Và một khi ta tiến hành dò xét các việc khác, thì ta hiển nhiên sẽ không thể tránh khỏi bị những kẻ khác dò xét. Tôi đã nghiệm ra chân lý này ngay ngày hôm sau, lúc mở mắt dậy và thấy Thomas Coleman đang đứng bên giường, gí mặt sát sàn sạt mặt tôi, như thể để biết chắc chăn rằng tôi vẫn còn thở.
“Anh đang giở trò gì đấy?” cậu ta hỏi.
“Gì cơ?” tôi hỏi, rồi thốt lên, “Oái!” và nháo nhào nhảy xuống giường, choàng vội áo quần (giống như lần đầu gặp cậu ta, tôi đang ở trần, và đã nghỉ rằng có lẽ lần chạm trán thứ hai sẽ khá hơn chăng, nếu như tôi nai nịt đầy đủ), chui vào buồng tắm chải răng rồi đi xuống nhà, Thomas lẽo đẽo bám theo cho tới khi tôi ngưng lại ở bàn ăn, nơi có ly nước dã rượu và mẩu giấy dặn dò “Uống đi” đang chờ đợi. Tôi đặt mông xuống, làm theo hướng dẫn. Thomas vẫn đứng đó; nhìn cậu ta có da có thịt hơn lần đầu tôi gặp, mà mới chưa đầy một tuần. Có vẻ cậu chàng đã tăng cân, ngay cả mái tóc cũng dày thêm chút đỉnh, và gợn sóng hơn trước; gương mặt cũng hồng hào ra, xét một cách toàn diện thì giống như một tài tử mỹ miều đã sắp phục hồi hoàn toàn khỏi ung thư và xạ trị.
“Anh đang giở trò gì đấy?” Thomas lặp lại câu hỏi.
Tôi không đáp, vì đây quả thực là một trong những câu hỏi khó nhất mọi thời đại, nhất là khi bạn chẳng giở trò gì, hoặc không cho rằng mình đã giở trò gì.
“Anh bỏ việc rồi hả,” Thomas mớm lời, rõ là sắp cạn hết kiên nhẫn. Tôi như nhìn thấy cái cục kiên nhẫn đang lấp ló sau hàm răng cậu ta, vật lộn điên cuồng, chỉ chực chuồn ra ngoài.
“Đúng rồi,” tôi đáp.
“Thứ Sáu vừa rồi, tôi điện tới Công ty Đóng gói Tiên Phong để tố cáo rằng chính anh đã đốt trụi Dinh thự Emily Dickinson và giết hại bố mẹ tôi, rằng liệu họ có biết bấy lâu nay chui nhủi trong đám bọn họ là một tên hỏa tặc, một kẻ sát nhân? Nhưng trước khi tôi kịp phun hết ra, thì họ đã bảo tôi là anh xin nghỉ việc rồi.” Nói đoạn, cậu ta ngưng lại như để cho tôi có thời gian bắt kịp dòng suy nghĩ của cậu ta, tôi rất cảm kích. “Anh đang giở trò gì đấy?” cậu ta hỏi lại lần thứ ba.
“Tôi say bí tỉ!” tôi bảo cậu ta, và lần đầu tiên trong đời tôi nhận ra rằng một trong những thứ mà việc chè chén có thể chuyển hóa là sự đầu lừa. Lúc tỉnh, sự đầu lừa sẽ khiến ta hôn hít cô em họ và tiêu đời từ đó; nhưng khi say, thì có thể nó lại giúp ta toàn thắng vẻ vang. “Tôi bỏ việc vì lúc đó say khướt!” tôi bảo cậu ta. “Và cậu nói đúng đấy: họ chưa hề biết tôi là tên hỏa tặc, là quân giết người. Nhưng tôi đã bỏ việc trước khi cậu kịp tố cáo tôi! Và hay ho quá, tôi thậm chí còn chẳng cố tình làm việc ấy!”
Điều này làm Thomas xuội lơ. Cậu chàng thở dài, ngồi xuống đối diện tôi; chút sắc hồng đã biến mất trên khuôn mặt. Sự thất vọng trồi lên tiếm quyền, xua đuổi lòng quả cảm và lạc quan đi đâu mất. Tôi thấy thoáng tội nghiệp cho cậu ta, cho tới khi chợt nhớ ra lý do vì sao chúng tôi lại đang nói chuyện này ở đây, ở nhà của bố mẹ chứ không phải nhà tôi, và những gì cậu ta đã nói với Anne Marie.
“Vì sao cậu lại phịa ra chuyện tôi lăng nhăng?” tôi chất vấn. “Vì sao cậu lại lừa Anne Marie rằng tôi đang hú hí với vợ cậu?”
Câu hỏi này khiến Thomas tươi tỉnh lên chút ít. Đôi mắt cậu ta trở nên xa vắng và có một vẻ mơ màng làm tôi thấy rờn rợn hơn tất thảy những gì cậu ta đã từng nói và làm. “Cô ấy đẹp thật anh ạ,” cậu ta nói. “Tôi chẳng hiểu nổi tại sao anh lại lừa dối cô ấy.”
“Tôi không hề lừa dối cô ấy,” tôi suýt rướn qua mặt bàn để lay cho cậu ta tỉnh khỏi câu chuyện hư cấu của cậu ta mà quay về với hiện thực của chúng tôi. Có lẽ cảm nhận được điều này, nên cậu ta bèn đứng dậy, lùi vài bước khỏi bàn ăn. “Tôi đã đốt cái nhà đó và khiến bố mẹ cậu chầu trời,” tôi thét lên. “Vì sao cậu không nói cho cô ấy biết điều đó cơ chứ?”
“Theo anh thì vì sao?” Thomas hỏi. Tôi thấy rõ là cậu ta cũng đang muốn chơi trò thám tử - đấy là nếu như làm thám tử tức là khiến người ta trả lời những câu hỏi mà bản thân ta lẽ ra có thể tự trả lời, nhưng trên thực tế lại không thể. Điều này chẳng làm tôi thấy khá lên tẹo nào. Có thật là cậu ta không biết tại sao mình đã kể cho Anne Marie một chuyện hoàn toàn khác? Có thật là cậu ta không biết cậu ta đến đây làm gì? Liệu cậu ta rốt cuộc có phải chỉ là một gã phá bĩnh nghiệp dư? Và nếu quả thế thật, thì có phải cậu ta sẽ gây ra thiệt hại nặng nề hơn nhiều so với một gã phá bĩnh chuyên nghiệp? Hiển nhiên, không đời nào tôi lại hỏi những câu như thế, mà cũng không đời nào tôi được trả lời tử tế, nên thay vào đó tôi bèn hỏi, “Vì sao cậu lại đốt Dinh thự Edward Bellamy?”
“Hả?” cậu ta thốt lên. “Ai đốt?” Trông cậu ta có vẻ hoang mang thực sự: hai con mắt thụt sâu vào hốc mắt, miệng trề xuống nhăn nhó như thể nỗi kinh ngạc này có vị chua loét. Thế rồi, lạ lùng thay, gương mặt cậu ta dãn dần ra, trên môi hấp háy một nụ cười. Thomas hất đầu về hướng phòng ngủ của bố tôi và hỏi: “Bố anh có nhà không?”
“Không,” tôi đáp. “Đi làm rồi.” Và hỏi, “Gượm đã, cậu biết bố tôi à?”
“Tạm biệt, Sam,” cậu ta đáp rồi quay gót bước ra ngoài cửa trước. Tôi ngồi thừ ra đó một lúc lâu để đảm bảo rằng mình đã ghi nhớ những điều vừa xảy ra trước khi tôi quên bặt tất cả. Thomas đã nhắc tới bố tôi. Nhưng thế thì đã sao: xét cho cùng, cậu ta đã dò ra nơi tôi nương náu, thì chắc chắn cũng phải biết tôi có một ông cụ thân sinh, giống như bao nhiêu người khác, trừ Thomas ra. Nhưng còn cái hất đầu nọ thì sao? Chỉ là ngẫu nhiên? Hay là bệnh giật cơ? Có lẽ nào cậu ta hất đầu về phía phòng ngủ của bố tôi là vì cậu ta biết rõ đó chính là phòng ngủ của ông? Mà nếu thế, thì làm sao cậu ta biết được điều đó nhỉ?
Tôi rời ghế, phóng như bay ra khỏi cửa trước, hòng đuổi cho kịp Thomas trước khi cậu ta biến mất khỏi cuộc đời tôi một lần nữa, lần này thì ai mà biết được sẽ kéo dài bao lâu. Và có lẽ tôi cũng đã đuổi kịp cậu ta rồi, nếu như đám phân tích trái phiếu không đứng túm tụm ngoài hiên, ngáng đường tôi chạy.
Tôi vẫn gọi họ là đám phân tích trái phiếu, nhưng hiển nhiên họ có tên tuổi đàng hoàng. Ngoài Morgan, như các bạn đã biết, là hai gã tên Ryan, một gã tên Tigue, và một gã tên Geoff, mà người ta vẫn gọi là G-off. G-off là gã duy nhất tôi nhận ra được ngay, bởi gã có mái tóc sẫm quăn đặc trưng, nhìn hơi giống - đây là nếu so với những gã còn lại, và cũng vì chẳng còn từ nào tốt hơn - người dân tộc. Những gã còn lại thì tôi chịu chẳng phân biệt được ai vào với ai, và giờ đây khi gặp lại thì tôi vẫn chào thua. Ngoài trời không đến nỗi lạnh cóng, nhưng bọn họ đều mang giày đi săn, đóng quần kaki và trùm áo len cổ lọ, gã nào gã nấy - trừ G-off - đều chải tóc lật sang một bên, nhìn nai tơ, bảnh chọe như đám học sinh trường tư. Bọn họ đứng với vẻ bồn chồn và thay chân trụ liên tục, như thể chỉ mong có một vật gì đó để gác chân lên - một cái ba đờ sốc, một cái hàng rào, hoặc thanh chắn ở mũi thuyền buồm chẳng hạn. Trừ G-off ra, cả đám chốc chốc lại hất đầu để trả lọn tóc mái trở về vị trí cũ. Từ hồi ra tù cho đến trước hôm tôi tới hiệu Kho Sách, tôi chẳng để tâm nghĩ về họ nhiều (lười động não là năng khiếu trời cho của tôi mà), và có vẻ như thời gian cũng quên bẵng họ luôn: nhìn họ giống y đúc mười năm về trước. Còn tôi: bụng tôi đã nhão hơn, và to ra chút ít, bộ ngực thì đã thành nửa thùng phuy, thế nên nếu nhòm từ bên hông thì trông tôi không khác gì một chữ B dị dạng; và không những tôi giữ được gần hết mái tóc trên đầu mà lông lá trên người tôi cũng rậm rạp lên. Điểm mấu chốt là, đám phân tích trái phiếu không hề già đi, còn tôi lại lão hóa rõ rệt, và đây là một minh chứng nữa của việc tôi là một thằng đầu lừa.
“Xin chào Sam,” một gã cất lời - có khi là Morgan cũng nên. Tôi nói vậy là vì trước nay gã vẫn đóng vai trò thủ lĩnh không chính thức của cả hội, và lúc này trên hiên nhà, bốn gã kia đã sắp thành một hình chữ V lộn xộn sau lưng gã - bọn họ thật tử tế khi chỉ ra Morgan là kẻ có vị trí quan trọng trong nhóm theo cách này. Những thứ khác có lẽ cũng nên diễn ra theo cách ấy. Cuộc đời chẳng hạn. “Lâu lắm không gặp nhỉ.”
“Không nói chuyện gì hết,” tôi phủ đầu. Trước chuyến viếng thăm đường đột của Thomas, tôi phải mất vài phút mới phát bực được; nhưng lần này tôi nổi giận ngay lập tức. Cứ đà này, không khéo tôi sẽ nổi giận trước cả khi nhận được những cuộc viếng thăm đường đột, và rằng những cơn giận sẽ là điềm báo trước, thay vì là hệ quả, của những cuộc viếng thăm. “Các anh chẳng có quyền gì sất.”
“Hử?” một gã thắc mắc - chắc là gã Tigue. “Bọn này đã làm gì?”
“Bọn này đã làm gì?” G-off a dua, khiến tôi nhớ ra rằng một trong những tài lẻ của chúng là lặp lại lời nhau để nhấn mạnh ý chúng.
“Anh đạo chuyện của bố tôi rồi dán cái tên anh vào,” tôi chỉ ngón tay tố cáo vào cái gã mà tôi đoán là Morgan. Đúng là gã thật: gã hổ thẹn cúi đầu trong giây lát, vừa đủ cho tôi kịp nghía rõ đường rẽ ngôi trên đầu gã, thẳng tắp và sâu hun hút như một con kênh đâm xuyên qua cánh đồng tóc phì nhiêu.
“Ừ,” gã ngẩng đầu lên. “Tôi đành thú nhận vậy: tôi làm vậy là sai rồi.”
“Sai lè ra rồi,” G-off đệm vào.
“Nhưng tôi cũng đã trả giá cho việc đó rồi,” Morgan tiếp.
“Nghĩa là sao?” tôi hỏi.
“Như chú biết đấy, tôi đánh cắp chuyện của bác nhà để viết cái cuốn hồi ký đó,” gã giải thích. “Và chắc chú cũng biết rằng lúc viết nó, tôi đang trong thời gian thử thách. Rồi thì, tay đảm nhiệm việc giám sát tôi đã đọc được nó khi nó vừa xuất bản.”
“Cả đống người đọc chứ đùa đâu,” Tigue đế vào.
“Đắt như tôm tươi,” G-off tấm tắc. “Thậm chí còn được tái bản bìa mềm cơ mà.”
“Có phải cuốn nào cũng được thế đâu,” Tigue nói.
“Gì thì gì,” Morgan tiếp lòi, “khi đọc được cuốn sách, tay đó cứ đinh ninh rằng tôi đã vi phạm cam kết và đi lung tung ra ngoài bang. Hắn muốn tống tôi vào tù lại, nên tôi đành phải thề thốt rằng chẳng qua tôi bốc phét đấy thôi, chứ tôi nào có dám bén mảng ra khỏi Massachusetts, và tôi chưa hề làm mấy trò đó, chưa hề đặt chân tới những nơi đó, và đó hoàn toàn chẳng phải chuyện của tôi.”
“Thế rồi một đồn mười,” Tigue lại chêm vào.
“Nhà xuất bản đánh hơi ra, và nổi cơn tam bành,” G-off nói. “Lão chủ đòi lại món nhuận bút trả trước, cộng thêm toàn bộ phí bản quyền.”
“Tôi phải đi vay lãi để trả đấy,” Morgan than. “Thậm chí còn phải chuyển về ăn bám hai ông bà già suốt một quãng dài.”
“Ơ hay, thế thì giống tôi quá,” tôi định chia sẻ rằng chúng tôi đồng cảnh ngộ để an ủi gã phần nào. Nhưng chẳng tác dụng gì.
“Nhục nhã ê chề lắm chú ơi,” Morgan não nề.
“Nhưng tôi vẫn chưa hiểu lắm,” tôi thú nhận. “Trước hết, anh ăn cắp chuyện đó để làm cái gì kia chứ. Sao anh không tự mình đi trải nghiệm trước rồi hãy viết?” Nhờ có chuyến thăm thú tới hiệu Kho Sách, tôi đã vỡ ra rằng, nếu bạn là một hồi ký gia, thì bạn cần làm một cái gì đó - bất kỳ thứ gì - để sau đó mới có thể viết về nó.
“Thì đó là lý do vì sao bọn này đến đây Sam à,” Morgan nói. “Có lý do thì mới tới chứ.”
“Có nguyên do cụ thể cả đấy,” Tigue tung hứng. Hai gã Ryan nãy giờ chưa nói câu nào. Trong mấy phim điện ảnh, những gã như thế thường đóng cái vai bặm trợn, nhưng ở đây lại là hai gã mảnh dẻ, tay đút túi áo chứ không nắm lại mà đấm thùi thụi vào lòng bàn tay kia.
“Nguyên do gì?” Tôi tò mò.
“Kể cho nó nghe về châu Phi đi,” Tigue nói.
“Câm miệng,” Morgan chặn lại, và tôi có cảm giác nhất định gã sẽ cho Tigue một cú móc hàm nếu hai gã đứng sát nhau hơn trong đội hình chữ V. Nhưng Morgan không làm như thế, mà lại ưỡn thẳng người lên như để bắt đầu một bài diễn văn đã tập dượt sẵn. “Trước kia,” gã lên tiếng, “những người đàn ông như chúng ta đây, những người đàn ông mang những phẩm chất nhất định, đã sống tới một độ tuổi nhất định, khi ta thấy chán chường, bất mãn hoặc trăn trở không yên, khi ta cần thứ gì đó để hâm nóng cuộc sống, khi ta phải dấn bước vào rủi ro hòng khẳng định giá trị đời ta, thì ta sẽ khăn gói đi châu Phi săn thú. Ta sẽ thuê người bản địa dẫn đường. Ta sẽ truy sát những bầy sư tử và linh dương. Ta sẽ mang về các bộ sừng và ngà làm chiến lợi phẩm. Thậm chí sau khi về, còn có thể viết được hẳn một cuốn sách chứ chẳng chơi. Nhưng giờ thì chẳng thể làm vậy được nữa.”
“Sao lại không?” tôi thắc mắc.
“Giờ chúng được bảo vệ nghiêm ngặt lắm,” Morgan giải thích. “Sư tử, tê giác, hươu vằn - giờ thì ai dám động đến dù chỉ là lông chân của chúng.”
“Thảo nguyên xưa đã khép lại rồi,” G-off nói.
“Thậm chí bọn này còn đi nhảy bungee rồi cơ,” Tigue thêm thắt. “Bọn này cứ ngỡ như thế đã là mạo hiểm lắm rồi.”
“Chú mày buộc một cái vòng chim quanh chân,” Morgan nói. “Rồi nhảy. Rồi cứ treo toòng teng ở đó và đợi người đến cắt dây để xuống. Chỉ có thế thôi.”
“Chỉ thế thôi,” Tigue lặp lại.
“Ê mặt lắm,” G-off nói, “bị treo tơ hơ lên như thế ấy.”
“Này,” tôi nói. “Các anh có muốn vào nhà uống gì không?” Tôi bắt đầu thấy bồn chồn khi cả sáu người bọn tôi cứ đứng túm tụm ngoài hiên như thế. Nếu ở Camelot thì chẳng ai hơi đâu mà để ý đến, nhưng khu phố nhà bố mẹ tôi thì khác, và lúc nào cũng có vài ba người lẩn quẩn ngoài sân trước nhà họ, chăm chút những khóm hoa cúc hoặc loa kèn, đồng thời vặn đài bán dẫn lên mà nghe kênh Phát thanh Công cộng Quốc gia, và mắt đảo quanh để biết chắc hàng xóm cũng đang bật kênh đó. Tôi không muốn thu hút sự chú ý; tôi thậm chí còn không muốn họ phát hiện ra rằng kẻ hỏa thiêu nơi-mà-ai-cũng-biết đã quay trở lại khu phố.
“Nước nôi gì,” Morgan ngắt lời. “Bọn này muốn biết làm cách nào mà chú mày đã thiêu trụi được cái nhà ấy. Biết rồi thì bọn này sẽ viết một cuốn sách về việc ấy.”
“Cẩm nang phóng hỏa dinh thự của các văn hào vùng New England,” G-off khoe. “Bọn này đã nghĩ sẵn tựa rồi.”
“Tại sao lại cứ phải là một tên hỏa tặc thì mới viết được sách này?” tôi chọc. “Các anh cứ giả vờ là mình đã đốt những ngôi nhà đó rồi viết không được à?”
“Á,” Morgan kêu lên. “Nói kháy hay lắm.”
“Thôi nào,” Tigue dỗ dành. “Nể tình chút đi.”
“Chắc lúc đó cậu phải cuống lắm nhỉ,” G-off chen vào. “Nào lửa, nào khói, nào sức nóng.” Rồi gã cúi xuống nhìn đôi tay mình như đợi chúng nhắc bài. “Nào lửa,” gã nhắc lại.
“Ở chú mày lúc nào cũng toát lên một vẻ mãn nguyện,” Morgan tiếp tục. “Vẻ mãn nguyện giản đơn của một đứa trẻ, chỉ khác là chú mày đã trưởng thành.”
“Tại khuôn mặt đỏ dừ đấy,” Tigue đế thêm.
“Mãnh liệt,” Morgan tiếp. “Và nguyên thủy, như chính đống lửa chú mày đã nhóm lên. Thôi nào, bọn này chỉ cần chú mày hướng dẫn một chút thôi.”
“Một cú huých nhỏ,” G-off a dua. “Với sở trường và kinh nghiệm của chú mày.”
“Nhưng tôi đã kể hết cho các anh hồi ở trong tù rồi còn gì,” tôi đáp.
“Ừ, ừ,” Morgan nói. “Nhưng vẫn còn cái đám cháy của chú mày hôm qua nữa mà.”
“Hai ngày trước chứ,” G-off nhắc.
“Ở Dinh thự Belmont,” Morgan tiếp.
“Dinh thự Bellamy chứ,” G-off nhắc.
“Có câm đi không nào,” Morgan gắt, rồi quay sang tôi: “Ở Dinh thự Bellamy.”
“Ơ nhưng mà…” tôi ấp úng.
“Này chú Sam, bọn này đang gặp khó khăn ra trò,” Morgan nói. “Bọn này đang run. Đấy, rốt cuộc tôi cũng nói cho chú biết.”
Tôi tin gã. Tôi có thể thấy rõ quả thực họ đang cần giúp đỡ, bởi hai gã Ryan nãy giờ vốn câm như hến cũng đang mấp máy môi như chực nói. Tôi thậm chí còn thấy thương hại họ. Thật khác xa với thuở còn ngồi tù khi tôi hâm mộ họ hết lòng, giờ đây trông họ ê chề và tuyệt vọng, khiến tôi không sao trút giận lên họ được nữa, kể cả Morgan. Không, tôi không giận họ, nhưng tôi biết họ sẽ lên cơn khi nghe điều tôi sắp kể.
“Xin lỗi các anh,” tôi nói, “nhưng tôi không phải là kẻ đốt Dinh thự Bellamy.”
“Thôi đừng đùa nữa,” Morgan nói. “Chẳng chú thì còn ai vào đây?”
“Câu hỏi hay đấy,” tôi thừa nhận. “Nhưng có là ai đi nữa, thì cũng không phải tôi.”
“Này Sam…” Morgan nói, nhưng tôi cắt lời gã.
“Tôi không giúp gì cho các anh được,” tôi nói.
Tôi chẳng buồn để tâm đến những gì tuôn ra sau đó - một điệp khúc những lời dọa nạt, rồi cầu xin, rồi lại dọa nạt (lần này nhiều chi tiết và màu sắc hơn) - cũng y hệt lần Thomas Coleman đường đột tới Camelot, nên tôi chẳng lạ gì. Tôi cứ đứng đó, mặc kệ những tràng âm thanh liên tiếp phủ xuống đầu mình, cho tới khi đám phân tích trái phiếu đã mệt lử, phá đội hình chữ V, bước xuống khỏi bậc thềm rồi chen chúc lên con xe lưng gù hiệu Saab. “Rồi chú mày sẽ phải hối tiếc đã không giúp bọn này đấy Sam ạ,” Morgan gào lên, và quả đúng thế thật: chỉ vài ngày sau tôi sẽ rất hối hận vì đã không giúp họ. Như thể để nhấn mạnh thêm, Morgan gào thêm lên nữa, “Chú mày sẽ hối tiếc!” rồi đạp mạnh ga phóng vút đi.
Tôi nhìn đồng hồ. Mới mười một giờ sáng, vẫn còn cả một ngày dài trễ nải trước mặt, dư dả thời gian để một mống nào đó lại nhảy bổ ra từ quá khứ của tôi. Có vẻ như tôi chỉ còn hai lựa chọn: ngồi nhà và đợi thêm một cuộc viếng thăm đường đột, hoặc ra đi.