New Hampshire thật đẹp. Một phần bởi tuyết bắt đầu rơi ngay khi tôi vượt qua biên giới bang, khiến tôi có cảm giác tuyết ở New Hampshire không bao giờ ngừng rơi, và nếu tôi ngoảnh đầu nhìn lại Massachusetts, tôi sẽ trông thấy rõ mồn một một cái dải phân cách thời tiết - một bên mưa tuyết trắng xóa, bên kia chẳng có gì khác ngoài đám cọ và gió ấm. Nhưng tôi không ngoảnh lại mà nhìn thẳng về phía trước, vì trời đang đổ tuyết rất dày, và tôi chẳng thể thấy cái gì với cái gì trong khi những chiếc xe tải cứ thế lao vun vút về phía Bắc, khiến cho tuyết bắn tung tóe vào kính chắn gió của xe tôi. Chẳng khác nào phải đi đằng sau một cơn sóng thần cuồng nộ có gắn biển số xe Quebec[1]. Thế rồi có một chiếc xe tải vì mắc phải rãnh tuyết mà xoay ngang sang bên trái, lao qua dòng giao thông ra khỏi xa lộ rồi quặt xuống dưới đường hào, khiến tất cả các xe còn lại đâm hốt hoảng và nháo nhào hết cả, như một đám xe điện đụng bị mất cột điện khi đang chạy với tốc độ bảy mươi dặm một giờ trên đường tuyết và có một tầm nhìn khủng khiếp. Đúng là một mớ lộn xà ngầu, và tôi biết nếu mình còn ở trên xa lộ này thêm một giây nữa thì thể nào cũng tới lượt mình phóng xuống hào hoặc thậm chí tệ hơn, nên tôi bèn rẽ luôn ở ngã rẽ tiếp theo.
Rời khỏi xa lộ thật tuyệt, trời vẫn đang mưa tuyết nhưng những chiếc xe rơ moóc và hung thần tốc độ đã biến mất, nên thiên đường như ló rạng và tuyết chẳng còn đáng sợ như trước nữa; nói tóm lại, New Hampshire lúc này đã đẹp đẽ hơn hẳn. Xe tôi băng qua chừng mười hai thị trấn, toàn những thị trấn xinh xắn với những ngôi nhà lợp ván trắng, những thảm cỏ công cộng tuyết phủ trắng toát, những nhà thờ Tự trị Giáo đoàn trông như một cái hộp màu trắng giản dị, những cây cầu gỗ có mái phủ, thậm chí còn có cả một, hoặc hai cối xay bột guồng tới guồng lui bên dòng nước đóng băng, dù chẳng được mấy tích sự, nhưng vẫn can trường và lạc quan. Tôi ước rằng mình không chỉ đơn thuần lái xe ngang qua nơi đây, rằng tôi đã được học hội họa để có thể làm một họa sĩ sinh sống ở New Hampshire và vẽ lại các thị trấn. Chúng đẹp đến mức như vậy đấy. Khi lái xe ngang qua một nhà nghỉ ở Chuông Đỏ tôi thấy đang có khoảng nửa tá xe con đậu ngoài cổng, tất cả đều mang biển số bang khác, hẳn nhiên là của khách đi nghỉ. Cả đời tôi chưa được đi nghỉ bao giờ, và giờ thì tôi đã biết vì sao người ta đi nghỉ. Người ta đi nghỉ không phải để thoát khỏi căn nhà của mình, mà để tưởng tượng mình có một căn nhà mới, một căn nhà tốt hơn, nơi họ sẽ sống một cuộc sống tốt hơn. Tôi biết điều này là vì trong lúc lái xe, lỗ hổng mang tên tôi và đời tôi bỗng dần dần thu nhỏ lại và đong đầy New Hampshire, hoặc chỉ là những ý niệm về New Hampshire, nhưng ai cần quan tâm, miễn là chúng lấp đầy được lỗ hổng. Thế nên chắc đây mới là mục đích của những chuyến đi nghỉ: để lấp đầy lỗ hổng mang tên ta, ta của cái lúc không đi nghỉ.
Và đó chính là những gì thị trấn Chuông Đỏ đã làm với tôi: lấp đầy tôi và khiến tôi suy ngẫm. Giờ đây khi đã được tận mắt chứng kiến một cuộc sống thực thụ, tôi nhìn lại New England và chợt thấy Camelot qua cặp mắt của Anne Marie hồi mới chuyển về: rẻ tiền, khô khốc, quá cô độc và không hề cho người ta cảm giác được che chở khỏi thế giới nghiệt ngã này. Nhưng nếu hồi đó chúng tôi chuyển tới nơi này, sống bên cạnh một chiếc cối xay bột, thì hẳn mọi thứ giờ sẽ khác rất nhiều. Đã quá muộn chưa? Có thể chưa. Biết đâu Anne Marie và tôi sẽ dàn xếp được mọi chuyện ổn thỏa khi chuyển tới New Hampshire; biết đâu những nhà thờ hình hộp kia sẽ giúp nàng quên được sự gian dối của tôi và sẽ giúp tôi nói ra được sự thật; biết đâu cái sự đầu lừa của tôi sẽ bớt trầm trọng khi tôi sống ở Chuông Đỏ hoặc một trong những thị trấn lân cận. Xét cho cùng, vùng đất này đã quá cổ, đã trải qua quá nhiều biến cố, nên dù ta có làm gì thì cũng chỉ là lặp lại những gì người đi trước đã làm. Thí dụ như những dãy tường đá cổ xưa ngoằn ngoèo này: chúng có ở khắp mọi nơi, và nếu như người da đỏ, người Anh quốc và hàng bao thế hệ gia súc gia cầm đã không thể hủy hoại chúng, thì tôi cũng không nghĩ mình có thể làm được gì. Những dãy tường này nhìn có vẻ rắn rỏi và trường tồn, nhưng khi được phủ một lớp tuyết bên trên thì lại có nét hiền hòa riêng, khiến tôi tự liên tưởng đến bản thân - nói đúng hơn là tự liên tưởng đến tương lai của mình ở New Hampshire. Vâng, New Hampshire đã bỏ bùa tôi rồi. Chỉ sau có một tiếng đồng hồ đặt chân tới đây, tôi đã hoàn toàn mường tượng ra cuộc sống của mình ở nơi đây với Anne Marie và hai nhóc tì - không khó để làm vậy, không khó để quên đi rằng giờ này Anne Marie đang ở bên Thomas Coleman và không còn muốn dính líu một tí gì đến tôi nữa cả. Tôi tự hỏi không biết cảm giác này có giống những gì bố tôi trải qua khi tha phương suốt ba năm trời hay không - không hiểu lúc đó ông có đầy hy vọng và mơ mộng về một tương lai mới với vợ và cậu con trai của mình ở Duluth, ở Yuma… hay không. Câu chuyện cuộc đời ông đã không diễn ra như vậy, nhưng tôi và gia đình tôi thì sẽ khác - tôi đinh ninh vậy. Bởi tất cả chúng ta đều biết rằng hằng số duy nhất trong câu chuyện về loài người là sự tiến bộ, và Duluth của bố tôi không phải là New Hampshire của tôi, thảm họa gia đình của ông cũng khác với của tôi, nên tôi thề rằng tôi sẽ tra cứu giá cả địa ốc và cơ hội việc làm nơi đây ngay sau khi tôi gặp được kẻ đã gọi điện hẹn tôi tại Tư gia Robert Frost lúc nửa đêm.
Nhưng khi tôi tiếp tục lái xe lên phương Bắc, tiến vào dãy Núi Trắng để tới Franconia, cảnh vật bỗng trở nên tồi tàn và ảm đạm kinh khủng, ngay cả tuyết cũng không thể che đậy đi được. Trước tiên phải kể đến những căn nhà lợp gỗ đã bong hết những ván gỗ và đã được vá víu lại bằng những tấm nhôm, vẫn là màu trắng đấy nhưng trông chúng thật bẩn khi đặt trên nền tuyết trắng tinh khôi tự nhiên. Tôi thấy tội nghiệp những căn nhà đó khi chúng bị đem ra so sánh với tuyết và chẳng thể ghi được điểm nào. Có lẽ sẽ tốt hơn cho những căn nhà và cư dân sinh sống bên trong chúng nếu họ di dời xuống miền Nam, nơi không có tuyết rơi để bị đem ra so bì.
Tua nhanh câu chuyện (bởi vì chuyến đi này kéo dài hàng giờ liền - bạn có thể thấy tại sao những con người bận rộn và chẳng quan tâm gì đến những màu sắc địa phương lại yêu quý xa lộ đối vậy): tôi cứ tiếp tục lái xe lên phương Bắc, và những khu nhà lưu động bắt đầu xuất hiện rải rác rồi dần dần nhiều lên, cho tới khi tất cả trước mặt tôi đều là nhà lưu động, làm tôi lại thấy nhớ những căn nhà lát nhôm. Ôi, những khu nhà lưu động trông thật thảm hại, chúng khiến cho khu phố của cụ Frazier ở Chicopee trông như Shangri-la. Và nhìn chúng cũng thật lạnh lẽo: đậu bên ngoài bãi đất trống, chẳng có cây cối để che chở khỏi những luồng gió thốc và mưa tuyết dày hạt. Một vài cánh cửa được làm từ gỗ dán và được đóng đinh vào mặt tiền hoặc sườn nhà, và tôi có thể thấy rõ những tấm gỗ dán đang run lập cập trong gió. Tất cả các khu nhà đều có một ống khói ở trên mái và chúng thò ra khỏi tờ giấy tẩm hắc ín như một cái ngón tay lẻ loi. Khói cứ thế tuôn ào ào ra khỏi những cái ống khói, như thể những thanh củi đang cố cháy nhanh gấp đôi để đỡ phải dành thêm một phút nào bên trong khu nhà. Những chiếc xe hỏng hóc nằm la liệt ngoài sân, thế chỗ cho cây cối, và chúng cũng phủ đầy tuyết như những bức tường đá ban nãy. Nhưng nếu như tuyết đã làm cho những bức tường đá trở nên hiền hòa thì ở đây, những cái cản sốc hoen gỉ và cong queo đâm xuyên qua đống tuyết lại khiến đám xe hỏng trông càng thêm dữ tợn. Lúc này tôi đã lái tới Franconia, trái tim của dãy Núi Trắng, và lẽ ra quang cảnh phải rất đẹp mới phải, nhưng tiếc thay nó lại không như tôi nghĩ. Dãy núi trông xa xôi đến mức vô lý, như thể nó muốn né ra thật xa khỏi những khu nhà tạm bợ này. Thật kinh khủng, thật bi thảm, thật tội nghiệp, và đến lúc này thì cái lỗ hổng trong lòng tôi - cái lỗ hổng đang chứa Anne Marie và hai đứa nhóc tì, cái lỗ hổng mà Chuông Đỏ đã suýt lấp đầy - đã lại bị khoét cho sâu hoắm, và làm tôi quên hẳn Chuông Đỏ, làm tôi không còn nhớ nổi vì sao mà nó đẹp, không còn nhớ nổi cả hai chiếc cối xay bột. Tôi đồ rằng đây chính là hậu quả của cái nghèo: nó hủy hoại những ký ức về những điều đẹp đẽ, và đây chỉ là một trong nhiều lý do vì sao chúng ta cần phải cố hết sức để khoát khỏi sự bủa vây của nó.
Địa chỉ của Peter Le Clair: số 10 quốc lộ 18. Tôi tìm ra nơi ở của anh ta là nhờ con số 10 được sơn bằng tay trên hộp thư - cái hộp thư đã sắp lìa khỏi cột, nó chúc xuống đất như đang hổ thẹn vì nơi ở của mình. Khu nhà của anh ta nhìn cũng giống với các khu nhà còn lại, chỉ trừ một điều: Peter đang đứng bên chiếc cửa sổ mặt tiền duy nhất của khu nhà nhìn tôi lái xe tới trước sân. Khuôn mặt anh ta biến mất khỏi cửa sổ, và chỉ vài giây sau, cánh cửa gỗ dán màu nâu đã bật mở, Peter hiện ra với bộ râu năm ngày không cạo, sơ mi flannel, không có áo khoác, trên tay lăm lăm một khẩu súng trường. Nhưng nhìn kỹ thì lại không phải súng trường - đôi mắt và sự giả định đã đánh lừa tôi - mà là một cái ống hút bồn cầu (Peter gặp nhiều vấn đề với bồn cầu của mình, nhưng đó chỉ là một trong nhiều vấn đề của anh ta). Nhưng dẫu sao, nhìn anh ta vẫn rất đáng ngại. Anh ta có dáng người to lớn, cao hơn một mét tám, bộ ngực thì lực lưỡng chứ không như bộ ngực nửa thùng phuy của tôi. Có một cái chuồng chó nằm ở bên ngoài khu nhà, ngay cạnh chiếc xe của tôi, và con chó thì đang tru lên từ bên trong chuồng nhưng không bước ra. Tôi ước gì mình đang ở trong chuồng cùng con chó vì nó biết rõ về Peter hơn tôi và chắc sẽ cho tôi một vài chỉ dẫn làm sao để cho vị chủ của nó hài lòng. Mà cũng có thể chú chó đang chỉ cho tôi từ bên trong chuồng bằng tiếng tru của nó, một tiếng tru to và vang vọng. Đi chỗ khác mau, có khi nó đang tru lên như vậy. Đi mau, đi mau.
Nhưng tôi không thể đi được. Thứ nhất, bây giờ mới sáu giờ chiều, và tôi phải loanh quanh ở New Hampshire đến nửa đêm để biết người đã gọi cú điện đó là ai, và tại sao họ lại làm vậy. Thứ hai, tôi chẳng còn nơi nào khác để đi, chẳng còn việc gì khác để làm. Có lẽ với tôi lúc này, khu nhà của Peter ở Franconia là thứ gần giống với nhà nhất. Có lẽ với một người như tôi, “mái ấm” là một thứ không còn tồn tại nữa, và vì thế tôi không thể kén cá chọn canh được, không thể ngồi cố thủ trên xe mà không chịu bước ra chỉ vì những khu nhà ở đây trông thật thảm hại và những con người ở đây thật to con và hung hãn. Vâng, tôi phải ra khỏi xe. Khi trong đầu tôi đã nghĩ ngợi thông suốt, tiếng tru của con chó giờ như có một ý nghĩa khác, thay vì Đi mau, đi mau, tôi lại nghe ra thành, Xuống xe mau, xuống xe mau. Tôi bèn xuống xe.
Trời lạnh khiếp lên được. Đây là cái kiểu lạnh thắt tim gan mà chỉ cần trải qua một giây bạn đã không muốn chịu tiếp giây thứ hai. Ngay cả Peter và cái gậy hút bồn cầu cũng không đáng sợ bằng cái lạnh. Thêm nữa, tuyết vẫn đang đổ ào ào mà tôi lại để đầu trần, nên nếu tôi ở ngoài trời thêm một lúc nữa thì chắc sẽ bị chôn vùi như đống xe hỏng ngoài sân kia. Đang có ba cái ở đó, bên trái chuồng chó, tôi có thể trông thấy ba cái ăng ten của chúng đâm xuyên qua đống tuyết.
“Xin chào anh Le Clair, tôi là Sam Pulsifer,” tôi nói, bước tới trước mặt anh ta. Và rồi - không cần nhắc cho anh ta biết tôi là ai, hay nhắc tới lá thư anh ta gửi tôi từ cả tỉ năm trước, hay thậm chí đợi câu trả lời từ anh ta - tôi nói luôn, “Ta vào nhà nói chuyện cái nhỉ? Răng tôi đánh lập cập đến rơi cả ra khỏi lợi rồi đây này, lạnh quá đi mất.” Nói rồi tôi cứ phăm phăm bước tiếp, đi qua mặt anh ta, vào thẳng bên trong khu nhà di động, không phải bởi dũng cảm mà vì nỗi sợ hãi đã đóng băng trong tôi rồi. Trời lạnh đến mức ấy đấy.
Bên trong khu nhà nhiệt độ có ấm hơn đôi chút. Khắp nơi vương vãi những đôi ủng, còn áo khoác, sơ mi flannel và áo gió có mũ trùm thì treo kín trên móc, trên lưng ghế và thậm chí là ở cả đằng sau ti vi để giữ cho nó ấm. Đó là một chiếc ti vi cũ, to khổng lồ, mà không có một cái điều khiển nào đã và sẽ có thể điều khiển nó được. Những tấm thảm rách tả tơi cũng nằm vương vãi khắp nơi - có tấm còn được đóng đinh trên tường phòng khách như một tấm da thú - chúng không có nhiều màu sắc cho lắm (hầu hết là nâu và đỏ sậm), và bạn biết ngay chúng là sản phẩm của một bà già nào đó đã phải lao động miệt mài cả năm trời mới làm xong. Rồi còn những cuốn sách: cả căn phòng - bao gồm cả đồ đạc và sàn nhà - ngập trong tầng tầng lớp lớp những cuốn sách. Tất cả chúng đều là của thư viện - những chiếc tem thư viện ép plastic dán ở gáy sách đã mách cho tôi biết. Tôi nhìn xuống, nhấc chân trái lên và thấy mình đã giẫm phải Ethan Frome, cuốn sách mà từ khi Edith Wharton viết xong, tất cả học sinh lớp tám ở Massachusetts đều bị bắt phải đọc và đều tự hỏi vì sao. Tôi đá nó ra xa, một việc tôi đã muốn làm suốt hai mươi sáu năm nay, và trong khi đá tôi tưởng tượng là mình đang đại diện cho rất nhiều độc giả của nó, những độc giả bất đắc dĩ, vừa chớm tuổi dậy thì. Ở đây có nhiều sách đến mức tôi cứ ngỡ Peter đã khiến thư viện địa phương phải đóng cửa và phòng khách của anh ta đã trở thành cái thư viện thay thế. Tuy gọi là phòng khách, nhưng thực ra nó cũng là phòng xem ti vi và phòng ăn luôn. Phòng bếp được tách riêng, chỉ to hơn cái ti vi một tẹo, và chen giữa hai phòng là thứ đồ quan trọng nhất trong nhà: cái bếp lò. Cái bếp đang cật lực lao động và khiến cho không khí khô tới mức bạn phát điên lên vì ngứa mũi. Gương mặt tôi, nãy giờ vẫn đang đỏ rực vì cái lạnh bên ngoài, chẳng hề dịu đi chút nào khi tôi đã vào nhà - ảnh hưởng từ cái nóng cực độ so với từ cái lạnh cực độ xem ra cũng chẳng khác nhau là mấy.
Cánh cửa đóng sập lại và rung lên bần bật nơi ngưỡng cửa. Tôi quay lại. Peter đứng ngay sau lưng tôi, ở giữa phòng, trên tay vẫn khư khư cái gậy hút bồn cầu - xem ra anh ta rất khăng khít với nó - và vẫn chưa mở miệng nói lời nào. Mặt tôi lại càng đỏ dừ thêm lên khi nhìn thấy khuôn mặt anh ta chẳng đỏ một chút nào. Nó trắng như tuyết, nhưng nhợt nhạt hơn nhiều và không thanh khiết mấy. Trông Peter như thể là một hóa thân của cái sắc trắng nguyên thủy, một con cá tiền sử sống trong hang - một con cá mặc áo sơ mi flannel và cao hơn mét tám. Tôi thấy sợ anh ta. Trường cấp ba tôi học cũng có những gã giống như vậy, những gã nhà quê có đôi bàn tay to sụ chằng chịt sẹo, trông như những gã khổng lồ trầm tư, không nói nhiều và cũng chẳng cần nói nhiều. Họ trông có vẻ trưởng thành, nghiêm túc và đàn ông hơn tôi, và dường như họ cũng sở hữu những đặc điểm và đức tính mà tôi không có, ngay cả khi họ chẳng có mấy, giống như Peter đây. Tôi để ý thấy những cuộn báo cũ và khăn tắm đã được nhồi vào những lỗ hổng trên sàn, nơi sức mạnh thiên nhiên đã bào mòn tất cả.
“Đỡ hơn nhiều rồi,” tôi vừa nói vừa xoa hai bàn tay vào nhau để ngụ ý rằng máu huyết của mình đã lưu thông ổn định trở lại. “Phù.” Peter vẫn không nói một lời, và giờ đây khi đã thấy ấm áp hơn, tôi lại thấy sợ hãi. Và để trấn tĩnh thần kinh, đồng thời lấy lòng chủ nhà, tôi bèn khen, “Cái bếp kia oách phết. Tôi nói thật đấy. Ấm thôi rồi là ấm.”
Vẫn không có phản hồi gì. Đột nhiên tôi nhớ tới một lần nọ hồi còn học cấp ba, khi tôi vừa gặm xong một quả táo và cố ném cái lõi vào thùng rác nhưng nó lại phi thẳng vào người một thằng tên Kevin, con trai một ông nông dân nuôi bò sữa. Tôi lúc đó mười ba tuổi và Kevin cũng mười ba tuổi, nhưng hai đứa dường như đến từ hai hành tinh khác nhau, và của Kevin là một hành tinh to đùng rặt những võ sĩ. Nó lao thẳng về phía tôi sau khi đã phát hiện ra thủ phạm ném táo. Khi tới nơi, nó soi tôi chằm chằm, giống hệt như Peter đang soi tôi lúc này đây, còn tôi, chết ngất trong sự khiếp đảm và hốt hoảng, vội lắp bắp xin lỗi và giải thích rằng đó chỉ là một sự lỡ tay, rằng tôi vốn là một xạ thủ rất tồi (cứ hỏi giáo viên thể chất thì biết), vân vân và vân vân, cho tới khi bị cậu Kevin nọ thụi cho một cú vào má phải và ngã lăn ra. Tôi vẫn ngỡ rằng cậu ta thụi tôi là vì bị tôi ném táo vào người, nhưng sau này tôi mới được nghe kể lại, từ những nguồn tin cậy, rằng cậu ta thụi tôi là vì tôi không chịu ngậm miệng lại. Và lúc này đây tôi cũng không thể ngậm miệng lại khi đứng trước Peter, một minh chứng cho thấy dù bất luận thế nào thì lịch sử vẫn cứ tự lặp lại chính mình.
“Le Clair,” tôi lên tiếng. “Có phải là tên Pháp không? Ý tôi là người Canada gốc Pháp? Vùng Quebec?”
Chẳng có hồi đáp. Nếu con người ta có thể thoát khỏi sự im lặng để dấn thân vào một sự im lặng lớn hơn, thì Peter đã làm được điều đó. Đôi mắt của anh ta, màu xanh dương nhạt và đã ẩn sâu trong hốc, giờ lại lún sâu thêm vào bên trong khuôn mặt. Trán và cằm của anh ta thì chĩa về phía tôi như thể vũ khí.
“Chả là tôi đã từng tới đó hưởng tuần trăng mật,” tôi nói, “với vợ tôi, Anne Marie. Quan hệ của chúng tôi đang hơi trục trặc, nhưng tôi hy vọng sẽ gỡ được dần dần. Chuyện kể ra thì hơi phức tạp một chút. Tôi đã nói dối nàng, nhưng nàng lại nghĩ tôi dối nàng về một chuyện khác, một chuyện mà tôi không làm, nhưng tôi không thể nói ra cho nàng hay được, vì lời nói dối đó thực sự lại kinh khủng hơn rất nhiều so với lời nói dối nàng đổ cho tôi. Dẫu vậy, giờ đây chắc nàng đang nghĩ tôi đã nói dối về một chuyện hoàn toàn khác. Anh thấy không, phức tạp lắm. Quay trở lại Quebec nào, đó là nơi chúng tôi đã hưởng tuần trăng mật, dù tôi không biết nói tiếng Pháp. Đến giờ vẫn không. Tôi vẫn thường hối tiếc vì đã không học thêm một ngoại ngữ dù bên cạnh đó tôi cũng có nhiều điều hối tiếc khác, để cho cái nỗi hối tiếc kia khỏi cô đơn. Nhưng tôi cược là anh có biết. Biết nói tiếng Pháp ấy. Mà cũng có thể không. Hồi còn ở trường anh có học tiếng Pháp không? Tôi nghe nói nếu sống ở nước bản địa thì học nhanh vào hơn nhiều. Anh đã từng tới Quebec sống chưa? Mà cũng có thể anh được bố mẹ dạy tiếng Pháp cho nhỉ.”
Vẫn im lặng. Tôi có thể nghe thấy tiếng chó tru lên ngoài sân, và tôi lại ước giá mình được nằm ngoài kia với chú chó, thay vì phải đứng trong khu nhà này cùng Peter, bởi chí ít thì chú chó không bị câm và còn biết tạo âm thanh.
“Chú chó của anh tên gì?” tôi hỏi. “Bao nhiêu tuổi rồi? Đực hay cái? Tôi chưa từng nuôi chó bao giờ. Mèo cũng chưa. Chưa từng nuôi con gì. Chó của anh đã được thiến chưa? Được cắt buồng trứng chưa?” Vân vân và vân vân, cho tới khi tôi bắt đầu phát ngán lên với chính mình và cái sự lải nhải của mình. Rồi tôi đổi ý và thấy phát ngán lên với Peter và cái sự im bặt của anh ta, và tiếp đó là phát ngán lên với tất cả những gã khắc kỷ. Những, gã này không tìm nổi một thứ gì để nói hay sao? Hay là họ có nhiều thứ để nói nhưng đó lại là những lời không thích hợp, và rằng họ chẳng có khả năng nói ra những thứ không thích hợp theo một cách thích hợp? Mà thế thì đã sao. Nhìn tôi đây này, tôi có bị cản trở bởi những vấn đề đó đâu? Chẳng lẽ người ta không biết rằng nói chuyện rất có lợi cho sức khỏe hay sao, như là thuốc hay nước trái cây ấy? Chẳng lẽ Peter được dạy rằng muốn làm đàn ông thì phải ngậm miệng lại và ra vẻ ảm đạm? Có phải đây là kết quả của việc đọc quá nhiều về gã Ethan Frome ủ rũ và ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời? (Tôi đã đá cuốn sách một cú ra trò, nhưng giờ tôi lại đá một cú nữa, ở trong đầu mình, để cho chắc ăn.) Tôi đã phát ngán lên với những gã đàn ông câm như hến kiểu này: tôi không thích và cũng không muốn có sự im lặng của họ. Sự im lặng của họ giống như một cái mũ xấu hoắc mà người ta bắt họ phải đội, nên họ đội nó lên, trong sự ấm ức. Tôi thấy nhơ nhớ Thomas Coleman, ít ra cậu ta còn biết nói chuyện và không ngại mở miệng, ngay cả khi cậu ta tuôn ra rặt những lời có hại và độc địa, nhiều cái lại còn bịp bợm trắng trợn. Và đương nhiên cậu ta đang tuôn những lời đó ra với vợ tôi, và nghĩ đến đây thì tôi chợt nhận ra, biết đâu ngay lúc này đây cậu ta đang ở bên nàng. Đột nhiên tôi cũng phát ngán lên với Thomas. Mà cũng có thể tôi không chỉ phát ngán với những gã đàn ông câm như hến, mà là phát ngán với đàn ông nói chung - một điều khá đáng ngại, bởi tôi cũng tự xếp mình vào chung nhóm với họ.
“Nghe này,” tôi tiếp tục. “Như đã nói từ trước, tôi là Sam Pulsifer. Tôi cần phải biết chắc chắn, có phải anh là Peter Le Clair? Cái anh Peter Le Clair nhiều năm về trước đã viết thư nhờ tôi đốt Tư gia Robert Frost?”
Khi nghe tôi nói vậy, Peter không đặt cái gậy hút bồn cầu xuống, cũng chẳng cười hay nói gì. Nhưng anh ta có nhún vai. Đó là động tác ưa thích của anh ta, như tôi nhận ra trong vài tiếng đồng hồ sau đó, một động tác được dùng để truyền tải sự nhận biết, sự khó hiểu, sự buồn ngủ, sự đói bụng, lòng trung thành, sự say rượu, sự bồn chồn, lòng thông cảm, sự khát tình. Thật là một động tác có giá trị sử dụng cao, khiến tôi ngưỡng mộ tới mức tôi định dùng nó để đáp lại anh ta. Nhưng rồi tôi nhớ lại cái lần trong tù khi tôi nhại lại, “Đàn ông đích thực là ta đây,” khiến Terrell tẩn tôi tới tấp; và lần này thì sẽ không có đội cai ngục nào ở đây để bảo vệ tôi. Thế nên tôi không nhún vai lại với anh ta. Nhưng trong lòng tôi muốn làm vậy, và tôi dám cược rằng việc bắt chước sẽ khiến mối quan hệ của chúng tôi khăng khít hơn nhiều. Bởi trong mắt tôi, thế giới này sẽ trở thành một nơi tốt lành hơn và tràn đầy sự đồng cảm nếu như mỗi người đều có thể bắt chước người khác mà không bị họ bực và đe dọa dùng vũ lực.
“Anh nhún vai,” tôi nói, “thế nghĩa là đúng rồi?”
“Đúng,” anh ta lên tiếng, giọng nói thô ráp nhưng lại cao hơn tôi tưởng, như một con chim chích hót vang trong bộ cánh xù xì. “Tôi là Peter Le Clair đây.”
Đấy, giờ thì chúng tôi đã có một cuộc chuyện trò đàng hoàng - cả hai ngồi xuống, như thể vừa đáp xuống một bãi đậu chung - và tôi không muốn nó bị đứt đoạn. Thế nên tôi tiếp tục hỏi những câu thật đơn giản để cả hai cùng đưa đẩy câu chuyện.
“Anh có biết vì sao tôi đến đây không?”
“Có,” Peter đáp, và trước khi tôi kịp trả lời, anh ta nói tiếp, “tôi muốn anh đốt cái nhà đó đi. Nhưng tôi chẳng có gì để trả thù lao cho anh cả.” Khi nói câu này, đôi mắt anh ta cúi xuống nhìn đôi ủng, rồi lại đưa lên nhìn thẳng vào mắt tôi, như thể bên trong đang có một cuộc vật lộn giữa nỗi xấu hổ và lòng tự trọng. Tôi thông cảm với Peter và muốn bảo anh ta rằng sự vật lộn đó không chỉ là vấn đề của riêng anh ta, mà là vấn đề của loài người nói chung, và cũng là vấn đề của tôi. Có thể đó là lý do tại sao mặt tôi lại đỏ phừng phừng. Tôi muốn nói những điều này với anh ta, nhưng đồng thời lại không muốn đi chệch chủ đề, đó vốn là một thói quen tôi cần rũ bỏ, cũng như anh ta cần rũ bỏ cái tật câm nín của mình vậy.
“Không trả thù lao được cho tôi à,” tôi lặp lại, chỉ để kéo dài thêm thời gian suy nghĩ. “Anh có nhận được cú điện thoại nào đề cập đến việc đốt Tư gia Robert Frost không?” Tôi đang nghĩ đến cú điện thoại mình nhận được ở Amherst. Đó không phải là giọng của Peter, giờ tôi đã chắc chắn, nhưng có thể Peter cũng đã nhận được một cú điện thì sao.
Nhưng không. “Chẳng có cú điện nào,” anh ta đáp. “Chẳng có.” Rồi anh ta lại nhún vai. Lần này là một cú nhún vai dứt khoát nhằm nói với tôi rằng không còn gì để nói về cú điện nữa cả. Nên tôi cũng không nói gì, thay vào đó tôi im lặng, tự kiểm lại những gì tôi đã biết, hoặc nghĩ mình biết. Peter đã không nhận được cuộc gọi nào; tôi thì có, nhưng kẻ gọi lại không đòi người ta trả thù lao để đốt Tư gia Robert Frost, ấy là nếu giả dụ rằng đó là việc gả dự định làm. Còn thủ phạm đốt Dinh thự Mark Twain thì có đòi thù lao nhưng lại đòi qua thư tay chứ không phải điện thoại, và nhiều khả năng không phải là đàn ông, nên nhiều khả năng cũng không phải là kẻ đã hẹn gặp tôi vào lúc nửa đêm ở Tư gia Robert Frost. Và dường như chẳng có ai trong những người đó có liên quan đến vụ đốt Dinh thự Edward Bellamy. Tôi thấy phát hoảng khi liệt kê ra những thứ mình chưa biết, giống như cảm giác của một đứa học trò phải nhấc bút làm bài kiểm tra mà trong đầu chẳng có chữ nào. Và đứa học trò nào cũng đều biết sự hốt hoảng luôn ảnh hưởng tới bàng quang, như yêu, ghét và thể dục luôn ảnh hưởng tới con tim.
“Tôi sẽ quay lại ngay,” tôi bảo Peter, rồi bước về bên trái, hành lang duy nhất của khu nhà. Phòng vệ sinh là phòng đầu tiên sau khi rẽ trái, và nó khá thú vị. Giăng kín khắp nơi là những món đồ gia dụng và vật dụng cố định - nào ống nước, ống nối, nào những viên đá lát nứt nẻ, nào vòi tắm và rèm và một tủ thuốc y tế không có cửa. Và giống hệt như trên con thuyền của Noah, ở đây mỗi thứ đồ dùng cần thiết đều có một cặp: hai bồn rửa tay (một cái gắn vào tường và một cái nằm trên sàn), hai gạt tàn, hai khăn tắm, hai khung vắt khăn tắm và hai bồn cầu, một vàng một xanh dương. Giờ thì cái ống hút bồn cầu của Peter đã có lý hơn trong mắt tôi. Nhưng trong cơn bí bách tôi không kịp dừng lại để kiểm tra xem cái bồn cầu nào còn dùng được, nên tôi chọn cái màu xanh, coi như để tưởng nhớ cậu bé mà tôi đã từng là, và vẫn còn là[2]. Khi đã xong xuôi, tôi vội rời phòng vệ sinh mà không kịp kiểm tra xem cái bồn cầu có hoạt động không. Bởi nếu nó hoạt động tốt thì tốt, còn nếu không thì, chậc, tôi cũng chẳng muốn biết làm gì.
“Không trả thù lao cho anh được đâu,” Peter lặp lại ngay khi thấy tôi ló mặt vào phòng khách. Tôi thông cảm với anh ta: sự thiếu thốn tiền bạc đã đè nặng lên vai đến nỗi anh ta cần phải xả ra, như tôi cần phải xả ra mớ nước tiểu dồn ứ trong người mình vậy.
“Đừng lo đến tiền,” tôi nói. “Anh nghĩ sao nếu hai ta lái xe tới Tư gia Robert Frost để xem tình hình ra sao.”
“Xe tải hỏng rồi,” anh ta đáp.
“Chiếc nào cơ?”
“Tất cả,” anh ta đáp. “Ta dùng xe của anh nhé. Đi nào.”
Nói đến đây, anh ta bắt đầu dúi quần áo cho tôi - một cái áo giữ nhiệt vốn có màu trắng, giờ bẩn đến nỗi đã ngả vàng; một áo sơ mi lót vải flannel; một cái áo khoác màu xanh da trời to tướng rộng lùng thùng chắc sẽ rất hợp với nhân vật hoạt hình trong logo của hãng lốp xe Michelin; một cái mũ len trượt tuyết hiệu Ski-Doo có đính tua rua màu vàng tươi trông đầy hoan hỉ nhưng lại bốc mùi như thể một tháng trước đã được chú chó ngoài sân đội lên đầu trước khi nhảy xổ vào chậu dầu hỏa. Peter làm thế là có chủ ý cả. Nếu chúng tôi đi ra ngoài trời, thì tôi phải ăn mặc cho đầy đủ. Lúc này bóng tối đã buông xuống và chắc trời còn lạnh hơn cả hồi nãy, mà trên người tôi thì chỉ có bộ đồ tôi thường mặc: quần kaki với quá nhiều li - chúng luôn phồng lên nhìn rất mất thẩm mỹ khi tôi ngồi xuống, một đôi giày chạy, một áo len cổ lọ màu xám, và rõ ràng là dù tôi có đang ở miền nhiệt đới Massachusetts thì như thế này cũng chẳng đủ ấm. Thế nên tôi bèn tròng ra ngoài quần áo của mình những thứ Peter vừa đưa. Cứ như thể là tròng lên người một lớp da, rồi thêm một lớp da nữa. Ngay cả Peter cũng đang mặc thêm áo sơ mi flannel và áo khoác có mũ trùm, và khi tất cả đã xong xuôi, cả hai quay sang nhìn nhau như để cùng reo lên, Ta-đa! Hai người chúng tôi đứng đó, mặt lùm xùm râu và người chất đầy áo nỉ, như một cặp nữ sinh đang cùng nhau chưng diện cho một đêm quậy tưng bừng. Một khoảnh khắc hiếm gặp và dễ thương, một sự dễ thương mà chỉ những thứ hiếm gặp mới có thể mang lại.
“Sẵn sàng rồi chứ?” anh ta hỏi. Tôi trả lời rằng mình đã sẵn sàng. Peter quẳng cái ống hút bồn cầu vào xó phòng và với người về phía tràng kỷ, nơi có một chú chó đang cuộn mình nằm - tôi đồ là chính chú chó ban nãy sủa ngoài sân. Rõ ràng Peter đã cho nó vào phòng khi tôi đang đi vệ sinh. Chú chó gần như tàng hình trong mắt tôi - như tất cả mọi thứ trong khu nhà, nó có màu pha giữa nâu và đỏ sậm - nhưng ta có thể nghe thấy nó thở dài trong vui mừng khi Peter đặt tay lên đầu nó và giữ nguyên trong giây lát, và âm thanh này khiến nỗi buồn dâng lên trong lòng tôi, hay chính xác hơn là sự tủi thân - cái nỗi buồn khủng khiếp nhất của con người. Tại sao một con chó đốm lại sở hữu những thứ quý giá nhất trên đời - tình thương yêu và những cái vuốt ve, một cái tràng kỷ để nằm, một chốn (hoặc hai chốn) để gọi là mái ấm - trong khi tôi lại không có gì? Mọi thứ sao lại đến nước này? Tôi còn hèn đớn và kém may mắn hơn cả một con chó? Lật lại lịch sử của toàn vùng New England này, liệu có ai buồn hơn tôi? Đến cả gã Ethan Frome dở người còn có quyền thấy mình may mắn hơn tôi vì ít ra thì gã cũng có một mảnh đất xác xơ, một nông trại tồi tàn, một ngôi nhà dột nát, một người vợ gắt gỏng, một mối tình đích thực nhưng bất khả, một vốn từ vựng nghèo nàn? Đến cả Ethan Frome cũng sẽ mừng vì không phải là tôi? Vâng, sự tủi thân dâng đầy trong căn phòng, khiến cho nó trở nên bí bách, như cơn bí bách tôi đã trải qua vài phút trước. Cũng có thể vì thế nên mới có cái bồn cầu hỏng kia. Thật là một ý tưởng thú vị - có một nơi để xả ra sự tủi thân của bạn - chỉ riêng ý nghĩ này cũng khiến tôi nguôi ngoai đi trong giây lát.
Rồi vèo một cái chúng tôi đã bước ra ngoài trời, xuyên qua màn tuyết tới chỗ chiếc xe trong cái lạnh vần vũ. Tôi không thể nhớ nổi một chi tiết nào khác, ngoại trừ việc trong khoang xe lúc mới vào chẳng ấm hơn bên ngoài là bao nhiêu. Ôi, sao mà lạnh thế cơ chứ! Không thể không kêu ca cho được. Trời lạnh tới mức khiến bạn mất trí và trong đầu chỉ tồn tại duy nhất một ý nghĩ là làm thế nào để ấm lên, ấm lên, ấm lên. Máy sưởi trong xe khởi động thật chậm, và để đánh lạc hướng mình khỏi cái lạnh, tôi tập trung vào những lời chỉ đường của Peter và những bông tuyết đang xoay tít và nẩy tưng tưng trong ánh đèn pha như những phân tử, và bên ngoài trời tuyết kia là bóng tối dày kịt. Giờ đây khi hồi tưởng lại, tôi mới nhận ra cái lúc đó cũng thật dễ thương: thế giới trở nên nhỏ bé và đầm ấm, chỉ có tôi và Peter cùng trời tuyết, bóng tối, chiếc xe và hơi ấm - bởi cuối cùng thì nó cũng tỏa ra, hắt thẳng vào chúng tôi, vừa kịp lúc tôi dừng xe lại trước khoảng sân của Tư gia Robert Frost. Ngôi nhà là một khu nông trại cũ màu trắng điển hình - loại nhà không thể ngăn được đám ong bắp cày bay vào khi hè đến và không thể giữ được hơi ấm lúc đông sang - và điều đáng nói duy nhất về ngôi nhà là nó chưa bị đốt trụi mà đang được vây quanh bởi một loạt xe hơi, và đang đèn đuốc sáng trưng như Giáng sinh. Dường như tất cả mọi ngọn đèn trong nhà đều được bật sáng và đến cả ngài Frost vĩ đại cũng có thể nhòm thấy nó từ ngôi nhà mới và dài hạn của mình ở chốn vĩnh hằng.
“Có gì đang diễn ra thế nhỉ?” tôi hỏi.
Peter nhún vai, và tôi giải nghĩa là, Tôi không biết.
“Ta đến xem chứ,” tôi nói. Peter lại nhún vai, và tôi hiểu là, Không.
“Tại sao?” tôi hỏi, và bạn đã biết câu trả lời của anh ta là gì rồi, hoặc ít ra là cách anh ta trả lời, nên tôi sẽ chẳng mất công phiên dịch cho bạn nữa.
Nhưng gì thì gì, tôi cũng phải đi vào bên trong ngôi nhà: trong tuần này tôi đã bị từ chối bởi cánh cửa nhà mình lẫn cánh cửa căn hộ của mẹ, và tôi sẽ không để điều đó lặp lại ở nơi này. Tôi bước ra khỏi xe, tiến vào ngôi nhà, và bạn đoán xem? Peter lẽo đẽo theo sau tôi. Đây lại là một lời khuyên nữa sẽ được đưa vào cuốn cẩm nang đốt nhà của tôi: nếu bạn dẫn đường, họ sẽ theo sau, nhất là khi ngoài trời lạnh thấu xương và người đi theo bạn không muốn bị bỏ lại một mình trong chiếc xe lạnh ngắt. Nếu bạn dẫn đường, trong một hoàn cảnh như thế, thì họ sẽ theo sau bạn.
❀ ❀ ❀
[1] Quebec, Canada, thường được biết đến bởi thời tiết khắc nghiệt, lạnh giá và những cơn bão dữ dội.
[2] Chữ blue trong tiếng Anh vừa có nghĩa là màu xanh, vừa có nghĩa là sự chán nản, buồn bã.