Lúc tôi về đến nhà bố mẹ thì đồng hồ đã điểm quá bảy giờ tối, cái tối mờ tối mịt của tháng Mười một lại càng tối thêm vì lớp sương mù giăng mắc. Đó là loại sương dày đặc thông báo thời tiết đang chuyển mình, là loại sương mù ghê rợn khiến bạn tưởng như nghe thấy những tràng hú thê lương của đám chó hoang từ xa xăm đâu đó vọng lại. Là loại sương mù ngăn không cho bạn thấy nhà của bố mẹ cho tới khi bạn suýt lái xe phi qua nó và suýt tông phải mẹ bạn lúc này đang băng qua phố, chạy từ nhà về phía xe của bà. Chắc hẳn mẹ tôi đã nghe thấy tiếng bánh xe tôi phanh gấp, bởi bà đã giơ ngón giữa về phía tôi mà không cần nhìn về phía tôi, trước khi nhảy lên chiếc xe của bà. Xe của mẹ tôi đậu bừa ở phía bên kia đường thay vì trên lối đi trước nhà, vì đã có vài chiếc xe đậu ở đó, và thêm vài chiếc nữa đậu ngay dưới lề đường; trong nhà tôi dường như mọi đèn đóm đều được bật sáng, như thể nó là một ngọn hải đăng ba tầng sừng sững giữa đám sương mù hòng ra hiệu cho đủ loại thủy thủ đang đi lạc lối. Tôi muốn xem trong nhà đang diễn ra cái gì, đồng thời cũng tò mò không hiểu mẹ đang phóng đi đâu mà hấp tấp thế, ngoài việc muốn tìm hiểu vì sao bà lại nói dối tôi về việc vẫn còn làm giáo viên ngữ văn, và bà đã biến đi đâu buổi đêm hôm trước. Và thế là tôi bèn bám theo khi bà vòng ra khỏi chỗ đỗ xe trên chiếc Lumina màu lục.
Tôi bám sát bà vì màn sương dày kịt, đèn pha xe tôi gần như chạm vào đuôi xe bà. Chắc hẳn đây là màn theo dõi lộ liễu nhất trong lịch sử các màn theo dõi; nếu tôi có được cấp một giấy phép theo dõi thì kiểu gì cũng sẽ bị tước mất. Mẹ tôi cũng chẳng khiến nhiệm vụ dễ dàng hơn tí nào: bà lái xe trong cơn giận dữ, và bám đuôi bà trong màn sương mù là cả một quá trình liên tục tăng tốc và ghìm phanh, tăng tốc và ghìm phanh. Cũng may là mẹ không để ý đến tôi, và cũng không đi xa lắm, chỉ tới trung tâm thị trấn Belchertown cách nhà năm dặm, và dừng xe ngay trước một trong những tòa nhà cổ, xây bằng đá nguyên khối của hội Tam điểm mà giờ đây, vì số hội viên Tam điểm ngày một giảm, đã trở thành nơi vận hành của các loại văn phòng, xưởng nghệ thuật, nhà hát công cộng, căn hộ. Mẹ tôi nhảy ra khỏi xe, rõ ràng vẫn còn đang hết sức sôi máu; bà rảo bước qua đường, đi thẳng vào cửa trước. Chân rảo bước dài và uyển chuyển, và tựa như một làn gió, bà lướt ra khỏi làn sương tiến vào tòa nhà Tam điểm.
Tôi bám theo bà, nhưng vì bước chân tôi ngắn và thô kệch hơn nên tôi chậm hơn bà vài bước. Đến khi tôi lách qua cửa, bước vào hành lang lát gốm, bà đã mất hút đi đâu. Bên trái hành lang là một cánh cửa, và bên phải có một cánh cửa khác. Nhà thơ Robert Frost (người sở hữu một căn nhà sắp hóa thành tro bụi chỉ sau một ngày nữa, bạn cứ đọc tiếp sẽ biết) từng bảo rằng, chọn lối ít người đi hơn mới là một lựa chọn đúng đắn, nhưng lời dạy này chỉ hữu ích khi ta đã biết rõ lối nào có ít người đi hơn. Tôi chọn cánh cửa bên phải chẳng vì lý do đặc biệt nào.
Thứ tôi tìm thấy sau cánh cửa không phải là mẹ tôi, mà là một sảnh đường rộng, âm vang, nơi những hội viên Tam điểm, không còn nghi ngờ gì, đã làm lễ kết nạp hội viên mới và thực thi những bùa chú ảo thuật. Sảnh đường rộng như một phòng thể chất của trường cấp ba và được lát gỗ sẫm màu từ đầu đến cuối: sàn nhà lát những tấm ván rộng bản và tường nhà cũng ốp đúng loại gỗ đó, còn trần nhà cao tít tắp được ghép bằng mộng rìa và rãnh rìa, trải rộng đến hàng mẫu Anh. Một bên là một dãy các hộp gỗ lớn có hình dạng và kích thước của buồng xưng tội, thứ để bạn chui vào bỏ phiếu hoặc xưng tội. Thứ duy nhất không làm từ gỗ là một chiếc đại phong cầm và cái bục đá hoa cương bên dưới. Dưới chân bục đàn là một nhóm người ngồi trên ghế gập, xếp thành một vòng tròn. Họ chưa nghe thấy tôi bước vào phòng, nên tôi bèn rón rén lẻn tới gần xem mẹ có ngồi trong đó không.
Tôi tới gần hơn và nhận ra bà không ở đó, và thấy nhóm người có cả đàn ông lẫn đàn bà - chừng mười lăm người tất cả - ai nấy đều ăn bận như những pháp sư và phù thủy với những chiếc mũ nhọn đầu và áo choàng đen có họa tiết trăng rằm, gậy phép, vạc nước sôi cùng đủ loại biểu tượng quái đản huyền bí. Cảnh tượng này làm tôi chợt rùng mình trong giây lát và tự hỏi liệu có phải hội Tam điểm đã tái xuất giang hồ và đang thi triển phép thuật. Nhưng sau khi định tâm nhìn lại thì tôi thấy mỗi người mang trên tay một cuốn sách. Tôi nhận ra ngay cuốn sách đó, bởi mỗi đứa nhóc nhà tôi đều có một quyển, kể cả Christian dù nó chưa biết đọc. Đó là một trong những quyển sách thiếu nhi đến từ Anh quốc và đã trở nên phổ biến đến mức nó không còn được coi là sách thiếu nhi nữa, và độc giả thì vì mê mẩn cuồng si nó mà đã cải trang thành những nhân vật trong truyện, đứng xếp hàng tới tận nửa đêm để chờ đến giờ phát hành của tập kế tiếp, và dùng chữ “áo chùng” thay vì “áo choàng”. Trên thực tế, cả Katherine lẫn Christian trong suốt một quãng thời gian dài đi đâu cũng phải lôi theo quyển sách đó như những bệnh nhân tiểu đường với dung dịch insulin; hai đứa cũng cải trang thành những nhân vật trong truyện vào lễ Halloween, và vào cả ngày hôm sau đó. Điều này thì tôi chấp nhận được, vì trẻ con vốn thế: chúng mê mẩn cuốn sách nào thì sẽ cải trang thành nhân vật trong cuốn sách đó. Nhưng người lớn thì phải khác chứ nhỉ? Tình yêu với một cuốn sách sẽ khiến bạn trở thành thế này à? Nó sẽ khiến bạn trở lại thành một đứa trẻ? Hay đó là ảnh hưởng của tình yêu nói chung, với sách hay không với sách thì cũng thế cả thôi?
Có thể vậy. Nhưng đó lại không phải là lý do mà những người đàn ông và đàn bà này - họ trạc tuổi tôi và cũng là những ông bố bà mẹ - lại ăn mặc và hành xử như thế. Họ không đến đây vì cuốn sách (tôi nghe lỏm được) mà là để hiểu rõ hơn về con cái họ, để trở thành một phần lớn hơn trong đời sống của chúng, cũng giống như khi bạn muốn nghe nhạc hard-rock của con mình hay nghiện cái chất kích thích chúng hay dùng.
“Chúng ta phải ủng hộ con cái mình” một anh pháp sư nói. Anh ta đeo một cặp kính to bè nhiều khả năng sẽ bị nhầm với kính bảo hộ và có một bộ râu muối tiêu mà anh ta vừa nói vừa gãi sốt sắng. “Nếu chúng đọc và yêu thích cuốn sách này thì chúng ta cũng cần phải đọc và yêu thích nó.”
“Nhưng nếu cuốn sách dở tệ thì sao?” một chị phù thủy đi xăng đan hiệu Teva hỏi. “Phải nói thật rằng, tôi đã đọc chương đầu và chẳng thấy cuốn hút gì cả.” Khi nói, chị phù thủy đi xăng đan hiệu Teva chẳng nhìn vào mắt ai, chỉ nhìn xuống hai bàn chân to bè ú nụ, mỡ phòi ra hai bên sườn của đôi xăng đan như phô mai bị nóng chảy.
“Xét theo một khía cạnh nào đó, thì việc cuốn sách này hay hay không không quan trọng,” anh pháp sư nghiêm khắc nói. “Hơn nữa, xét theo một khía cạnh nào đó, thì cuốn sách hẳn là phải hay. Nó là một phần của văn hóa.”
Kéo theo đó là một tràng những tiếng xì xào tán thành từ mọi người, và tôi lợi dụng chúng để che đi tiếng động khi tôi xoay người đi ngược lại trên con đường ít, hoặc là nhiều, người đi hơn (tôi cũng chẳng biết phải gọi nó thế nào, chỉ biết đây là con đường sai) và quay về hành lang để mở thử cánh cửa bên trái và nhận ra nó đã bị khóa. Tôi phải làm gì với một cánh cửa nữa bị khóa đây? Kinh nghiệm gần đây đã dạy cho tôi rằng gõ một cánh cửa khóa cũng chỉ vô ích. Nhưng tôi còn biết làm gì khác? Sao nhà thơ kia chẳng dạy tôi phải làm gì khi cánh của dẫn đến con đường ít người đi lại bị khóa mất? Cái ông nhà thơ đó trốn tiệt đi đâu rồi?
Ông ta ở tít tận New Hampshire, hay nói chính xác hơn là tòa dinh thự của ông ta ở đó, tạm thời là vậy, thế nên tôi bèn làm điều mình đã bắt đầu thành thạo: đi vòng ra ngoài và xuyên qua màn sương rồi bí mật theo dõi mẹ tôi qua dãy cửa sổ mặt tiền - những ô cửa này cũng đồ sộ như những phần còn lại của tòa nhà. Mẹ tôi đang ở kia, trên tầng hai. Ô cửa của bà là ô duy nhất được thắp đèn, và bà đang ngồi ở ngay cửa sổ, bên một chiếc bàn, hai tay chống cằm, mắt nhìn vào khoảng không vô định. Chỉ có duy nhất một hành động cô đơn hơn việc ngồi một mình trong một căn phòng mà chẳng có gì để làm, để ngắm nghía hay mân mê (ngoại trừ cái cằm của mình) và đó là khi ta phải dõi theo một người đang ở trong hoàn cảnh đó. Tôi chỉ muốn chạy ngược vào trong tòa nhà Tam điểm, giật lấy cái cuốn sách nổi tiếng nọ từ tay một anh chị phù thủy giả trang để vứt lên cho mẹ tôi qua khung cửa sổ. Nhưng muốn vậy thì bà phải mở cửa sổ cho tôi trước, giống như Juliet đã mở cửa cho Romeo, hay Rapuzel đã mở cửa cho anh chàng khẩn khoản xin cô hãy buông mái tóc xuống. Có được một cuốn sách để cầm trong tay thì chắc trông mẹ tôi không cô đơn đến vậy. Và có lẽ đây lại là một lý do nữa giải thích tại sao người ta đọc sách: không phải để cảm thấy bớt cô đơn, mà là để mọi người khi nhìn vào sẽ nghĩ rằng họ trông có vẻ bớt cô đơn nên sẽ không thương hại và để mặc cho họ được yên. Không biết những anh chị phù thủy kia có ngộ ra điều này không nhỉ: có khi con cái của họ đọc sách là để bố mẹ chúng nghĩ rằng chúng không cô đơn nên sẽ để mặc cho chúng được yên? Có lẽ tôi nên nói cho họ biết điều này trong lúc giật lấy cuốn sách từ tay họ để đưa cho mẹ.
“Sam Pulsifer,” một giọng nói cất lên sau lưng tôi. Tôi quay lại: là trinh sát Wilson.
Lần này cậu ta nhìn ra dáng một thám tử hơn trước: tuy vẫn bận quần kaki và đi giày hầm hố, nhưng cậu ta đã chia tay với cái áo khoác có mũ trùm và thay bằng một chiếc sơ mi màu lam cài khuy, ở ngoài là một chiếc áo vest cũng màu lam, chắc là mượn của bố hay một đồng nghiệp lớn tuổi. Lẽ ra chiếc áo khoác đã khá vừa vặn, nhưng cậu ta lại gắng cài hết khuy và gây ra một hình phạt không cần thiết đối với cái bụng, và chiếc áo và đám khuy. Thêm nữa, chắc kiểu gì cũng đã có người bảo cậu ta rằng làm thám tử thì phải nốc cà phê cho rõ lắm, nên trên tay cậu ta đang khư khư một cái cốc xốp to tướng đựng cà phê, miệng thổi phù phù làn khói bốc lên từ cái lỗ trên nắp cốc.
“Anh ở trong đấy làm gì mà lâu thế?” cậu ta hỏi. “Thăm mẹ anh à?”
“Nghe lỏm đám pháp sư ấy mà,” tôi đáp, “và phù thủy nữa.”
“Hả?”
“Tôi nghĩ mình đã chọn lối ít người đi hơn,” tôi bảo cậu ta.
“Nhân chuyện đường lối,” cậu ta nói, cố lái cuộc trò chuyện về chủ đề cậu ta có thể hiểu và kiểm soát được, “tôi bám theo anh trong suốt quãng đường đến đây. Anh là một tay lái dở tệ.”
“Tôi bám theo mẹ tôi ấy mà.”
“Anh có mà bám theo được cục phân ấy.”
“Tôi biết chứ.”
“Lẽ ra tôi đã viết phiếu phạt anh rồi.”
“Cảm ơn cậu,” tôi đáp, bởi nếu bị cậu ta phạt thì tôi sẽ phải trình bằng lái xe ra, mà tôi lại vừa nhận ra rằng mình quên xin lại cái bằng từ Lees Ardor. Tôi có thể mường tượng ra cảnh cô ta đứng trong lớp học, tay nhơn nhơn cầm cái bằng mà nhất quyết không chịu trả lại tôi, và đây lại là một điều nữa tôi hối hận, giống như khi không lấy lại được lá thư từ cụ Frazier. Nhưng nói đi thì phải nói lại, tôi khá chắc chắn rằng kiểu gì mình cũng sẽ mắc phải nhiều sai lầm nữa, cho nên tôi chẳng ngẫm nghĩ lâu về sai lầm vừa mắc phải. Đây là một điều nữa tôi sẽ cho vào cuốn cẩm nang đốt nhà: nếu bạn có trót mắc phải sai lầm, thì chẳng việc gì phải ngẫm nghĩ lâu về nó, vì kiểu gì bạn cũng sẽ mắc phải nhiều sai lầm nữa.
“Mà nếu cậu ghi giấy phạt tôi,” tôi nói, “thì tôi sẽ phải yêu cầu cậu trình phù hiệu.” Tôi nhớ lại một vài chi tiết về cậu trinh sát Wilson và một trong số đó là việc cậu ta không nói cho bố mẹ tôi biết cậu ta làm ở phòng cảnh sát nào, nên biết đâu cậu ta giả mạo thì sao. “Mà cậu có phù hiệu đấy chứ?’
“Đây anh xem,” cậu ta đưa tấm phù hiệu nhét trong một chiếc ví mỏng lét cho tôi. Tấm phù hiệu làm từ vàng, có một biểu huy nhô lên, trên mặt biểu huy là một biểu ngữ gì đó mà trong làn sương và ánh sáng mù mờ này tôi không đọc được rõ. Tuy vậy tôi vẫn làm bộ săm soi nó kỹ lưỡng như thể tôi biết phân biệt phù hiệu thật với giả. Nửa còn lại của cái ví nhét thẻ căn cước có ảnh và tên cậu ta, Robert Wilson, cùng chức danh: trinh sát, Đội Hỏa hoạn, Ban Phòng cháy Chữa cháy bang Massachusetts. Tấm chứng minh thư nhìn thật ra phết: tôi đưa nó lên soi dưới ánh đèn đường và thấy những hoa văn và ảnh nổi trông khá chuẩn.
“Cậu là lính cứu hỏa à,” tôi nói.
“Tôi là cảnh sát,” cậu ta gằn giọng hơi quá đà, ra hiệu cho tôi biết đích xác cái sợi dây thần kinh nào đang căng ra và chớ nên đụng vào.
“Được rồi,” tôi trả lại cậu ta tấm phù hiệu. Cậu ta cầm lấy và đút nó vào túi áo khoác, khiến cho khuy áo bật tung ra, để lộ ra cái bao giắt súng và một phần chuôi súng. Cho nên kể cả nếu cậu ta có không phải là cảnh sát đi nữa , thì vẫn là một anh lính cứu hỏa có súng, cũng chẳng khác nhau là mấy, tôi đoán vậy.
“Anh có biết đêm qua có kẻ tìm cách đốt Dinh thự Mark Twain không?” cậu ta hỏi.
“Đó không phải tôi,” tôi đáp.
“Tôi cũng nghĩ là không phải,” cậu ta nói, mặc dù miệng thì cười tủm tỉm đầy ẩn ý như muốn nói rằng chẳng tôi thì còn ai vào đây, nên tôi bèn nói thêm vào, “kẻ đốt Dinh thự Edward Bellamy cũng không phải tôi đâu nhé,” để bổ sung, một sự bổ sung không cần thiết.
“Tôi cũng nghĩ là không phải mà,” cậu ta nhắc lại, lần này còn giả tạo hơn. Đoạn cậu ta đút tay trái vào túi áo khoác và gõ tay lên đùi qua lớp vải lót theo một nhịp khá là rộn ràng.
“Chắc chắn rồi,” tôi nói. “Vì vậy nên cậu mới bám theo tôi đến đây.”
“Biết đâu tôi không chỉ bám theo anh thì sao,” cậu ta đáp. “Biết đâu tôi đang bám theo cả mẹ anh nữa.”
“Cậu bám theo mẹ tôi làm gì?”
“Có thể tôi có lý do riêng,” cậu ta nói rồi chờ đợi tôi đưa ra cái câu hỏi hiển nhiên.
“Lý do gì?” tôi hỏi. “Tại sao cậu phải bám theo mẹ tôi?”
“Cái đêm có kẻ đốt Dinh thự Edward Bellamy,” cậu ta hỏi, “anh đã ở nhà bố mẹ anh đúng không?”
“Đúng rồi.”
“Còn hai người bọn họ thì sao?” cậu ta hất ngón tay cái về hướng ô cửa sổ sáng nơi mẹ tôi đang ngồi. “Mẹ anh tối đó có nhà không?”
“Tất nhiên rồi,” tôi đáp. Nhưng có thật thế không? Mẹ tôi hôm đó có thật là đã ở nhà không? “Không ở nhà thì bà ở đâu?” Tôi chỉ muốn tự hỏi một mình mình thôi nhưng lại trót bật lên thành tiếng, thành ra câu hỏi chẳng còn là của mình tôi nữa.
“Có thể bà ấy đã ở đây,” trinh sát Wilson nói. “Cũng có thể bà ấy đã ở chỗ khác. Gì thì gì, tôi sẽ điều tra cho ra.” Giọng cậu ta nghe thật tự tin, khiến tôi hơi run. Đối với những người thiếu tự tin thì không có gì đáng sợ hơn việc phải đối mặt với những kẻ tràn đầy tự tin. Và thế là ngay lúc đó tôi đã thốt ra một câu mà không lâu sau đấy tôi đã nhận ra là mình không nên thốt ra chút nào và sẽ vô cùng hối tiếc.
“Tôi biết ai là kẻ đã tìm cách đốt Dinh thự Mark Twain,” tôi nói.
“Anh biết à?” trinh sát Wilson hỏi. Sự tự tin của cậu ta mặc dù không biến mất hẳn, nhưng cũng đã bớt đi phần nào bởi câu nói của tôi.
“Ừ,” tôi đáp. “Tên gã là Thomas Coleman. Có khi gã cũng là thủ phạm đốt Dinh thự Edward Bellamy luôn. Tôi không biết gã sống ở đâu, nhưng có khả năng anh sẽ tìm ra gã tại căn nhà của tôi ở Camelot.”
“Căn nhà của anh ở Camelot à,” cậu ta lặp lại.
“Số một trăm mười ba đường Hyannisport,” tôi đáp.
“Sao gã lại ở đó chứ?”
“Gã đang ngủ với vợ tôi,” tôi nói, lần đầu tiên tự thú nhận điều này với chính mình, và với một người khác. “Hoặc đang nhắm tới điều đó.”
Trinh sát Wilson đã phản ứng với thông tin này như thế nào? Thật khá bất ngờ. Cậu ta chẳng hỏi tôi thêm câu nào, chẳng vặn vẹo xem cái gã Thomas Coleman này là ai, hay tại sao gã lại muốn đốt những ngôi nhà đó, hay tại sao tôi lại biết những điều đó. Trinh sát Wilson chẳng hỏi tôi câu nào, chỉ quay mặt bước đi đến chiếc xe rồi mở cửa chui vào.
“Hượm đã,” tôi bước tới cửa xe. Khuôn mặt cậu trinh sát tràn ngập sự bối rối, thay thế cho sự tự tin của vài giây lát trước; trông cậu ta cũng trẻ hơn, vậy tức là sự tự tin làm ta già đi, trong khi sự bối rối lại khiến cho ta trẻ, và còn hiệu quả hơn cả những tương lai xán lạn và các loại kem dưỡng da Thụy Điển, dù người ta vẫn quảng cáo là hai thứ đó công hiệu với da dẻ lắm. “Cậu đi đâu đấy?”
“Tôi đi đến nhà anh,” cậu ta đáp, “để nói chuyện với vợ anh và gã Thomas Coleman này.”
“Chỉ vì câu nói vừa rồi của tôi ư?” tôi hỏi. Hóa ra công việc chỉ điểm dễ vậy sao? Ai mà biết được rằng ta chỉ việc nói lên mối nghi ngờ của mình và đổ tội sang cho người khác là sẽ đạt được kết quả mau lẹ? “Chỉ thế là xong à?”
“Ừ, Sam ạ,” cậu ta đáp. “Chỉ cần thế thôi. Nhưng anh mà nói dối thì cứ liệu đấy. Anh mà xỏ mũi tôi là sẽ có chuyện đấy.”
“Không hề,” tôi trấn an cậu ta, mặc dù tôi mới là người cần được trấn an. Thomas Coleman là nghi phạm số một của tôi, thực ra là nghi phạm duy nhất. Từ đáy lòng mình tôi biết rõ gã chính là kẻ nhóm lên những mồi lửa đó; tôi biết rõ gã là kẻ có tội. Và rồi ngay sau khi tôi nói điều này ra với trinh sát Wilson, thì trong đầu tôi lại lởn vởn nghi ngại. Khi tôi vừa nói dứt lời rằng Thomas Coleman có tội, thì dường như gã lại có vẻ như vô tội. Tôi tự hỏi không biết nếu giờ mình nói gã vô tội thì có khiến gã có vẻ như có tội lại không. Nhưng đã quá muộn để nói điều đó, nên tôi bèn hỏi, “Nhưng cậu không định hỏi mẹ tôi xem bà đã ở đâu vào đêm đó trước khi đi hay sao? Cậu không định hỏi xem bà đã ở đâu vào đêm Dinh thự Bellamy bị đốt?” tôi hỏi không phải vì muốn cậu ta hỏi mẹ tôi, mà vì trinh sát Wilson - với tấm phù hiệu, thẻ căn cước, khẩu súng và ly cà phê - ngày càng ra dáng một trinh sát thực thụ, và tôi muốn biết xem một trinh sát thực thụ sẽ hỏi ai, hỏi cái gì, và hỏi vào lúc nào.
“Không phải lúc này,” cậu ta đáp. “Hơn nữa, tôi đã biết phải tìm bà ấy ở đâu.” Đoạn cậu ta kéo cửa kính xe lên và phóng thẳng vào màn đêm đầy sương, bỏ lại đằng sau tiếng bánh xe rít trên lớp nhựa đường, mùi khói và một bài học cho tôi: là một trinh sát thực thụ đồng nghĩa với việc biết tìm người khác ở đâu. Giờ thì tôi đã biết mình phải tìm mẹ ở đâu. Nhưng sao bà lại ở đó? Đây là căn hộ của bà hay sao? Bà đang ở cùng với một ai khác hay sao? Có phải đây là mái ấm thực sự của bà? Có phải bà đã ở đây thay vì ở nhà với bố con tôi vào cái đêm Dinh thự Edward Bellamy bốc hỏa, và cả đêm qua nữa? Bà chỉ tới đây thôi hay còn tới nơi nào khác nữa? Tôi vỗ nhẹ túi áo để cảm nhận sự tồn tại của hai bức thư: bức thư của giáo sư Mincher nhờ tôi đốt dinh thự Mark Twain, và bức thư nặc danh đòi Mincher ba nghìn đô tiền thù lao. Bức thư không có dấu bưu điện, nghĩa là có người đã lái xe tới đặt nó vào hòm thư, một người của vùng này, chắc hẳn vậy. Nhưng sao lại là một lá thư trong khi chỉ cần gọi một cú điện cho Mincher và giả giọng tôi? Câu trả lời duy nhất là kẻ nặc danh nọ không thể giả giọng tôi qua điện thoại. Bất kỳ một người đàn ông nào cũng có thể giả vờ là tôi, nhưng một người phụ nữ thì không thể. Và người phụ nữ nào sẽ muốn đóng giả tôi? Thật lòng mà nói tôi chỉ biết có hai người phụ nữ trong cuộc đời này: một người ở Camelot, người kia thì đang ở ngay đằng trước tôi đây, càng ngày càng trở nên xa lạ với hình bóng người mẹ tôi từng biết.
“Ôi, mẹ,” tôi thở ra. Mẹ tôi vẫn ngồi bên cửa sổ, không đọc sách cũng chẳng đưa mắt nhìn tôi đứng dưới đường: tôi chỉ thấy bà dán mắt vào khoảng không vô định.
Vào đúng lúc này, hội phù thủy và pháp sư lục tục kéo nhau ra khỏi tòa nhà, ai nấy đều giơ cuốn sách nọ ra đằng trước như thể nó là cây gậy thần dẫn dắt họ đến với đời sống nội tâm của con cái mình. Trông họ thật sung sướng và hoan hỉ như khi người ta nghĩ rằng mình vừa tìm được câu trả lời cho một câu hỏi đặc biệt hóc búa. Mỗi người khi đi ngang qua đều cảm thấy cần phải vồn vã nói với tôi, “Xin chào!” và “Chúc buổi tối vui vẻ!” trước khi tuôn ra một tràng nhận xét về đám sương mù đêm nay, rằng đám sương rất là đậm chất Anh, vân vân và vân vân, rồi kéo theo đó là một màn thảo luận dài, chân thành về sự nhiệm mầu của sương mù, và rằng nhất định khi về đến nhà họ sẽ đánh thức lũ trẻ dậy, chỉ cho chúng xem màn sương, rồi cả nhà sẽ cùng nhau tìm một đoạn văn trong cuốn sách có tả về sương mù để so sánh xem sương mù trong văn chương và sương mù trong khí tượng học khác nhau ở chỗ nào, và rồi đột nhiên tôi thấy, ở một bên khóe mắt, một luồng sáng vụt tắt. Tôi rời khỏi đám phù thủy và pháp sư và bước về phía khung của sổ nơi mẹ tôi ngồi; giờ đây nó đã tối đen và tôi không thấy mẹ đâu nữa. Tôi đứng săm soi khung cửa sổ phải đến năm, mười, mười lăm phút. Đám phù thủy và pháp sư lên xe lái vào màn đêm, còn tôi vẫn đứng đó đợi mẹ bật đèn lên, đợi bà bước ra khỏi tòa nhà, đợi chờ một cái gì đó. Nhưng đây là một lời khuyên nữa tôi sẽ đưa vào cuốn cẩm nang của hỏa tặc (mà đến lúc này chắc bạn đọc đã hiểu rằng nó cũng là cuốn cẩm nang của một thám tử, cẩm nang của một quý tử, một cuốn cẩm nang có độ bao quát rộng hẹp tùy ý bạn và tùy ý tôi): chờ đợi một khung cửa sáng đèn trở lại không thể là một hành động kéo dài đến vô tận. Và khi ta bắt đầu tự hỏi không biết nó có bao giờ sáng lại nữa hay không, khi ta bắt đầu tự hỏi cái người và vật ta nghĩ ta đã nhìn thấy khi đèn còn sáng liệu có thật hay chỉ là ảo giác, thì tức là ta đã chờ quá lâu rồi, và điều tốt nhất ta có thể làm là đi về nhà. Nên tôi bèn đi về nhà.