ thẳng thừng khuyên bạn hãy bỏ cuộc ngay lập tức và không chút lưỡng lự, vì khi đối phó với khó khăn, đầu hàng luôn là một lựa chọn bị người đời bỏ qua và đó đúng là một sai lầm khủng khiếp.
Nhưng lúc đó tôi còn chưa biết điều này, nên tôi bỏ ngoài tai lời khuyên của Thomas. Tôi đã không bỏ cuộc.
❀ ❀ ❀
[1] Áo burka: trang phục thường ngày của phụ nữ đạo Hồi.