Một trong những dấu hiệu của tuổi già là trong khi ta thao thao kể lại câu chuyện dài lê thê của cuộc đời mình, ta luôn thêm vào, mỗi khi chuyển cảnh, một câu giới thiệu như sau: “Và một lần nữa, tôi lại có mặt ở__, lần đầu tiên trong__ năm vừa qua.” Lại thêm một lý do nữa để cho ta ở lì trong nhà, hoặc ít ra là để cho những độc giả lắng nghe câu chuyện của ta ước sao ta đã ở nhà.
Nhưng tôi đã không ở nhà, và một lần nữa, tôi lại có mặt ở Springfield, lần đầu tiên trong năm năm vừa qua. Cảnh vật đã tàn tạ hơn nhiều so với những gì tôi nhớ. Phố Main đã bị bỏ hoang hoàn toàn; những quầy đổi séc ra tiền mặt vốn từng thế chỗ những nhà hàng Ý và quán kẹo nay đã bị đóng ván kín mít. Có thể vì thành phố này chẳng còn séc nữa để mà đổi thành tiền. Một nửa số bóng đèn gắn trên rạp phim Paramount đã cháy bóng, mà như thế cũng chẳng sao vì tấm panô nằm giữa chúng đang trống trơn và chẳng có phim nào đang được chiếu cả. Còn tòa nhà thi đấu màu xám - nơi tôi đã xem một trận khúc côn cầu nhạt nhẽo và đã dẫn Anne Marie với bọn trẻ tới để xem xiếc - đã đóng cửa để sửa chữa, quây xung quanh là một hàng rào gỗ ép cao mười thước và tấm biển đề XIN LỖI VÌ SỰ BỪA BỘN!! Những tòa nhà cổ kính, hùng vĩ nằm dọc theo quảng trường Tòa án - nào là tòa án, nào là nhà hát giao hưởng, nào là Nhà thờ Nhất thể - thì vẫn hùng vĩ và sáng rực lên nhờ những bóng đèn pha sáng lóa cả mắt, có thể là để dọa lũ trộm cắp. Tiệm cắt tóc cạnh tòa án rõ ràng đã bị đóng cửa từ lâu - cái cột, đặc điểm nhận dạng của những tiệm cắt tóc, tuy vẫn còn đó nhưng màu sơn xanh đỏ đã nhạt nhòa - mặc dù trên cửa sổ có treo một tấm biển hiệu đề rằng nó đã hoạt động kể từ năm 1892 đến giờ. Chếch chếch nó, về phía Đông của quảng trường Tòa án, là một cửa tiệm cũ kỹ bên ngoài xếp đầy lò sưởi vứt đi, phải đến vài tá là ít, chúng được chất thành hàng ngay ngắn như thể để trưng bày, như thể để dạy cho người qua đường những hạn chế của hệ thống sưởi hơi. Tôi chưa từng thấy một nơi nào hoang tàn đến thế; thậm chí cũng chẳng có tuyết để che phủ phần nào. Rõ ràng, ngay cả tuyết cũng cho rằng nơi này đã vô phương cứu vãn.
Đường vào quán Hoàng tử Sinh viên là một con hẻm nhỏ cạnh quảng trường Tòa án. Cánh cửa được làm từ một phản gỗ dày nên tôi không thấy được bên trong có sáng đèn hay không. Cũng không có âm thanh gì vọng ra, không có tiếng nhạc, giọng người nói hoặc tiếng bát đĩa leng keng. Tôi ngước mắt lên và nhìn thấy căn hộ cũ mà mình từng sống với Anne Marie, nơi chúng tôi thường bày biện lại đồ đạc và chăm sóc hai đứa nhóc. Cửa sổ tối om - cửa sổ của tất cả những căn hộ khác trong tòa nhà cũng đều tối om. Gió lùa lạnh buốt, nhưng ngay cả cơn gió cũng im lặng đến đáng sợ, như thể Springfield không xứng đáng với những âm thanh gào rú của gió vậy. Đây là một trong những lúc ta cảm thấy toàn bộ thế giới thật trống trải, như thể ta là người duy nhất còn sót lại và ta chỉ ước sao được chuyển tới cái thế giới (hoặc phản thế giới) mà nhân loại đã di cư tới. Tôi chợt nhận ra rằng Anne Marie đã nói dối tôi về việc mẹ tôi làm việc ở đây. Tôi chẳng biết vì sao nàng lại nói dối tôi về chuyện này, nhưng có thể nàng nghĩ tôi sẽ mở cửa và thấy rằng quán Hoàng tử Sinh viên đã trống trơn, và đó sẽ là một phép ẩn dụ cho cái chặng còn lại của cuộc đời tôi.
Nhưng quán ăn không trống trơn, mà ngược lại, nó lúc nhúc khách khứa. Dù cái quán này có đến ba phòng rộng thênh thang với những chiếc kệ cao tít chất đầy ắp vại uống bia với quốc huy của Đức và những đồ trang trí của Bavaria đã có từ tận đời nảo đời nào - dù có thế thì quán vẫn chật ních. Tất cả các bàn đều có khách ngồi, và ở đâu cũng có một hàng dài người đứng chờ. Có vẻ như mọi cư dân Springfield, cả trong quá khứ và hiện tại, đều có mặt ở đây, uống bia đen và đợi ăn thịt rán. Quả thật là chẳng có gì tuyệt vời bằng cái bầu không khí huyên náo được tạo ra bởi tiếng cười nói vui vẻ của con người, nghe như thể là hóa thân của những cơn gió ngoài kia, và đây là lần đầu tiên tôi hiểu được những lời mẹ kể cho tôi nghe về nó trong những cuốn sách bà đã bắt tôi đọc.
Lúc đầu tôi chưa nhìn thấy mẹ tôi đâu. Tôi bước qua lần lượt cả ba phòng: phòng bar, nơi tôi và bạn đọc sẽ sớm quay trở lại; phòng ăn đại cỡ, nơi chật kín những đại gia đình ăn những bữa đại tiệc trên những chiếc bàn vĩ đại; và phòng mới nhất trong ba phòng, một căn phòng mà đâu đâu cũng là những tấm gương với những tay đàn ông đội mũ Red Sox - chiếc mũ đại diện cho tình yêu bản thân, nỗi ghét bỏ bản thân và cách thức hói đầu ở nam giới - và giả vờ là mình thích hút xì gà, bọn họ đang lớn tiếng tán chuyện về việc làm ăn và hờ hững theo dõi một chương trình thực tế trên ti vi. Trong mỗi phòng đều có những cô hầu bàn đứng thành từng đội, trên người mặc bộ váy trắng trông như bao tải. Năm năm về trước những cô hầu bàn cũng mặc hệt như vậy, và đến giờ tôi vẫn không hiểu đây là bộ y phục truyền thống của nữ hầu bàn ở Đức hay chỉ là ý tưởng của một anh người Đức nhập cư về cái bộ y phục truyền thống của nữ hầu bàn người Đức sẽ được người Hoa Kỳ ưa chuộng nhất. Gì thì gì, đến giờ họ vẫn mặc bộ đồng phục đó. Nhưng mẹ tôi không nằm trong nhóm nữ hầu bàn, hoặc là tôi chưa nhìn ra bà, nên tôi bèn lui về phòng bar, căn phòng mà những người đàn ông đang kiếm tìm một người phụ nữ vốn thường lui tới. Tôi kiếm một ghế trống bên quầy, ngồi xuống và đợi đám phục vụ quầy chú ý đến mình để gọi một vại bia thật to, dù cả ngày hôm nay tôi đã uống quá nhiều bia đến mức chẳng còn thấy cảm giác gì khi uống, ngoài việc muốn uống thêm. Quầy bar đông kín người đến mức tôi phải đợi ít nhất mười phút mới được phục vụ bởi một chàng trai trẻ tuổi hơn tôi, có cái đầu cạo nhẵn và bộ ria hình ghi đông xe đạp của các ông lão. Vì phải đợi quá lâu, tôi bèn gọi luôn một lúc hai vại bia lớn loại mạnh nhất để tiết kiệm thời gian cho cả cậu ta và tôi.
“Anh bạn có đi cùng ai không thế?” cậu ta đặt xuống trước mặt tôi hai vại bia thủy tỉnh lớn, nặng trịch.
“Không,” tôi đáp. Cậu phục vụ nhìn tôi, rồi nhìn hai vại bia, rồi lại nhìn tôi như muốn nói một câu tương tự như trong mảnh giấy của mẹ tôi, Tôi nghĩ rằng tôi hiểu anh. Mà ai biết được: có thể cậu ta hiểu tôi thật thì sao?
Tôi ngồi đó một lúc với hai vại bia, vại đầu được uống rất nhanh, vại sau thì từ từ nhâm nhi. Sự ồn ào trong quán cùng những người tạo ra nó cứ không ngừng dềnh lên rồi lại rút lui, dềnh lên rồi lại rút lui, một cách êm ái, không giống như một đội quân, mà như một ngọn thủy triều dâng lên và rút xuống, một ngọn thủy triều đặc biệt bởi nó sẽ không làm bạn ướt nhẹp khi lắng nghe tiếng thủy triều mơ màng. Một vài phút sau, mà cũng có thể là một giờ sau, tôi thấy ông cụ Goerman chủ quán đi một vòng quanh các bàn để “đối ngoại”, hết bắt tay người này lại vỗ vai người khác. Ông cụ đã già đi, trên mặt đã nhiều chấm đồi mồi hơn, cột sống đã xoắn xuýt hơn, nhưng ông trông vẫn cứ là cái ông cụ Goerman tôi từng biết. Cũng giống cậu phục vụ quầy bar, ông nuôi một bộ ria hình ghi đông xe đạp, và tôi kết luận rằng nếu bao tải trắng là đồng phục của nữ hầu bàn thì bộ ria đó chính là đồng phục của nam hầu bàn. Nhưng gì thì gì, được gặp lại ông cụ thật hay. Tôi bắt gặp ánh mắt ông cụ và giơ lên cái vại bia thứ hai của mình, lúc này đã sắp cạn, để chào ông cụ. Ông cụ vẫy tay chào lại, và một cảm giác ấm áp dâng trào trong tôi, cái cảm giác vẫn thường đến với ta mỗi khi ta được nhận ra, được nhớ tới, và được nói rằng ta thuộc về nơi này. Nhưng rồi tôi lại thấy ông cụ vẫy tay chào gần hết khách khứa trong quán Hoàng tử Sinh viên tối hôm đó, dù chắc hẳn ông không thể biết được tất cả những người ông đã vẫy chào. Thế nên tôi bèn tiếp tục nhâm nhi vại bia và điều này giúp cho cảm giác ấm áp trong tôi được kéo dài ra, dài hơn biên độ thực của nó, và đây rõ ràng là một trong những lý do vì sao ta uống bia, nếu không nói là lý do chính.
Cậu phục vụ đã để ý thấy tôi đã xử lý xong vại bia thứ hai, và chắc hẳn cũng đã để ý thấy tôi không có cử chỉ nào đáng ngờ trong và sau khi uống. Cậu ta hẳn đã cho rằng tôi thuộc tip người thích nốc bia trong hòa bình và thích nốc hai vại bia lớn một lúc, nên cậu ta bèn mang cho tôi thêm hai vại nữa.
“Anh có muốn ăn gì không?” Cậu ta thận trọng vân vê bộ ria.
“Ý kiến hay đấy,” tôi đáp. Chỉ tích tắc sau đó - những lúc say xỉn thời gian trôi qua rất nhanh - tôi đã thấy hiện ra trước mặt một đĩa xếp đầy năm loại xúc xích Munich với một vốc mù tạt lớn ở rìa đĩa, và một đĩa khác bày một tảng lớn cá hồi xốt kem, chung quanh xếp kín bánh quy giòn. Cả hai đĩa này đều được dọn ra từ đằng sau tôi, một từ bên trái, một từ bên phải, còn người phục vụ thì đứng tì sát vào lưng tôi. Đây không phải là cách thức ăn được dọn ra trong một quán ăn thông thường, trừ phi đó là một quán ăn trong giấc mơ với người phục vụ là một người đẹp muốn lên giường với bạn, hoặc trừ phi người phục vụ đã biết bạn từ trước.
Và người phục vụ đúng là có biết tôi thật. Là mẹ tôi chứ ai. Tôi quay người nhìn bà; bà đang mặc cái bao tải trắng. Tôi chợt nhận ra mình đã thấy nó từ trước, trong cái đêm đầu tiên khi tôi về nhà và nhìn thấy mẹ tôi trông như Bà Chúa Hồ. Nhưng bà không phải Bà Chúa Hồ mà là nữ hầu bàn ở Hoàng tử Sinh viên. Tôi lẳng lặng đưa một vại bia cho bà, bà nhanh tay cầm lấy và uống cạn, rồi trả lại tôi cái vại rỗng. Bà vẫn chưa nói câu nào. Tôi không muốn bà nói câu nào, vì tôi sợ rằng cũng giống như nhà Mirabelli, bà sẽ gọi tôi bằng một cái tên không phải là Sam, có thể là Xà Lách Trộn hoặc một cái tên nào đấy khác, và dùng cách đó để nói rằng bà không còn hiểu tôi nữa, hoặc không còn muốn hiểu tôi nữa.
“Sam à…” Cuối cùng bà cũng lên tiếng, nhưng trước khi bà kịp nói gì hơn, tôi nhảy xuống khỏi chiếc ghế đẩu và ôm bà thật chặt vì bà đã gọi tôi bằng tên thật của mình. Bà để yên cho tôi ôm và khẽ ôm lại tôi. Người bà tỏa ra mùi táo xốt, cái món mà chắc hẳn bà đã phục vụ tối nay; khi còn nhỏ, tôi vẫn thường ngửi thấy mùi táo xốt trên người bà, và chắc hẳn hồi đó bà cũng thường làm món này cho tôi.
“Mẹ làm gì ở đây thế này?” tôi nói vào mái tóc bà trong lúc hai tay vẫn ôm chặt bà.
“Mẹ làm việc ở đây,” bà nói, khẽ đẩy tôi ra.
“Con biết,” tôi nói. “Nhưng sao lại là ở đây? Mẹ có biết Anne Marie và con đã từng sống ở trên tầng không?”
“Có,” bà đáp. “Đó là lý do tại sao mẹ làm ở đây. Và đó cũng là lý do tại sao mẹ thường tới uống ở đây trước khi làm việc ở đây.”
“Con không hiểu.”
“Mẹ chỉ muốn ở gần bên con thôi, Sam à, mẹ chỉ muốn biết xem con sống ở đâu.”
“Nhưng sao mẹ không lên gác và cho con biết là mẹ ở ngay gần con?”
“Mẹ không biết nữa,” bà đáp. “Mẹ không muốn ở quá xa, nhưng cũng không muốn ở quá gần.”
“Hẳn là thế rồi,” tôi nói. Bố tôi bỏ nhà đi nhưng lại dọn tới nơi cách nhà hai mươi phút đi xe; mẹ tôi muốn ở trong cùng một tòa nhà với tôi, nhưng lại không muốn ở trong cùng một căn hộ. Tôi dọn về Amherst, nhưng lại không ở quá gần bố mẹ; và rồi tôi dọn về nhà bố mẹ, nơi không quá gần nhà của tôi ở Camelot. Không quá gần là lời nguyền của gia đình tôi, cũng giống như là loạn luân đối với một số gia đình hoàng tộc, và sự ngạo mạn đối với một số khác. “Nhưng hượm đã,” tôi nói. “Bọn con đã chuyển về Camelot năm năm trước rồi mà.”
“Mẹ biết.”
“Nhưng mẹ vẫn ở đây. Tại sao vậy?”
“Này,” một cô hầu bàn nói với mẹ tôi khi đi ngang qua chỗ chúng tôi với một khay đầy ắp cốc đĩa, “Bác Beth, giúp tôi một tay. Bàn số sáu ấy.”
“Mẹ sẽ quay lại ngay,” bà bảo tôi, rồi rảo bước về cái nơi mà tôi đoán là bàn số sáu.
“Beth!” tôi gọi với theo. “Con đoán không sai mà. Giờ thì mẹ đúng là Beth!”
“Anh biết Beth à?” cậu phục vụ quầy nói. Tôi ngồi lại lên ghế đẩu và xoay về phía cậu ta. Hai vại bia nữa đã chen vào đứng giữa hai chúng tôi.
“Tôi cũng không chắc nữa,” tôi đáp.
“Bác ấy thật hiền dịu,” cậu ta nói.
“Thật à?” Trong số tất cả những từ tôi đã từng được nghe người khác tả về bà, tôi chưa bao giờ nghe thấy từ “hiền dịu”. Thậm chí đến bố tôi cũng chưa bao giờ dùng từ đó để nói về bà. Tôi tự hỏi không biết ông có dùng nó để tả Deirdre không. Tôi tự hỏi không biết mẹ tôi có bao giờ tự hỏi liệu ông có dùng nó để tả Deirdre không. “Beth hiền dịu lắm sao?”
“Đương nhiên rồi,” cậu phục vụ nói. “Cứ nhìn thì biết.”
Tôi quay người nhìn. Mẹ tôi đang đứng bên một bàn trong phòng bar, nói chuyện với một người đàn ông đang ngồi cùng cậu con trai. Ông này là một người Mỹ trắng chính cống, theo đạo Bà la môn và có mái tóc bạc trước tuổi, mặc quần nhung kẻ sậm và đi đôi ủng vịt chống nước. Còn cậu con trai chẳng có vẻ gì là Mỹ trắng hay theo đạo Bà la môn. Cậu nhóc này là cái kiểu bận-quần-baggy-đi-giày-sneaker-đắt-tiền-và-đeo-tai-nghe-suốt-ngày mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu, New Jersey hay là California. Cậu nhóc này thuộc tip thiếu niên khi lớn lên sẽ chuyển tới Phoenix bán bảo hiểm trong một tòa nhà lát kính và tưới cỏ ở ngoài sa mạc. Tôi có thể nghe thấy ông bố đang lên giọng giảng giải gì đó với mẹ tôi, bởi nhìn ông ta thì đúng chất một ông Bà la môn chuyên thích dạy đời người khác. Bảo sao cậu con lại đeo tai nghe cá ngày! Bà mẹ Elizabeth của tôi sẽ không khi nào chịu để người khác lên lớp mình quá mười giây, bà chắc chắn sẽ giật đôi tai nghe ra khỏi đầu thằng nhóc và bảo ông Bà la môn hãy tự tọng nó vào họng mình đi. Nhưng Beth thì khác. Bà đứng đó với nét mặt dịu dàng và lắng nghe cho đến khi ông bố ngừng ba hoa; rồi bà đưa tay vò tóc cậu con trước khi quay vào bếp. Mẹ tôi là một bà Beth, hẳn rồi, và Beth rõ ràng là một bà già hiền dịu.
“Cậu nói đúng,” tôi nói. “Beth thật hiền dịu.” Chắc hẳn tôi đã thốt ra câu này với một vẻ mê đắm, nên cậu phục vụ nhăn mặt đầy thông cảm và nói, “Tiếc thay cho anh, bác ấy đã có chồng rồi.”
“Có chồng à,” tôi phẩy tay, ý muốn nói, Ai chẳng có chồng?
“Ừ, nhưng quả thực là bác ấy đã có chồng rồi mà,” cậu ta nói.
“Cậu gặp chồng bác ấy chưa?” tôi hỏi.
“Chưa,” cậu ta đáp, “nhưng bác ấy hay kể chuyện về chồng mình lắm.”
“Kể như thế nào?”
“Rằng ông ấy rất thông thái,” cậu ta nói, và có lẽ vì cảm thấy rằng tôi thì không được như vậy, cậu ta bèn đưa ngón tay trỏ lên gõ gõ vào trán để minh họa.
“Tôi cược là ông ấy đọc nhiều sách lắm,” tôi nói.
“Ông ấy còn được trả tiền để đọc sách cơ,” cậu ta lắc đầu như thể tự hỏi sao trên đời lại có người trả tiền cho người khác để làm cái công việc ấy, một công việc mà, xét cho cùng, nếu được trả tiền cậu ta cũng sẽ sẵn sàng làm. Rồi cậu ta tự rót cho mình một vại bia miễn phí, vừa uống vừa lắc đầu đầy ghen tị với sự may mắn của một số đàn ông. “Đã thế lại còn cưới được một phụ nữ như Beth chứ.”
“Họ có con cái gì không?” tôi hỏi.
“Một đứa. Anh này là nhà khoa học.”
“… chuyên về kỹ nghệ đóng gói,” tôi tiếp lời.
“Anh biết anh ta à?” cậu ta hỏi. “Bác ấy cũng rất hay kể chuyện về anh con trai. Rằng anh này thông minh tuyệt vời. Một anh con trai rất cừ. Anh sẽ không tìm được một người phụ nữ nào yêu hai người đàn ông hơn bác ấy yêu chồng và con mình đâu.”
“Hai người đó may mắn thật,” tôi nói.
“Còn gì nữa,” cậu ta tán thành, rồi quay sang đầu bên kia quầy. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao mẹ tôi lại lưu lại quán Hoàng tử Sinh viên sau khi tôi chuyển tới Camelot. Vì ở đây bà có thể hóa thân thành Beth, một người phụ nữ hiền dịu với một gia đình mỹ mãn. Nhưng khi về tới Amherst thì bà lại trở về làm Elizabeth, một cựu giáo viên nghiện rượu phải sống thui thủi một mình trong căn hộ ở Belchertown trong khi người chồng nghiện rượu của bà mải bù khú với nhân tình, đứa con trai thì không những mang tiền án tiền sự mà còn bị đuổi khỏi nhà của anh ta, bỏ việc, hôn hít đàn bà lạ và rất có thể là đã đốt thêm một loạt dinh thự của các đại văn hào vùng New England. Giờ tôi đã hiểu mọi thứ: nếu tôi là mẹ tôi thì tôi cũng muốn đóng vai Beth ở quán Hoàng tử Sinh viên vậy.
Ngay lúc đó, có người huých mạnh vào gáy tôi và chả thèm xin lỗi như khi ta đụng phải người lạ. Tôi quay lại và thấy mẹ tôi đứng đó, tay bưng khay phục vụ. Cạnh tôi là một ghế trống, nhưng bà không ngồi. Tôi đoán là bà thích mặt đối mặt như thế này để thấy được toàn bộ con người tôi.
“Giờ thì kể cho mẹ đi,” bà lên tiếng. “Cô gái ở New Hampshire là ai vậy?”
“Con cũng không biết nữa,” tôi thú nhận.
“Để mẹ đoán nhé,” bà nói. “Lúc đó con đang say xỉn, nên việc đó chả có ý nghĩa gì cả.”
“Đúng là con đã say’’ tôi nói và cố tình không nhắc lại cái cụm chả có ý nghĩa gì cả, vì đương nhiên là nó có ý nghĩa. “Mẹ viết trên tờ giấy ăn rằng mẹ nghĩ mẹ hiểu con. Ý mẹ là gì cơ?” Và rồi, trước khi bà trả lời, hoặc không trả lời, tôi tự giải nghĩa luôn. “Con đã biết tất cả về bố rồi. Con biết bố đã không gửi bưu thiếp từ những địa danh đó. Con biết mẹ đã viết và gửi chúng từ Amherst. Con biết mẹ bị sa thải ở trường vì say xỉn. Mẹ à, con đã biết kha khá rồi.”
Bà buông một tiếng thở dài rồi ngồi lên chiếc ghế cạnh tôi. Tất cả sự hiền dịu đã biến mất, và cả sự thông minh nữa. Mẹ tôi đã không còn là một bà Beth hay Elizabeth, chỉ đơn thuần là một người đàn bà mệt mỏi não nề chưa kịp tìm lấy một cái tên thích hợp cho mình.
“Con muốn gì ở mẹ hở Sam?” Bà nhắm mắt, tựa lưng vào thành quầy.
“Con muốn mẹ kể cho con nghe những gì đã xảy đến với bố vào ba mươi năm trước.”
Và bà kể hết. Bà đã quá kiệt sức để không kể cho tôi mọi chuyện. Nên bà đã kể một mạch cho tôi nghe những chuyện của ba chục năm trước: hôm ấy, theo lịch làm việc, bà sẽ nghỉ qua đêm ở Boston để dự một cuộc hội thảo cho giáo viên trường công, nhưng khi xong việc sớm bà quyết định về nhà ngay tối đó thay vì vào sáng hôm sau. Bà cứ nghĩ là bố tôi sẽ phải ngạc nhiên và vui mừng lắm, nhưng khi bước vào phòng bếp thì đập vào mắt bà là cảnh tượng một người đàn bà đang ngồi trên cái bếp - một phụ nữ tóc vàng xinh đẹp, váy tốc lên, để lộ toàn bộ cặp chân trắng bóc lúc này đang giơ cao như càng cua. Bố tôi đang đứng giữa hai chân cô ta, tuy quần ông chưa tụt xuống mắt cá chân nhưng rõ ràng là sắp sửa, bạn chẳng cần là thiên tài cũng biết.
“Cô ấy thích nấu nướng, nhưng không phải theo cách này,” bố tôi nói với người đàn bà kia, rồi cả hai cùng cười khùng khục với nhau. Cái người thích nấu nướng ở đây hẳn chính là mẹ tôi. Bạn cũng chẳng cần là thiên tài để đoán được điều này.
“Lúc đó con đang ở đâu vậy?” tôi hỏi.
“Ở trên gác, ngủ say. Mẹ nhớ rõ. Mẹ còn nhớ là mẹ không muốn đánh thức con dậy. Mẹ nhớ đã bảo cô ta xéo ngay khỏi nhà này, nhưng chỉ dám nói khẽ, vì không muốn đánh thức con. Và cô ta biến luôn.”
“Cái hôm bố bỏ đi, mẹ cũng nói câu đó.”
“Câu nào?”
“ ‘Cô ấy thích nấu nướng, nhưng không phải theo cách này’ ”
“Thế à?” Đến giờ bà mới mở hai mắt ra.
“Sau khi mẹ làm cháy cái bánh kẹp.”
“Buồn cười nhỉ,” bà nói. “Mẹ chẳng nhớ gì cả. Mẹ nhớ rất nhiều thứ, nhưng riêng chuyện đó lại không.”
“Thế bố nói gì?”
“Ông ấy nói mình đã say xỉn và điều đó chả có ý nghĩa gì cả, và nói ông ấy yêu mẹ, rằng lần ấy là lần đầu chuyện đó xảy ra và hứa sẽ không bao giờ tái phạm.”
“Bố nói thế à,” tôi bỗng thấy thật xấu hổ khi nhận ra hầu hết những lời đó cũng vừa được mình thốt ra - xấu hổ vì những việc tồi tệ tôi đã làm và những lời xin lỗi tôi đã vay mượn. Tại sao chúng ta lại không thể tự mình nói về những việc tồi tệ ta đã gây ra? Có phải đó là một phần lý do khiến những việc đó trở nên tồi tệ đến vậy? “Rồi mẹ làm gì nữa?”
“Đuổi ông ấy ra khỏi nhà.”
“Con cứ tưởng mẹ đuổi bố đi là vì bố không thể quyết định được sự nghiệp mình muốn theo đuổi nên đã trở nên thảm hại và khiến mẹ phát điên.”
“Đó chỉ là ý nghĩ mẹ nhét vào đầu con thôi. Thật ra mẹ đuổi ông ấy đi là vì cái thói trăng hoa.”
“Mẹ có yêu bố không?”
“Có chứ,” bà đáp không chần chừ, hệt như cách bố đã trả lời khi tôi hỏi ông có yêu mẹ tôi không. Cả hai đều chắc chắn rằng mình yêu người kia, và hãy xem xem mối quan hệ của họ đã biến thành cái gì. Có lẽ tốt hơn hết là không nên chắc chắn về cái gì. Có lẽ tình yêu, hôn nhân, cuộc sống và tất cả những thứ quan trọng khác sẽ trở nên tốt hơn nếu ta không quá chắc chắn về chúng.
“Mẹ à,” tôi hỏi, “thế tại sao bố lại quay về?”
“Vì mẹ để cho ông ấy về,” bà đáp. “Vì ông ấy thừa nhận rằng mình đã phạm phải một sai lầm khủng khiếp. Vì ông ấy nhớ mẹ con mình. Vì ông ấy nói ông ấy yêu mẹ chứ không phải cái cô ả ngồi trên bếp. Vì ông ấy hứa sẽ không bao giờ, không bao giờ qua lại với cô ta nữa.”
“Và mẹ tin lời bố nói.”
“Ừ,” bà đáp, và giọng điệu mà tôi nghe thấy ắt hẳn chính là giọng điệu mà anh phục vụ quầy nghe thấy khi bà kể về bố tôi: giọng điệu của một người muốn câu chuyện bà kể về chồng mình trở thành sự thật, và rằng sự thật chẳng qua cũng chỉ là một câu chuyện. “Đến giờ mẹ vẫn còn tin.”
“Mẹ à,” tôi nói nhẹ nhàng hết mức có thể, “mẹ sống trong một căn hộ ở một thị trấn khác. Mẹ quay về nhà để uống cho say, nhưng khi màn đêm buông xuống thì mẹ lại lái xe về căn hộ riêng. Còn những tối thứ Ba thì mẹ tuyệt đối không về nhà. Phải có một lý do chứ.”
“Đồng ý,” bà gật đầu.
“Thế lý do đó là gì vậy?”
Bà lại nhắm mắt, như thể đang cố nhớ ra những lời bà đã tự dối bản thân trong nhiều năm qua mà giờ bà muốn nói cho tôi biết. Lần này bà nhắm mắt lâu đến mức tôi cứ ngỡ bà đã ngủ gật mất rồi. Rồi đột nhiên bà choàng mở mắt và nói, “Căn hộ đó là nơi ta hay lánh tới để nghỉ ngơi, chỉ có vậy thôi.”
“Lánh khỏi cái gì?” tôi hỏi dồn vì không muốn tất cả dừng ở đây. Bởi vì, cũng giống như hiền triết Socrates và phương pháp vấn đáp của ngài, tôi sẽ không để cho cuộc trò chuyện này kết thúc trước khi bà nói ra câu trả lời tôi đang mong chờ.
“Khỏi cuộc sống,” bà đáp.
“Thế còn căn nhà của gia đình ta?”
“Một nơi để quay về,” bà đáp. “Và để gặp con.” Rồi bà đứng dậy, cặp chiếc khay vào nách, “Đến giờ ta phải quay lại làm việc rồi.”
“Con biết Deirdre,” tôi nói, vì tôi muốn lôi hết mọi thứ ra ánh sáng, nơi mọi người đều nhìn thấy và không thể tảng lờ đi được nữa, và tôi sẽ ghi lại điều này vào cuốn cẩm nang đốt nhà, rằng ngay khi ta lôi hết mọi thứ ra ngoài ánh sáng, ta sẽ than trời rằng tại sao, ôi, tại sao mình lại có cái ý nghĩ đó trong đầu được nhỉ.
“Sao con biết bà ta?” Mẹ tôi cố giữ vẻ bình tĩnh, nhưng thật vô ích. Đôi mắt bà dội lên cái vẻ dữ dội và xa xôi, như thể vừa phát hiện ra kẻ địch từ đằng xa. Bà giơ chiếc khay lên trước ngực như giơ một tấm khiên. “Lại còn biết cả tên bà ta nữa chứ?”
“Con bắt gặp bà ta ở nhà mình,” tôi đáp.
“Nhà mình à,” bà lặp lại như bị thôi miên. “Lúc nào?”
“Sáng nay,” tôi nói. “Con biết mẹ nghĩ con là thủ phạm đốt những ngôi nhà đó, nhưng thực tế không phải vậy đâu. Con nghĩ chính là Deirdre đấy.” Nhưng tôi không rõ liệu mẹ tôi có nghe thấy câu cuối cùng không, vì đó là cách não bộ con người hoạt động: khi nó hiểu rằng sự việc tồi tệ nhất đã xảy ra, nó sẽ chỉ nghĩ tới sự việc tồi tệ thứ hai, thứ ba, hoặc thứ tư khi đã giải quyết xong xuôi việc đầu tiên, có thể là bằng một cách thức êm đẹp, hoặc là khiến nó trở nên tồi tệ hơn.
“Lẽ ra con không bao giờ được phép biết về sự tồn tại của bà ta,” mẹ tôi lên tiếng. “Ông ấy đã hứa rồi mà.”
“Đó là lý do vì sao mẹ giục con đi học đại học phải không?” tôi hỏi. “Mẹ biết bố sẽ quay lại với bà ta và mẹ không muốn con phát hiện ra.”
“Ông ấy đã hứa rồi mà.”
“Con không hiểu tại sao mẹ lại không ly dị phắt bố đi,” tôi nói. “Sao mẹ không cắt đứt hết và bước sang trang mới?”
“Thế sao con không kể cho Anne Marie về vụ cháy con đã gây ra?” bà hỏi ngược lại. “Sao con không kể cho nó về nhà Coleman, về mẹ, về bố con?”
Tôi không trả lời bà; tôi chẳng cần trả lời. Bởi vì cả hai cùng biết rằng đôi khi những lời nói dối ít đáng sợ hơn sự cô đơn sẽ ập đến khi ta ngừng nói dối. Mẹ tôi sợ cô đơn đến mức không dám ly dị, còn tôi sợ cô đơn đến mức không dám nói cho Anne Marie sự thật. Chỉ đơn giản vậy thôi. Đôi khi câu trả lời chỉ đơn giản như vậy đấy. Đôi khi mọi thứ chẳng phức tạp chút nào.
Giây lát sau, mẹ tôi đặt chiếc khay lên ghế đẩu, rồi tháo tạp dề bỏ lên khay. “Tuần trước con hỏi mẹ tại sao lại vứt hết sách đi,” bà nhìn vào mắt tôi. Bà đã trở lại là Elizabeth, người mẹ thuở xưa của tôi, có điều lúc này mắt bà lại đang ánh lên một vẻ tuyệt vọng cùng quẫn khiến tôi lạnh tóc gáy. “Con có thực sự muốn biết tại sao không?”
“Có ạ.”
“Bởi vì,” bà đáp, “trong đống sách đó chỉ toàn những nhân vật như mẹ, như bà ta, như bố con, như con, và như nó.”
“Nó?” tôi hỏi.
“Ngôi nhà ấy,” bà đáp. “Ngôi nhà chết tiệt của chúng ta.” Và trong câu nói của bà, tôi có thể nghe thấy thuyền trưởng Ahab nói với Ishmael, “Con cá voi chết tiệt của chúng ta,” và giờ thì, lần đầu tiên trong đời tôi đã hiểu tại sao tác giả Melville lại để ông ta nói về con cá voi nhiều đến vậy, suốt từ trang này qua trang khác mà không biết chán, và rằng tại sao mẹ lại bắt tôi đọc cuốn sách đó nhiều đến vậy, suốt từ năm này qua năm khác mà không biết chán. Với mẹ tôi thì ngôi nhà không chỉ đơn thuần gồm có một cái mái che, những bức tường và đồ đạc, cũng như với Ahab thì Moby Dick không chỉ đơn thuần gồm có đống mỡ trên thân nó.
“Beth à’’ cậu phục vụ quầy nói, “bác mang khay đồ uống này tới bàn mười hai được không?”
“Không,” bà đáp, và để lại hai chúng tôi ở sau lưng, bà tiến về phía cửa, trên đường đi còn tiện tay với lấy một chiếc áo măng tô màu lam vắt trên một chiếc ghế trống, rồi choàng lên người, dù tôi biết chắc chắn rằng nó không phải áo của bà. Bà mở cửa, gió lùa tóc bà tung bay.
“Mẹ đi đâu đấy?” tôi hét với theo.
“Đi gặp bố con,” bà hét lên mà không quay đầu lại.
“Anh đã làm gì Beth đấy?” Cậu phục vụ quầy hỏi khi mẹ tôi đã đi khuất, và trước khi tôi kịp nặn ra một câu trả lời súc tích, cậu ta nói luôn, “Đủ rồi đấy,” rồi giằng lấy vại bia cuối cùng trên tay tôi, lúc này đã chỉ còn một nửa. Cậu ta nói đúng. Tôi đã chịu đựng đủ rồi; tất cả mọi người đều đã chịu đựng đủ rồi, điều này đã rõ như ban ngày. Có thể đó là lý do vì sao Deirdre muốn gặp tôi ở Dinh thự Emily Dickinson: có thể bà ta cũng chịu đựng đủ rồi.