Đầu tiên là sự xuất hiện của con trai người hướng dẫn viên du lịch của Dinh thự Emily Dickinson, người đang cùng chồng mình chia sẻ những phút giây tư tình sau giờ làm việc, một điều tôi không hề hay biết, ngay trên chiếc giường của Emily Dickinson trong khi tôi lỡ tay đốt ngôi nhà và khiến họ chầu trời nhiều năm về trước. Cậu ta mọc ra vào một thứ Bảy đầu tháng Mười một, hoàn toàn đúng thời điểm, vì ở Camelot này chẳng bao giờ có chuyện gì xảy ra vào những ngày trong tuần. Vào những ngày trong tuần ai nấy đều quần quật làm lụng, ngủ sớm và dậy sớm, đến nỗi bạn chẳng dám ngồi cắt móng chân ngoài hiên trước vì sợ gây tiếng động làm phiền người ta.
Đến cuối tuần thì khác, đó chính là lúc ta có cơ hội chứng tỏ rằng mình vẫn còn cái quyền đổ xăng từ vòi vào lỗ rồi kéo dây điện cho máy nổ ầm ầm để bắt đầu xén cỏ. Và khi ấy tôi vừa xén xong mảnh sân của mình. Cũng chẳng có gì đáng nói. Cỏ không cao lắm và tôi đã xén bằng máy xén, loại máy tất cả hàng xóm của tôi đều dùng: cái loại tự vận hành nhìn như trong phim khoa học viễn tưởng mà ta đứng trên bục để điều khiển cần lái. Cái máy di chuyển nhanh như bay, về cơ bản là thay bạn làm tuốt luốt. Tuy thế tôi vẫn đánh vật đến toát cả mồ hôi khi điều khiển nó và đã phải cởi áo ra, một điều gây cho tôi chút rắc rối với mấy người hàng xóm, mấy ông này (ở Camelot chẳng có phụ nữ nào động tay vào xén cỏ, hệt như một khu Hồi giáo) khi xén cỏ đều đeo những cái tai nghe đại tướng, loại chụp đầu mà người ta hay dùng trong phòng thu âm, rồi những chiếc mũ mềm rộng vành đại tướng, kính bảo hộ lao động, găng tay làm vườn hạng nặng, áo sơ mi dài tay và quần kaki dính đầy vết sơn với hai ống quần được giắt vào đôi ủng hầm hố. Chỉ trừ vài mảng trên má và cổ, còn lại thì trên người họ tịnh không hở ra một chút da nào. Việc tôi cởi trần vô hình trung đã vi phạm vào một phép tắc bất thành văn của tiểu khu này và khiến mấy ông hàng xóm quăng cho tôi những tia soi mói đầy vẻ bất bình và kinh tởm. Thứ Bảy nào tôi cũng tự nhắc mình phải nai nịt thật kỹ, song một khi mồ hôi đã bắt đầu vã ra thì tôi chẳng còn bận tâm nổi ba cái chuyện áo với xống, và lại một lần nữa vô ý nổi loạn. Tôi giống như cái kẻ yêu nước cứ liên tục quên không khuân bao trà của hoàng đế vứt xuống biển. Nhưng kể ra chuyện tôi đã đổ mồ hôi và cởi áo và vô ý nổi loạn không phải là để chứng minh rằng tôi hơn hàng xóm của tôi. Tôi không hơn họ. Tuy chẳng nhớ nổi tên ai, nhưng tất cả hàng xóm của tôi đều là người tốt. Tôi mong họ được mạnh giỏi.
Khi ấy tôi đang ngồi trên hiên nhà, thực ra chỉ là một phiến bê tông chúng tôi gọi là hiên vì thích ngồi lên đó. Tôi vừa tắt cái máy xén cỏ, trong tai vẫn còn ong ong tiếng động cơ, thành thử đã không nghe thấy cậu con trai oan nghiệt nọ lái xe tới, đậu chiếc Jeep ngoài hè rồi bước lên lối vào nhà, đã không mảy may để ý gì cho đến khi cậu ta lù lù hiện ra ngay trước mặt tôi. Tên cậu ta là Thomas, Thomas Coleman, mặc dù lúc đó tôi vẫn còn chưa biết. Khi ấy đang cúi đầu mặc tưởng mông lung nên tôi đã nhìn thấy hai cẳng chân cậu ta trước tiên. Cậu ta đi một đôi ủng leo núi, loại chống thấm.
“Anh có phải Sam Pulsifer?” cậu ta lên tiếng. Ngay khi nghe thấy tiếng nói này, cổ họng tôi lập tức nghẹn cứng, bởi tôi nghĩ mình biết giọng nói ấy, đôi giày ấy thuộc về ai. Tôi cứ chắc mẩm đó là một tay phóng viên. Đã nhiều năm không nói chuyện với tay phóng viên nào, nhưng tôi vẫn khắc ghi cái cách bọn họ khơi chuyện, luôn luôn dẫn bạn ra xa khỏi sự thật của bạn để nhích gần hơn về “sự thật” của họ; tôi nhớ rõ lắm chứ những cuốn sổ gáy lò xo và những gương mặt hau háu chất vấn bạn một đống câu hỏi mà họ đã nắm sẵn lời đáp và tuyệt đối thất vọng với cách bạn trả lời.
“Vâng, tôi Sam đây,” tôi ngước mắt lên đáp và nhận ngay ra rằng đây không phải tay phóng viên nào cả, đơn giản vì chẳng có cuốn sổ, cây bút máy hay bút chì nào sất. Và khác với những tay phóng viên trong trí nhớ của tôi, dù đã hỏi một câu hỏi và được tôi trả lời, cậu ta chẳng có vẻ gì muốn hỏi câu tiếp theo, mà thay vào đó cứ chôn chân nhìn tôi chòng chọc. Tôi cứ để yên, và nhìn lại cậu ta. Cậu ta không cao lắm, nhưng lại khẳng khiu, rất khẳng khiu; tôi nhìn là biết, ngay cả khi cậu ta nai nịt rất kỹ. Cậu ta bận một chiếc quần bò lót vải (tôi có thể ngó thấy mẩu vải flannel đỏ lấp ló ở gấu quần, bên trên đôi giày leo núi) và một chiếc sơ mi flannel, bên ngoài khoác sơ mi nhung và gi lê lông cừu, bất chấp tiết trời tháng Mười một nóng như chảy mỡ, và nếu thân thiết hơn một chút chắc tôi đã bỡn rằng nếu ráng tẩm bổ nhiều hơn thì cậu ta đã chẳng phải mớ ba mớ bảy thế kia. Tôi đây chính là nhân chứng sống mình trần của chân lý đó. Và chưa dừng ở đấy, khuôn mặt cậu ta hốc hác và lợt lạt, lợt lạt quá đỗi, lại rỗ lỗ chỗ; nếu mặt tôi mà là mặt trời rừng rực lửa, thì mặt cậu ta hẳn là mặt trăng đầy hố thiên thạch.
“Tôi là Thomas Coleman,” cậu ta nói.
“Vâng, rất vui được gặp cậu,” tôi chìa tay ra song Thomas không chịu bắt lấy. Cơ hàm cậu ta giật giật như thể đang lấy đà để nhổ toẹt một bãi nước bọt vào bàn tay tôi, nên tôi bèn rụt tay lại.
“Chắc anh không nhận ra tên tôi?” cậu ta hỏi. Quả là vậy, trí nhớ tôi chẳng mảy may lóe lên điều gì, chỉ tuyền một sự yên ắng lặng thinh và êm đềm.
“Chậc, tôi cũng có nghe nói đến tên Thomas,” tôi đáp, cố tỏ ra lịch sự. “Nhưng phải nói rằng đó là một cái tên khá phổ biến.” Và quả đúng thế thật, tôi không nói điêu, thế mà cậu ta lại cho rằng tôi có ý châm chọc. Chẳng khó để nhận ra điều đó vì cơ hàm cậu ta lúc này đang thi nhau giật. Đúng là một anh chàng cáu bẳn, và có lẽ chính vì thế nên mới gầy đét gầy đe: hẳn cậu ta mải nhai nghiến cục giận đến mức cạn ráo cả thời gian, năng lượng và khẩu vị để nhai những thứ khác.
“Thomas Coleman,” rốt cuộc cậu ta cũng lên tiếng. “Bố mẹ tôi là David Coleman và Linda Coleman. Anh đã giết chết hai người họ trong đám cháy Dinh thự Emily Dickinson.”
“Ồ!” tôi thốt lên, vì chẳng biết phải nói gì khác. Và bởi hoàn cảnh lúc này đã trở nên đột ngột trang trọng, tôi đành vớ lấy chiếc áo mặc vào. Bên ngoài đã gọn ghẽ chỉnh tề nhưng bên trong vẫn cảm thấy kiến bò lổm ngổm, tôi tuôn ra một màn chào hỏi ào ạt: tôi bắt tay cậu ta - lần này thì tôi chủ động đưa tay ra nắm lấy tay cậu ta, không để mình bị từ chối - vỗ vỗ lên vai cậu ta, hỏi vồn vã, “Khỏe không cậu? Gặp cậu tôi mừng quá. Mọi chuyện ra sao rồi?” liền tù tì một tràng. Việc này xem ra khiếm nhã kinh khủng, nhưng tôi còn có thể làm gì khác? Chẳng có cuốn sách dạy ứng xử nào giảng về trường hợp này - ngay lúc này đây, người viết nên nó chính là tôi. Thêm nữa, hình như Thomas cũng không nghĩ tôi khiếm nhã đến mức ấy - có lẽ khi bạn chẳng may kết liễu đời bố mẹ của người ta thì những sự xúc phạm khác sẽ trở nên quá đỗi lẻ tẻ trong mắt họ. Thậm chí gương mặt cậu ta còn ửng lên phần nào khi được tôi mời uống nước - bia, nước hoa quả, tôi bảo Thomas cậu ta muốn uống gì cũng được - cho dù đó có thể là ánh đỏ trên mặt tôi đang soi rọi những vết sẹo rỗ trên mặt cậu ta. Mà đúng là tôi đang nóng rực cả lên; lúc này mà mất điện thì người ta hoàn toàn có thể mang tôi ra làm máy nổ cho cả khu.
“Giờ thì anh nhận ra tên tôi rồi chứ?” cậu ta hỏi. “Anh có nhận ra tên bố mẹ tôi không?”
“Cũng mang máng,” tôi đáp, mặc dù chả nhớ tí nào, thậm chí hôm ở phiên tòa tôi còn cố để không phải nghe thấy tên họ, bởi tương lai tôi dường như sẽ suôn sẻ hơn rất nhiều nếu tôi quên được những tiểu tiết từ quá khứ. “Trí nhớ tôi không được tốt cho lắm,” tôi bảo cậu ta, và như tôi đã nói ở trên, điều này chính là một năng khiếu trời ban cho tôi. Ngay cả lúc này, khi Thomas đang đứng lù lù trước mắt, những ký ức về đám lửa, cột khói và thi thể cháy đen của bố mẹ cậu ta vẫn quá xa xôi với tôi, như thể là một cơn ác mộng của ai khác chứ không phải của tôi, nói ra điều đó có lẽ là quá nghiệt ngã, nhưng nó lại hoàn toàn ăn khớp với con người tôi.
“Mang máng à?” Cậu ta nhại lại, mặt ửng thêm một sắc nữa, và tôi thấy mình cũng có ích cho sức khỏe cậu ta ra phết đấy chứ, cứ đà này không khéo tôi còn khiến cậu chàng chịu lót bụng vài miếng thức ăn cũng nên. “Mang máng à? Anh không cảm thấy mảy may dằn vặt vì đã giết bố mẹ tôi ư?”
“Là lỡ tay mà,” tôi đáp. Thomas đứng thẳng người lên, mặt cau lại, và công bằng mà nói, chính tôi cũng hiểu vì sao cậu ta chẳng tin nổi lời tôi: nếu mỗi khi động đến vụ cháy nhà, giết người do bạn gây ra mà bạn lại tấu lên điệp khúc, “là lỡ tay mà”, thì nghe sẽ như thể một lời rên rỉ ỉ ôi, và nếu nó nghe giống như một lời rên rỉ ỉ ôi thì có nghĩa đó chẳng còn giống một sự lỡ tay nữa, và thế là dù nó có phải là lỡ tay hay không thì cũng chẳng còn quan trọng. Khi bạn bào chữa cho tội lỗi tày đình của mình bằng cái câu “là lỡ tay mà”, thì trông bạn sẽ giống một kẻ hèn nhát và một tên dối trá chập lại làm một. Tôi hết sức thông cảm với Thomas. Nhưng gì thì gì, sự thật vẫn là sự thật. “Là lỡ tay mà,” tôi lại nhắc lại lần nữa.
“Chẳng có lỡ tay lỡ tiếc gì sất,” Thomas nói.
“Ái chà, thật là hay khi nghe cậu nói vậy,” tôi đáp. Anne Marie đã nói chính câu đó không biết bao nhiêu lần: trong quãng đời sum vầy của hai đứa, tôi đã từng làm hỏng nhiều hơn một bữa tiệc bất ngờ, đã từng nhoài người ra sau và làm gãy vụn nhiều hơn vài cái ghế gia bảo mà các gia đình hàng xóm nâng niu, đã từng bô bô kể những mẩu chuyện châm biếm chủng tộc khi có người thuộc chủng tộc đó lù lù đứng kế bên, và cứ sau mỗi sự cố ngoài ý muốn và không hề chủ tâm này là Anne Marie lại cáo buộc tôi cố tình làm vậy: “Đó đâu phải là lỡ tay đâu,” nàng sẽ căn vặn. “Anh cố ý thì có.” Tôi luôn luôn phân trần, “Không có mà! Quả thật không có!” Rồi nàng sẽ nói, “Chẳng có lỡ tay lỡ chân gì sất.” Và tôi sẽ khăng khăng, “Có mà, có mà!” Nhưng cũng có thể là không có sự lỡ tay nào thật. Tôi hiểu rõ vì sao nàng nói vậy, và cả Thomas nữa.
“Tôi nhớ bố mẹ tôi,” Thomas nói. “Đã hai mươi năm ròng kể từ khi anh sát hại họ, thế mà đến giờ tôi vẫn nhớ họ đếch chịu được.”
“Ôi, tôi hiểu mà,” tôi an ủi, sâu thẳm trong lòng tôi là một niềm cảm thương, nhìn cậu ta nhớ bố mẹ chợt khiến tôi cũng nhớ hai cụ thân sinh, và theo cách nào đó thì cả hai đứa tôi đều đồng cảnh ngộ cút côi. “Này, nghe này,” tôi nói, “có chắc cậu không muốn uống chút gì đó không?” Bởi vẫn còn khát sau khi xén cỏ, và hơn nữa, cũng bắt đầu thấy gần gũi hơn với cậu ta và thấy mình mắc nợ vì những gì đã gây ra cho bố mẹ và cuộc đời cậu ta, tôi sẵn sàng kiếm cho cậu ta bất kỳ thứ gì cậu ta muốn.
“Không,” cậu ta đáp. Rồi tiếp: “Anh có biết tụi trẻ ở trường đã làm gì tôi không?”
“Khoan nào,” tôi ngắt lời. “Ai cơ? Lúc nào cơ? Trường nào cơ?” Một khi tôi muốn quan tâm, thực sự quan tâm, thì tôi phải được biết tường tận những chi tiết của câu chuyện đó. Khi còn nhỏ tôi chẳng thông cảm gì cho ba con lợn con và ba túp nhà của chúng vì tôi nào có biết mấy túp nhà đó - bằng rơm, bằng gạch hay gì gì đi nữa - nằm ở một thị trấn, một thành phố hay là một ngôi làng, và liệu khu dân cư đó có tên có tuổi hay không, mà nếu không có tên có tuổi thì tôi chịu không thể quan tâm được.
“Là trường Williston Country Day,” Thomas đáp, “ngay sau khi anh sát hại bố mẹ tôi.” Cậu ta chậm chạp nói, như thể đầu óc tôi cũng chậm chạp nên phải nói vậy nó mới hiểu và khắc ghi được - một hành động khiến tôi cảm kích. “Tụi nhóc đồng lứa, thậm chí là cả bạn bè, ai cũng đem bố mẹ tôi ra mà giễu cợt.”
“Cậu không đùa chứ,” tôi nói. “Tồi tệ quá Thomas nhỉ. Bạn bè gì lũ ấy.”
“Nhưng đó lại là bạn bè của tôi đấy. Chúng nó bêu riếu chuyện bố mẹ tôi chết, anh biết đấy, trên giường ngủ.” Cậu ta lắp bắp khi nói đến mấy chữ cuối, hiển nhiên vẫn còn bị giày vò và ám ảnh bởi nỗi đau quá lớn, ôi cậu trai tội nghiệp.
“Suốt một khoảng thời gian dài,” cậu ta tiếp tục, “tôi thấy hổ thẹn vì là con của họ, căm hận họ vì cái việc họ đang làm dở dang khi bị anh hại chết.”
“Điều này cũng dễ hiểu.”
“Có một con bé cùng lớp tôi đã mất bố mẹ trong một tai nạn ô tô,” cậu ta nói. “Cả hai đều bị nghiến mất đầu. Tôi ghen tức với con bé đó. Suốt một quãng thời gian dài tôi cứ ước sao bố mẹ mình cũng chết như thế.”
“Hoàn toàn dễ hiểu,” tôi đáp.
“Suốt một quãng thời gian dài,” cậu ta hít một hơi sâu nghe lép nhép tiếng nước bọt, “tôi chỉ muốn tự tử quách cho xong.”
“Đừng có nói thế chứ, Thomas, dù chỉ là nghĩ đến thôi cũng không nên,” tôi đáp. Nói nghiêm chỉnh ra thì tôi sẵn lòng làm bất cứ điều gì vì cậu trai này. Nếu cậu ta xòe một mớ dao lam ra rạch cổ tay thì tôi sẽ không ngần ngại xé áo mình ra băng bó; nếu cậu ta tống một vốc thuốc ngủ xuống họng thì tôi sẽ chẳng chần chừ mà lao vào rửa ruột cho cậu ta dẫu cóc có mẩu kiến thức chuyên môn hay thiết bị y tế nào. Có lẽ tôi muốn cứu cậu ta hệt như tôi muốn tự cứu mình, chẳng khác nào một tấm gương muốn cứu vớt kẻ đang soi gương để có thể cứu lấy luôn cả cái bóng trong gương. Thật là một mớ cảm xúc hỗn độn mà ngay bản thân tôi cũng chẳng thể hiểu nổi, và chính thế tôi mới biết nó hỗn độn đến thế nào.
“Rồi khi tôi không còn muốn kết liễu đời mình nữa,” Thomas nhìn tôi từ dưới hai hàng lông mày vàng hoe cũng mỏng dính như tóc cậu ta, “thì tôi muốn kết liễu đời anh.”
“Ừ thì,” tôi chẳng biết nói gì hơn ngoài việc thấy nhẹ nhõm vì cậu ta đã không làm vậy. Không giết phắt tôi đi.
“Anh không phải lo,” cậu ta chuyển sang một giọng trầm đục tương phản với vóc người mỏng tang, như thể gợi ý rằng tôi vẫn nên lo thì hơn. “Bác sĩ tâm thần đã thuyết phục tôi dứt bỏ ý nghĩ đó rồi.”
“Cậu đi khám bác sĩ tâm thần ư?”
“Tôi từng khám qua cả mớ bác sĩ rồi.” Thomas đáp như thể đã chán ngấy nỗi đau buồn của mình, như thể sự tang thương đó là một bộ đồ hóa trang cậu ta vẫn còn mặc dù ngày lễ Halloween đã kết thúc và có muốn cũng không tài nào trút bỏ được, và đột nhiên tôi như nhìn được xuyên suốt cuộc đời cậu ta, một cuộc đời tôi đã góp phần tạo dựng, như với cuộc đời mình. Tôi như tận mắt chứng kiến cảnh cậu ta thất thểu đi gõ cửa hết bác sĩ này đến bác sĩ nọ, và nếu không có mấy vị bác sĩ đó cùng nỗi tang thương và quá khứ hãi hùng thì cậu ta chỉ còn một mình trên cõi đời này. Tôi đồ là cậu ta chắc chưa vợ con gì, và rồi tôi nghĩ tới Anne Marie và hai đứa nhóc vừa ra ngoài tranh thủ làm mấy việc vặt chiều thứ Bảy, đi hái táo trong vườn ăn quả hoặc vuốt ve lũ thú nuôi trong sở thú hay ngồi nghe kể chuyện ở thư viện trong giờ đọc truyện, và tôi bỗng ngộ ra rằng chỉ có bốn người chúng tôi mà thôi, thế giới này chẳng cần phải rộng lớn quá mà làm gì. Tôi thấy nhớ gia đình nhỏ của mình, và những muốn nhảy phắt lên chiếc xe tải mini - nhà tôi có hai chiếc - rồi bon bon đến sở thú nuôi, duy chỉ có điều chiếc xe đã sắp cạn xăng còn tôi thì nào hay biết cái sở thú đó tọa lạc phương nào.
“Gì thì gì,” Thomas lên tiếng, đầu lắc lắc như để giữ bản thân ra khỏi cơn mộng mị, “đó là lý do vì sao tôi tới đây. Bác sĩ nói tôi nên tìm anh và yêu cầu một lời xin lỗi. Vì đã hại chết bố mẹ tôi.”
“Ồ vâng, tôi xin lỗi, tôi thành thực xin lỗi,” tôi đáp. “Và hết sức lấy làm tiếc.” Tôi vừa hối lỗi mà vừa thấy vui vì ít ra còn có thể làm được điều gì đó cho Thomas sau bấy nhiêu năm đằng đẵng. Đúng là chuyện hiếm có, được cho phép xin lỗi sau khi đã gây ra một tai ương quá khủng khiếp, vô phương cứu chữa. Cũng không khác gì việc Abel đội mồ trở dậy để cho anh trai Cain[1] cơ hội xin lỗi vì đã giết chết mình. “Ôi, tôi hết sức xin lỗi vì đã hại chết bố mẹ cậu,” tôi ăn năn tới mức quỳ mọp người xuống trong tư thế van lơn. “Tôi thành thực xin lỗi - điều kinh khủng ấy đã ảnh hưởng tới không biết bao nhiêu số phận, tôi chỉ ước sao nó chưa từng xảy ra.”
Thomas cúi đầu xuống trong khi tôi sám hối. Lúc tôi đã xong xuôi, cậu ta vẫn cứ cúi nhìn, như thể đợi nghe thêm hoặc đang mải đánh giá lời tôi nói. Rốt cuộc cậu ta cũng ngẩng lên ném cho tôi một tia nhìn cay nghiệt. “Anh xin lỗi thế hử?” cậu ta vặc lại. “Thế là xong á?”
“Vâng,” tôi đáp, và rồi lại nói, “Xin lỗi cậu,” cho nó đủ câu.
“Đó là một lời xin lỗi quá sức tệ.” Cặp mắt Thomas lồi ra như muốn bung khỏi hốc mắt, hai nắm tay siết lại: cậu ta giận tới mức bốc hỏa, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Cậu ta giống hệt những người có người thân bị giết và được đối chất với hung thủ trong tòa án, có dịp nói với kẻ giết người những lời dồn nén bấy lâu, trong đầu đinh ninh rằng phải nói cho hết thì sau này họ mới có thể tiếp tục một cuộc sống bớt nặng nề, vân vân và vân vân, nhưng chỉ để nhận ra rằng những lời nói ấy chẳng có ý nghĩa gì và xét cho cùng thì đó cũng chẳng phải lời của họ, thế nên rốt cuộc họ lại trở nên tuyệt vọng và tan nát còn hơn cả lúc chưa nói câu nào. Nhìn Thomas hệt như thế đấy. “Anh chẳng có vẻ gì thật lòng,” cậu ta nói.
“Tôi có mà, tôi có mà,” tôi đáp, tôi ăn năn thật nhưng lại chẳng biết nói gì hơn để thuyết phục cậu ta, bởi rắc rối của việc xin lỗi chính là nằm ở đây: để chứng minh bạn chẳng hối lỗi tẹo nào thì dễ hơn nhiều so với chứng minh điều ngược lại.
“Anh là đồ con c*c,” cậu ta chửi.
“Ơ kìa, hãy khoan,” tôi đáp. “Việc gì phải thế.”
“Đồ con c*c khốn nạn,” Thomas dấn người lên trước, và trong phút chốc tôi cứ ngỡ cậu ta chuẩn bị nhảy xổ lên người mình, nhưng lại không phải vậy, có thể là vì cậu ta nhìn hoặc ngửi thấy lớp mồ hôi khô bết trên người tôi vì xén cỏ, hoặc vì tôi to con hơn cậu ta chắc cũng ngót nghét hai chục cân. Thomas nào có biết cậu ta hoàn toàn có thể tẩn cho tôi dừ người mà chẳng nhọc công: tôi cảm thấy cái tật bị động cố hữu đang quay lại với mình, và quả tim tôi đập thình thịch, Đánh tôi đi, đánh tôi đi, tôi đáng bị đánh lắm và sẽ không đánh trả đâu, nên cứ đánh đi. Nhưng Thomas làm sao nghe được tim tôi nói gì - một trong những lý do khiến tôi thấy nhẹ nhõm vì có một quả tim. Thay vào đó, cậu ta bước lui lại một bước, khuôn mặt cũng theo đó mà lui lại một bước, dần chuyển sang vẻ đăm chiêu nhưng vẫn đầy nộ khí.
“Tôi đang tự hỏi không biết có bao nhiêu người hàng xóm quanh đây biết rằng anh là một kẻ sát nhân và một tên hỏa tặc,” cậu ta nói. “Liệu bạn bè anh có hay biết. Đồng nghiệp của anh nữa…”
“Ừ thì…” tôi ngần ngừ.
“Tôi cược rằng ngay cả với gia đình anh anh cũng giấu tiệt chuyện này,” khi cậu ta thốt lên những lời này, quang cảnh chung quanh tôi bỗng hóa mờ mịt như bị phủ một lớp khí nóng rừng rực, khiến tôi không còn nhận ra nó, cái thế giới này, cũng như không còn dám chắc rằng nó là của tôi.
“Tôi biết anh chẳng ăn năn gì việc đã giết bố mẹ tôi.” Thomas tiếp lời. “Nhưng cứ đợi đấy.”
Nói đoạn cậu ta quay người, sải bước dọc lối đi, chui vào con Jeep đen đậu ở vỉa hè rồi phóng đi mất dạng. Khi cậu ta đã khuất hẳn, tim tôi mới dần dần đập chậm lại, đầu tôi mới dần dần quang đãng và tai tôi mới dần dần nghe thấy tiếng hàng xóm xén cỏ rì rì. Tôi biết rằng không ai nhìn thấy Thomas cả, ngay cả có thấy thì họ cũng chẳng nghi ngờ hoặc quan tâm làm gì. Mới tuần trước, bà vợ đã ly thân của ông hàng xóm ở đối diện con phố đã không ngừng đập cửa nhà chồng cũ lúc ba giờ sáng, miệng bai bải quát tháo và dọa nạt sẽ cắt béng của quý của ông ta bằng cây bảo kiếm của ông nội từ thời Nội chiến, và ông ta đã gọi cảnh sát đến bắt bà ta, tạo nên những tiếng huyên náo om sòm, nhưng lại đủ xa xôi để làm chúng tôi tưởng nhà ai để ti vi to tiếng, đến sáng hôm sau đọc báo mới hay sự tình. Khẩu hiệu bất thành văn ở khu Camelot này là “Đèn nhà ai nhà nấy rạng”, miễn là không cởi trần đi loăng quăng. Lúc này khi Thomas đã đi khỏi, khung cảnh lại trở về như một ngày thứ Bảy bình dị ở Camelot. Như thể những gì mới xảy ra chưa từng xảy ra vậy.
Nhưng không phải vậy. Quá khứ một khi đã dội lại thì sẽ cứ tiếp tục ùa về, không chỉ một phần mà toàn bộ ký ức: cái đám đông bị quên lãng trong đời bạn sẽ bung ra khỏi căn phòng trưng bày để sấn sổ đuổi theo bạn, và trốn chạy sẽ chẳng ích gì, rồi chúng cũng sẽ tìm ra bạn; bởi đó là đám đông của bạn, nên chúng chẳng truy tìm ai khác ngoài bạn cả.
Phải ba giờ chiều Anne Marie và hai đứa nhóc mới về nhà, và bây giờ mới là hai giờ. Vậy là tôi sẽ có đủ thời gian để cuốc bộ một lúc lâu, gom góp dũng khí để tiết lộ sự thật về quá khứ cho gia đình biết. Tôi hiểu rằng đây là việc tôi cuối cùng cũng phải làm: phơi bày sự thật. Và do đâu mà tôi lại thấu hiểu được điều này?
❀ ❀ ❀
[1] Theo Kinh Thánh, Abel và Cain là con của Adam với Eve. Cain đã giết chết em trai mình, Abel, sau khi Chúa thu nạp gia súc tế lễ của Abel nhưng lại khước từ nông sản của Cain.