Tôi còn nhớ cái ngày bố bỏ hai mẹ con tôi mà đi. Đó là một ngày thứ Bảy. Tôi nhớ rõ là vì hôm đó tôi không phải đến trường nên đã được ở nhà để chứng kiến hậu quả bố để lại. Mẹ và tôi đứng cạnh nhau bên cửa sổ phòng khách nhìn bố lùi chiếc Chevy Monte Carlo ra khỏi lối đi. Lúc đó là cuối tháng Mười, hàng cây đã rục rịch trút lá, và chúng giơ những cành xương xẩu lên vẫy chào bố cùng chiếc xe. Hàng cây cũng biết rằng ông đang bỏ nơi này mà đi, và dường như khi ông đi, ông đã kéo gương mặt của mẹ đi cùng, như là kéo một sợi dây thun. Gương mặt của người phụ nữ xinh xắn, nhu mì tôi vẫn gọi là “Mẹ” bị kéo căng ra khi bà chứng kiến ông lái xe ra khỏi khuôn viên nhà, rồi khi ông đã khuất bóng thì sợi dây thun kia bật trở lại, gương mặt bà đanh lại, đôi mắt xanh sắc lẻm đi, bờ môi khép chặt lại, hai bên mép khè nhếch lên cười khẩy. Người mẹ mới này của tôi tuy không xinh xắn bằng nhưng lại đẹp hơn người mẹ cũ, tức là, sự xinh xắn là thứ để ta yêu, còn sắc đẹp thì để ta sợ hãi, và tôi sợ vẻ đẹp đó, và sợ mẹ tôi. Bà đi vòng quanh nhà, nhặt lên những quyển tạp chí, đĩa nhạc, miếng lót cốc, gối tràng kỷ và những bức ảnh gia đình rồi nhìn chằm chằm như thể không tin nổi chúng thuộc sở hữu của bà, rồi vứt chúng sang một bên. Và điều đó cũng khiến tôi sợ hãi.
“Con đói rồi nhỉ,” cuối cùng bà cũng lên tiếng, quay về phía tôi như thể vừa sực nhớ ra rằng, tuy bố đã bỏ đi nhưng tôi thì còn ở đó. Bà nói đúng: đã đến giờ ăn trưa, và tôi đói thật. “Để ta nấu cái gì đó,” bà nói rồi đi vào bếp. Tôi đứng chơ vơ trong phòng khách, nhặt nhạnh những thứ bà vứt lung tung, cố gắng tránh không làm quẩn chân bà, cho tới khi tôi ngửi thấy mùi cháy trong bếp nên bèn chạy vào xem.
Mùi cháy tỏa ra từ món bánh kẹp phô mai và cà chua, món trưa ưa thích của tôi, giờ đã bị mẹ làm cháy đến mức trông giống như một mảnh than có hình lát bánh mì. Bà đã giải cứu lát bánh khỏi lò nướng, nhưng đã quá muộn, nên bà đang huơ huơ chiếc khăn bên trên cái đống cháy đen và cười ha hả, khiến tôi càng sợ hơn. Bà cứ hát đi hát lại, “Cô ấy thích nấu nướng, nhưng không phải theo cách này,” như thể đấy là lời của một bài hát nào đó, một bài hát phổ biến mà lẽ ra tôi phải biết nhưng lại chưa từng nghe bao giờ. Tôi bảo bà, “Con không biết bài này.” Thế rồi, vì một lý do nào đó, tôi nghĩ rằng mình đã làm bà thất vọng vì đã không biết bài hát đó, nên tôi nói, “Con xin lỗi,” và bắt đầu nức nở khóc.
Điều này làm mẹ bình tĩnh hơn, vì ta đều biết rằng cơn bấn loạn của người khác luôn là phương thuốc hiệu nghiệm cho cơn bấn loạn của chính ta. Bà thôi hát, nướng một chiếc bánh kẹp khác cho tôi, lần này thì toàn tâm để ý đến nó nên nó đã không bị cháy. Khi tôi ăn, bà kể cho tôi câu chuyện đầu tiên trong chuỗi câu chuyện rùng rợn của bà về Dinh thự Emily Dickinson, ngôi nhà, như ai nấy đều biết, đã bị tôi lỡ tay đốt cháy, như mẹ đã lỡ tay đốt cái bánh kẹp vậy.
Lại nói đến bánh kẹp, lúc tôi từ New Hampshire về tới Amherst thì đồng hồ đã điểm chín giờ sáng, và trong gần hai mươi tư giờ qua tôi chưa có cái gì vào bụng, và đói đến mức có thể ăn ngay cái bánh kẹp cháy đã ba mươi năm tuổi của mẹ. Tôi quyết định sẽ dừng xe ở nhà bố mẹ để ăn bữa sáng trước khi lái tới căn hộ của mẹ ở Belchertown. Xe của bố đậu ngoài lối đi, nên tôi định sẽ vừa ăn vừa hỏi ông vài câu. Đám phân tích trái phiếu rõ ràng đã thó lá thư về Tư gia Robert Frost từ bố tôi, và có khi là cả bốn lá thư mà ông không nhớ rõ. Nhưng làm sao mà họ biết được chỗ cất những lá thư đó, và rằng chúng có tồn tại? Bố tôi có quen biết họ à? Rồi lại còn mẹ tôi nữa. Sao mẹ biết tôi đi tới Tư gia Robert Frost? Bố đã nói cho mẹ biết? Sao ông lại làm vậy? Và ông cũng nói cho cả ông thông gia biết hay sao? Và tại sao họ lại bám theo tôi?
Tôi mở cửa và ngay lập tức nghe thấy tiếng nước xối trong phòng tắm, tất nhiên điều đấy có nghĩa là bố tôi đang ở trong đó. Tôi đi vào bếp, định bụng sẽ ăn ngay bất cứ thứ gì tôi nhìn thấy. Nhưng tôi chỉ thấy những lon bia Knickerbocker đang nằm lăn lóc ở khắp nơi như thường lệ; và trên bàn bếp là một danh sách đi chợ có đề, “Sữa, ngũ cốc, bia, rượu, hoa, phô mai, bánh mì”, vân vân. Chẳng có gì bất thường về mảnh giấy này cả, và trong cơn đói tôi suýt quên phắt nó đi, cho tới khi tôi xem lại nét chữ: tuyệt nhiên không quen thuộc chút nào, tuyệt nhiên không giống với những mảnh giấy có ghi “Uống đi” hoặc “Ta nghĩ rằng ta hiểu anh” và tôi chợt nhận ra rằng nó cũng không hề giống với nét chữ trong những tấm bưu thiếp của bố. Tôi rút từ trong túi ra mảnh giấy từ đêm qua - mảnh giấy mẹ kẹp dưới cần gạt nước của xe tôi ở New Hampshire. Rõ ràng hai mảnh giấy được viết bởi hai người khác nhau: một bên đánh dấu chấm trên các chữ i, một bên thì không; một bên chữ viết san sát, một bên thì rất doãng. Phải là hai người khác nhau. Người viết những mảnh giấy “Uống đi” không phải là người viết cái danh sách đi chợ. Tôi biết mẹ đã viết mảnh giấy kẹp trên xe tôi, nghĩa là bố đã viết cái danh sách đi chợ. Nhưng còn những tấm bưu thiếp? Ai đã viết chúng?
Tôi buông tờ danh sách đi chợ xuống, chạy lên phòng mình, kéo chiếc ghế tới tủ quần áo, leo lên, và lần thứ hai trong hai ngày liên tiếp, lôi cái phong bì từ ngăn trên cùng xuống, dốc những tấm bưu thiếp ra và đọc. Tôi đọc nét chữ chứ không đọc nội dung, rồi tôi so sánh với mảnh giấy mẹ kẹp trên xe. Là của cùng một người. Rồi tôi so sánh với cái danh sách đi chợ. Rồi tôi lại nhìn đống bưu thiếp. Tấm gửi từ Florida có một bộ ngực to ngồn ngộn mặc cái bikini bé tí và bên dưới là câu bông đùa quen thuộc về hai quả dừa; tấm gửi từ Wyoming có hình một chú ngựa đang nhảy cỡn lên - nhưng những dấu bưu điện trên những tấm bưu thiếp lại không phải từ Boca Raton và Cheyenne, mà từ ngay Amherst, Massachusetts. Điều này đã quá rõ ràng: bố tôi chẳng gửi tấm nào (đó là lý do tại sao ông chẳng thấy mình liên quan gì tới cuốn hồi ký của Morgan Taylor). Mẹ tôi mới là người gửi chúng từ Amherst, bởi đó là nơi bà sống, cùng với tôi. Nhưng bà làm vậy để làm gì? Sao bà lại giả vờ là bố tôi để gửi cho tôi những tấm bưu thiếp từ những địa danh ông chưa từng sống hoặc đặt chân tới? Và nếu ông đã không làm những việc này ở những nơi xa xôi kia, thì ông đã đi đâu? Trong cái ngày tháng Mười mà ông bỏ nhà ra đi, trong cái ngày tháng Mười mà mẹ tôi đã hát câu hát bí ẩn của bà, làm cháy bánh kẹp của tôi và làm tôi khóc, ông đã đi đâu? Và khi tới nơi đó, ông đã giả vờ là ai?
“Bố!” tôi gọi toáng lên, phi xồng xộc xuống cầu thang, tay ôm đống bưu thiếp. “Bố!” Ngay sau khi tôi gọi, tôi nghe thấy tiếng vòi nước khóa lại, nên tôi tiến đến chỗ cửa phòng tắm tầng trệt, đầu ong ong những câu hỏi mà tôi đang chờ bố trả lời.
“Sam đấy à?” Tôi nghe thấy giọng nói vang lên từ phía sau, từ trong bếp chứ không phải phòng tắm. Và chẳng cần ngoảnh lại tôi cũng biết đó là giọng của bố, giống như việc tôi biết những mảnh giấy và đống bưu thiếp được viết bởi cùng một người, còn danh sách đi chợ thì được viết bởi một người khác. Nếu tôi là một thám tử thực thụ, chắc hẳn tôi đã có một chuyên gia phân tích giọng nói và chữ viết để giúp tôi khẳng định những điều này. Nhưng đây sẽ là một điều được tôi đưa vào cuốn cẩm nang đốt nhà: đôi khi ta phải tự trở thành chuyên gia của chính mình, và sau khi ta đã là chuyên gia, đôi khi ta lại ước giá như ta chẳng phải là chuyên gia gì cả.
“Sam, nhìn bố đây này,” ông nói. Đây không phải là người bố bị đột quỵ, cũng không phải người bố say đứ đừ, mà là người bố sợ sệt đang lên tiếng van xin con trai mình để nó khỏi phải thấy những thứ nó không nên thấy. “Sam, quay lại ngay đi.”
Tôi không quay lại, mà dán mắt vào cửa phòng tắm, lúc này đang từ từ mở ra, phát ra những tiếng run run như tiếng cửa mở trong những ngôi nhà cũ hoặc trên phim ảnh, và giọng của bố tôi nghe cũng run run như thế khi ông hét lên, “Deirdre, đừng mở cửa!”
Nhưng đã quá muộn: Deirdre, một người đàn bà tóc vàng hoe trạc tuổi bố tôi, nghĩa là cũng trạc tuổi mẹ tôi, đã đẩy cửa ra và đứng trước mặt tôi; quấn quanh những bộ phận quan trọng của bà ta là một chiếc khăn tắm, chiếc khăn mà mẹ tôi đã mua từ lâu lắm rồi, từ cái ngày bà còn hay mua những thứ xinh xắn cho căn nhà và còn coi nơi này là tổ ấm của mình.
“Xin chào Sam,” Deirdre nói, rồi chìa tay phải ra, với chiếc khăn tắm vẫn nằm nguyên trên cơ thể theo cái cách mà những chiếc khăn tắm vẫn luôn nằm nguyên trên cơ thể người phụ nữ trong những hoàn cảnh tương tự - một sự phối hợp hoàn hảo của cánh tay, nách, sườn và ngực. Và không biết làm gì khác, tôi bắt tay bà ta.
“Đã bao lâu rồi?” tôi hỏi bố. Chúng tôi đang ngồi uống bia bên bàn phòng ăn. Deirdre đã biến vào phòng bố. Tôi nghe thấy tiếng máy sấy tóc phát ra từ đó, rì rì rì rì.
“Cái gì bao lâu?” ông hỏi lại, gương mặt như đang đeo một chiếc mặt nạ thờ ơ, dù tôi có thể cảm nhận được là hai chân ông đang rung như búa khoan dưới bàn.
“Bố và Deirdre đã bên nhau bao lâu rồi?”
“Tính cả những lúc gián đoạn,” ông đáp, “thì khoảng ba chục năm.”
“Ba chục năm,” tôi lặp lại, nhẩm tính trong đầu. Một chuyện không hề khó. Ba chục năm. Giờ tôi ba mươi tám tuổi. Nghĩa là bố đã đi lại với Deirdre từ khi tôi tám tuổi, nghĩa là, đúng vào năm ông bỏ nhà ra đi…
“Bố,” tôi nói, “khi bố đi khỏi nhà, bố đã đi đâu?”
“Ta đến ở với Deirdre.” Tôi nhìn ông một lúc, và chắc hẳn những biểu lộ cảm xúc trên khuôn mặt tôi đã tiếp tục hỏi ông, không phải cái gì, tại sao hay khi nào, mà là ở đâu, bởi sau đó ông nói luôn. “Northampton,” một thị trấn không xa Amherst là mấy. Khoảng hai chục phút đi xe. Bố tôi đã sống cách chúng tôi khoảng hai chục phút đi xe trong suốt ba năm trời.
“Trong ba năm liền?”
“Ừ,” ông đáp. “Thế con nghĩ ta đi đâu chứ?”
Thay vì trả lời ông, tôi đưa chồng bưu thiếp cho ông. Thật là như trút được gánh nặng: thật là khoan khoái làm sao khi ta dùng những con chữ đáng tin, vững như bàn thạch của người khác thay vì những con chữ không đáng tin của chính ta.
“Ta có viết những thứ này đâu,” ông nói khi xem qua chồng bưu thiếp, rồi đút chúng vào phong bì và liệng ra giữa bàn, nó nằm đó giữa hai chúng tôi như một cái hàng rào giữa hai nhà hàng xóm. Bố tôi vẫn đeo chiếc mặt nạ thờ ơ, nhưng giờ tôi nghĩ là mình có thể trông thấy mấy vết khâu và đường chỉ, cùng tất cả những gì đang giữ cho khuôn mặt ông nguyên vẹn.
“Hẳn rồi,” tôi nói.
“Là nét chữ của mẹ con,” ông đáp.
“Hẳn rồi.”
“Sao bà ấy lại làm thế nhỉ?” ông hỏi, ắt hẳn là một câu hỏi tu từ, chỉ có điều ông lại nhìn tôi như muốn kiếm tìm một lời đáp, mà thật không may, tôi lại đang có sẵn.
“Vì mẹ không muốn con ghét bố,” tôi đáp. “Vì mẹ muốn con nghĩ rằng bố đang chu du ngoài kia để kiếm tìm bản thân thay vì sống ở Northampton với Deirdre.”
“Bà ấy là một người phụ nữ tốt,” ông nói.
“Con biết chứ.”
“Sao con biết?” ông hỏi.
“Vì đó là mẹ con,” tôi đáp, giờ mới nhận ra rằng “người phụ nữ tốt” mà ông nói là Deirdre chứ nào phải mẹ tôi. Tôi chầm chậm uống một ngụm bia, rồi thầm sắp xếp trong đầu những điều tôi muốn nói.
“À,” bố tôi nói, rồi cái mặt nạ thờ ơ nứt toang và bong ra khỏi mặt ông, nhường chỗ cho nỗi hổ thẹn và hối tiếc. Đầu ông rũ xuống như bị hút bởi mặt bàn, như thể nó là một trong những cực từ còn đầu ông là một thứ vừa được từ hóa. “Mẹ con cũng là một người phụ nữ tốt,” ông nói.
“Bố biết không,” răng tôi tuy đang nghiến chặt nhưng từng từ một vẫn tìm cách chui qua được, vì những câu chữ ta không nên nói luôn luôn như vậy, “chúng đã có tác dụng trong một thời gian dài, rất dài.”
“Cái gì cơ?”
“Mẹ gửi những tấm thiệp đó cho con vì bà không muốn con ghét bố. Và điều đó có tác dụng thật: con đã không ghét bố. Con chưa từng ghét bố cho tới lúc này đây.”
Những lời nói của tôi đã có kết quả như ý muốn: đôi mắt của ông ầng ậc nước và tất cả các bộ phận còn lại dường như cũng ầng ậc nước, cả cơ thể ông chùng xuống và hóa thành một hỗn hợp, chỉ trừ bàn tay phải, lúc này đang bấu chặt lấy lon bia. Và tôi, con trai ông, ngồi ở bên kia bàn: ngay giây phút tôi nói ra cái lời chua cay căm hờn đó, tôi cũng tan chảy thành nước, chỉ trừ bàn tay phải của tôi, lúc này cũng đang nắm chặt lon bia của mình. Cứ tưởng tượng mà xem, nếu mẹ tôi bước vào lúc này và nhìn thấy hai người đàn ông nhà Pulstfer trông hệt như là hình ảnh trong gương của nhau với ba mươi năm cách biệt về tuổi tác. Cứ tưởng tượng mà xem, bà sẽ nghĩ gì nếu bà bắt gặp hai chúng tôi ngay lúc này đây, hệt như là đêm qua khi bà bắt gặp cảnh tôi khiêu vũ, hôn hít và sờ soạng người phụ nữ không phải vợ tôi, và đột nhiên tôi hiểu ra đích xác tại sao mẹ tôi lại đã nghĩ rằng bà hiểu tôi - tôi đã ngoại tình sau lưng vợ mình giống như bố tôi đã làm với bà - và tôi cũng ngộ ra rằng việc chúng ta căm ghét bố mình thực ra chỉ là một sự tập dượt cho việc căm ghét chính bản thân ta. Nếu mẹ tôi đang ở đây, trong căn bếp này, tôi nhất định sẽ xin lỗi bà, và có thể sẽ xin lỗi cả bố tôi nữa, vì đã sống giống ông.
“Bố,” tôi nói, “có phải bố đã nói cho mẹ biết rằng con đi New Hampshire không?”
“Ừ,” ông đáp. Ông vẫn đang cúi gằm đầu, nhất định không nhìn vào mắt tôi. Giọng ông nghe như giọng một đứa trẻ, mếu máo và cao vút. “Sáng hôm qua ta đã bảo bà ấy đấy, lúc bà ấy qua đây. Bà ấy hỏi con đi đâu và ta đã bảo bà ấy. Rồi bà ấy đi tìm con.”
“Tại sao?”
“Vì bà ấy lo lắng cho con. Vì bà ấy không muốn con làm điều gì ngớ ngẩn.”
“Đã quá muộn rồi’’ tôi nói.
“Chuyện thường là thế,” bố thừa nhận.
“Bố còn nói với ai khác nữa không?” tôi hỏi.
“Có,” ông đáp. Ông khẽ ngẩng đầu, trông mặt ông não nề nhưng cũng tràn đầy hy vọng, như thể chỉ cần ông cho tôi được một thứ tôi muốn, thì ông sẽ có thể cho tôi nhiều hơn thế.
“Để con đoán nhé,” tôi nói. “Gã cao, gầy, tóc vàng rơm.”
Bố tôi gật đầu. “Là một trong những cạ rượu của ta. Chắc cũng được mười lăm năm rồi. Cứ cách một tuần lại đến uống một lần, chỉ trừ tuần trước. Hôm qua cậu ấy ghé chơi, ngay sau khi mẹ con đi khỏi. Mẹ con suýt thì đụng phải cậu ấy lúc bà ấy lái xe ra khỏi lối đi. Cậu ấy hỏi bố rằng bà ấy đang đi đâu mà vội thế…”
“Rồi bố nói cho cậu ta biết.”
“Ừ,” ông đáp. “Đó là người mà con muốn hỏi chuyện đó hả?”
“Thomas Coleman,” tôi nói. “Bố không biết tên cậu ta à?”
“Chắc cũng có lần cậu ấy nói cho ta hay, nhưng ta quên rồi,” bố tôi lắc lắc đầu. “Nào ta có nghĩ nó lại quan trọng với con.”
Tôi có thể hình dung ra cảnh Thomas Coleman bảo bố tôi, Cháu là Thomas Coleman, rồi đợi ông nhận ra cái tên ấy và đáp lại cậu ta, Ta vô cùng hối tiếc về những gì con trai ta đã làm. Ta vô cùng hối tiếc về những gì đã xảy ra với bố mẹ cháu, vô cùng hối tiếc về mọi thứ. Nhưng cuối cùng thì Thomas cũng nhận ra rằng cậu ta không thể có được điều mình muốn từ bố tôi, nên mới quyết định đến tìm tôi. Tôi tự hỏi liệu mọi thứ có khác đi không nếu bố tôi nhận ra tên của Thomas và xin lỗi? Liệu một lời xin lỗi có thể làm đảo lộn mọi thứ hay không?
“Thế còn đám phân tích trái phiếu?” tôi hỏi. “Bố có biết họ không?
“Đám nào?” ông hỏi, và tôi tả lại năm người bọn họ. Khi nghe xong, ông gật đầu và nói, “Nghe ra thì đúng là ông nhà văn và nhóm trợ lý rồi.”
“Nhà văn và nhóm trợ lý à,” tôi lặp lại.
“Mấy hôm trước có năm người tới thăm, nhưng chỉ có một người nói. Anh ta nói rằng đang viết một cuốn sách về con; và đề nghị ta kể cho anh ta nghe những câu chuyện về con mà anh ta còn chưa biết.”
“Thế nên bố mang đống thư ra cho họ xem?” tôi hỏi, dù đã biết tỏng là ông đã làm vậy. “Con không thể tin nổi là bố đã mang đống thư ra cho họ xem.”
“Anh ta nói anh ta sẽ phác họa chân dung của con dưới con mắt cảm thông,” ông nói. “Anh ta nói anh ta thuộc về phe ủng hộ con.”
“Sao bố không thấy nghi ngờ khi có tận năm gã mà không phải một?” tôi hỏi.
“Thì để xuất bản một cuốn sách cũng cần nhiều người lắm chứ,” ông đáp. “Tin ta đi, ta biết mà.”
“Bố,” tôi nói, “bố có còn làm việc ở nhà xuất bản không?
“Không,” ông thú nhận. “Ta về hưu rồi.” Có lẽ cách ông về hưu cũng giống với cách của mẹ tôi, nhưng tôi không quan tâm lắm nên chẳng hỏi, và tôi cũng chẳng cần phải hỏi xem vào ban ngày ông thường đi đâu. Ông đã ở cùng Deirdre trong ba năm ấy, và tôi đoán ông vẫn đi lại nơi đó.
“Mẹ có biết về Deirdre không?”
“Vừa có vừa không,” ông đáp. “Thật khó giải thích.”
“Thì bố cứ thử xem nào,” tôi bảo ông.
“Bradley, mình phải đi rồi.” Giọng Deirdre vang lên, từ ngay đằng sau tôi. Có khi bà ta đã đứng đó nghe chúng tôi nói suốt từ nãy đến giờ cũng nên. Nhưng tôi không quay lại nhìn bà ta, cũng không nhìn bố tôi. Tôi ghim chặt ánh mắt xuống mặt bàn bếp, trong khi ông nhấc mình lên khỏi ghế và lết ra khỏi phòng. Khi bước qua tôi, ông đặt tay lên vai tôi và để nguyên như vậy trong giây lát, và tôi bỗng thấy không ghét ông nữa, thật đấy, và có lẽ đây là lý do tại sao người ta lại làm tổn thương những người yêu thương mình: bởi vì thật khó mà ghét họ lâu, một khi đã trót yêu thương họ.
Rồi bố nhấc tay lên và lết ra khỏi phòng. Thế chỗ cho bàn tay ông là khuôn mặt của Deirdre: bà ta cúi xuống, gần như gí sát cằm vào vai trái của tôi. Khuôn mặt bà ta ở quá gần để tôi có thể nhìn rõ, và tôi tự hỏi liệu các nhà khảo cổ và người ngoài hành tinh có biết điều này không: sẽ tốt hơn nhiều nếu ta ngắm nghía những nền văn hóa và thế giới xa lạ từ xa, vì nếu ta gí thật sát, ta sẽ chẳng nhìn thấy gì ngoài những lỗ chân lông và mỹ phẩm người ta dùng để che đậy chúng, và cũng sẽ chẳng ngửi thấy gì ngoài mùi tóc ẩm và kem đánh răng, và đó là tất cả những ấn tượng Deirdre để lại trong tôi buổi sáng hôm đó khi bà ta thì thầm, “Bố cậu và tôi đã rất hạnh phúc trong một khoảng thời gian dài. Thế rồi cậu quay trở lại. Lẽ ra cậu không nên quay lại mới phải. Và cậu cấm có được phán xét bọn tôi.”
Đoạn bà ta cũng đi mất. Tôi nghe thấy tiếng bà ta đóng sập cửa ra vào lại trên đường đi ra xe. Tôi nán lại vài phút để khỏi phải nhìn thấy bố và bà ta ngồi trong xe của ông mà cãi cọ, thương xót hay an ủi nhau. Tôi chậm rãi uống nốt lon bia, rồi bước vào bếp và đặt cái lon lên nóc tủ lạnh, nơi bố tôi vẫn để những lon bia rỗng mỗi khi ông còn đủ sự chu đáo trong người để không bạ đâu vứt đó. Rồi tôi mở nắp một lon nữa. Bụng tôi sôi sùng sục và tôi giả vờ rằng đấy là vì mình đang đói. Thứ duy nhất ăn được trong nhà là một lát bánh mì trắng: tôi bỏ nó ra khỏi vỏ ni lông rồi nhai khoan thai và từ tốn như một con bò đặc biệt trầm ngâm. Rồi sau khi đã gặm xong miếng bánh, sau khi đã cho bố và Deirdre đủ thời gian để đi khuất tầm mắt mình, tôi bỏ lon bia vừa mở vào một túi giấy và lôi một lốc sáu lon bia ra khỏi tủ lạnh. Tôi sẽ cần đến từng giọt dũng cảm mà những lon bia có thể trút vào người tôi, cộng thêm mấy giọt nữa. Bởi vì giờ đây khi đã bắt gặp bố và nàng Deirdre của ông, tôi sẽ phải đi nói chuyện với những người đã bắt gặp tôi và nàng Deirdre của tôi.