Tôi rảo bước từ khu chợ nông dân về nhà trong sự đắc thắng hân hoan. Tôi đã nắm được một thông tin quan trọng, nhưng cái sự đắc thắng không nằm ở việc tôi nắm được thông tin đó, mà là việc tôi sẽ có cơ hội bước vào nhà và vạch rõ cho mẹ tôi thấy sự thật về “công việc” của bà, và đắc chí reo lên, À há! Chính cái câu À há! đó mới làm tôi thấy háo hức, khiến tôi trong phút chốc quên bặt dự định quay về Camelot để xin lỗi, thú tội, và lại xin lỗi Anne Maria và hai đứa nhóc cho đến khi tôi được quay về. Cái viễn cảnh được thốt lên À há! trước mặt mẹ như có ma lực, làm tôi mất trí nhớ. Tôi cược rằng mình không phải là người đầu tiên trải nghiệm điều này. Tôi cược rằng chính những câu À há!, chứ không phải sự thật được khám phá, mới là động lực của những thám tử lừng danh trong văn chương mà ngoài cái tên ra tôi chẳng biết nhiều lắm về họ - những Philip Marlowe, Sherlock Holmes, Joe Hardy và Frank Hardy. Tôi muốn hét lên một tiếng đắc thắng trên đường về nhà, chẳng hạn như Tuyệt! hay Đù má, tuyệt!, như Marlowe sẽ thốt lên, như anh em nhà Hardy sẽ thốt lên, và có thể cả Holmes nữa, mặc dù đây có lẽ là lý do vì sao ông ta có bác sĩ Watson kè kè bên cạnh: để nhắc nhở Holmes bình tĩnh và đừng nên tự phụ thái quá.
Bởi vì có lẽ chẳng có cái giây phút À há! nào cho một nhà trinh thám, hoặc bất kỳ ai. Ít nhất là nó không dành cho tôi tối hôm đó. Tôi về nhà và thấy bố mẹ đang ngồi cùng nhau trên tràng kỷ và trò chuyện với - tôi nhận ra sau vài giây - một cậu cảnh sát. Cậu này ngồi trên ghế, quay lưng về phía tôi, bận một chiếc áo khoác xám có mũ trùm, chiếc mũ nhăn nhúm lại như da voi. Bố mẹ tôi đang uống cà phê thay vì bia, thế nên tôi biết ngay có chuyện không hay rồi.
“Nó… về… rồi… kìa,” bố tôi thều thào, bàn tay cầm tách run run làm cà phê sánh cả ra ngoài. Cậu cớm đứng dậy và quay lại. Nhìn cậu ta hệt như những tay quản giáo hồi tôi còn trong tù - những tay ục ịch và dữ tợn ấy mà không có khẩu súng giắt bên lưng thì hẳn là trông y sì đám huấn luyện viên bóng bầu dục cho đội tuyển trường trung học cơ sở. Duy có điều, cậu ta trẻ tuổi hơn đám quản giáo, chỉ hai lăm, hai sáu là cùng. Hai má cậu ta đỏ dừ như gặp lạnh hoặc mắc cỡ. Cậu ta lại còn cao vừa đúng tầm tôi, và nhìn tổng thể thì hoàn toàn có thể sắm được vai em ruột của tôi, đấy là nếu bố mẹ tôi quyết định sinh thêm thằng nữa, và cho nó mặc toàn màu trung tính: áo nỉ xám, quần kaki, giày hầm hố màu nâu, rồi lại cả áo khoác màu nâu. “Tôi về rồi đây,” tôi nói theo bố, mặt đỏ bừng lên như để cho đỡ lạc tông với mặt cậu cớm, như thể nỗi xấu hổ của cậu ta đã thách thức nỗi xấu hổ của tôi.
“Tôi là trinh sát Wilson,” giọng cậu ta cao chói với, chẳng hợp với khổ người to bè chút nào. Cậu ta bắt tay tôi một cách mãnh liệt như để bù đắp cho việc chưa từng bắt tay tôi bao giờ. Tay cậu ta to bè nhưng lại mềm nhũn, như làm từ một chất rắn đã bị đun chảy ra. “Tôi chỉ đang hỏi han bố mẹ anh về mấy việc thôi.”
“Về gì thế?”
“Đêm qua có một vụ hỏa hoạn Sam ạ,” mẹ tôi lên tiếng. Giọng bà bình tĩnh, rất bình tĩnh, và tay cầm tách cà phê của bà không mảy may lung lay, nhưng tôi để ý thấy bàn tay kia, bàn tay phải, đang vịn chặt tay ghế tràng kỷ như thể nó là cái ghế tàu hỏa lộn vòng trong công viên giải trí. “Có người muốn đốt Dinh thự Edward Bellamy.”
“Vâng,” tôi cố tỏ ra như đây là lần đầu tiên nghe tới sự kiện này. Nhưng giả vờ cũng chẳng dễ, một là vì tôi đã biết hết cả rồi, hai là trinh sát Wilson mãi chẳng chịu buông tay tôi ra. Lúc này cậu ta không còn lắc tay tôi nữa, mà chỉ nắm nhẹ như thể đang muốn giúp tôi vượt qua một thời điểm đặc biệt khó khăn. Mà cũng có khi tôi mới là người đang giúp cậu ta: trông trẻ như thế thì nhiều khả nâng đây chính là vụ đầu tiên của cậu ta. Và có lẽ vì thế nên cậu ta mới tự giới thiệu chức danh của mình - thám tử - thay vì xưng tên cúng cơm, vì cậu ta còn chưa thể tin nổi là giờ đây mình đã có một chức danh đàng hoàng như ai.
“Edward Bellamy là nhà văn,” cậu ta giải thích. “Ông ấy viết sách đấy.” Rồi cậu ta nhoẻn cười với tôi, như thể đây là một tin tốt lành và cậu ta thấy vui vì mình là người đầu tiên loan báo.
“À,” tôi thờ ơ đáp, rồi như thể vừa chợt nhận ra tầm quan trọng của thông tin này, tôi thốt lên “À!” thêm lần nữa. Tôi vốn định làm cho chữ “À!” này nghe thật hoảng hốt, thật quan ngại, thậm chí có pha một chút phẫn nộ, nhưng không mảy may dằn vặt. Nhưng thực tế thì không được vậy mà nghe có phần yếu ớt và giả tạo, thế nên tôi bèn nặn ra một chữ “À!” thứ ba - lần này thì có nhiều cảm xúc và nội lực hơn tí tẹo. Nhưng mẹ ném cho tôi một cái nhìn như muốn bảo tôi có thôi ngay cái tiếng “À!” không thì bảo. Thế là tôi im re.
“Việc xảy ra đêm qua,” mẹ lặp lại lời mình vừa nói và lần này thì chậm hơn để giúp tôi thấm được. “Ta vừa nói với thám tử là suốt đêm qua con ở nhà với bố và mẹ.”
“Vâng đúng rồi,” tôi đáp, vì đúng thế thật.
“Rồi,” trinh sát Wilson đến giờ mới chịu buông tay tôi ra. Tôi đút ngay tay vào túi áo phòng khi cậu ta lại muốn bắt tiếp. Rồi cậu ta quay sang bảo bố tôi. “Thế giờ bác cho tôi xem lá thư đó đi.”
“Lá thư,” bố tôi nói, gật đầu. Rõ ràng họ đã nói về điều này trước khi tôi bước vào: cả ba người đều bình thản trước sự tồn tại của lá thư nọ và việc trinh sát Wilson muốn xem nó. Rõ ràng là cả ba đã bàn bạc với nhau. Bố đứng dậy, lết về phòng, trinh sát Wilson theo sau. Từ trong phòng ngủ của ông vọng ra tiếng trinh sát Wilson hỏi, “Trước giờ bác vẫn giữ lá thư trong cái hộp này à? Trong ngăn kéo này à?” Và tôi nghe thấy bố lầm bầm trả lời đúng vậy. Mẹ tôi vẫn ngồi đó, ủ rũ nhìn chằm chằm vào tách cà phê. “Giờ mà được hớp rượu thì tốt,” bà nói. “Rượu cho ra rượu ấy.”
“Thế,” tôi nói, cố tỏ vẻ bình thường và không bận tâm, nhưng thất bại rõ rệt khi nhặt cái khăn ăn bị rơi khỏi bàn và vân vê nó trong trạng thái bồn chồn, “cái lá thư cậu thám tử kiếm là lá thư gì thế?”
“Con có nhớ cái hộp bố con vẫn giữ, đựng toàn thư gửi từ những người muốn nhờ con đốt mấy ngôi dinh thự đó không?” mẹ tôi hỏi, đôi mắt rầu rĩ không rời khỏi tách cà phê. “Trong số đó có một lá nhờ con đốt Dinh thự Edward Bellamy. Đó là lá thư cậu ta muốn tìm.”
“Thế ra mẹ cũng đã biết về đống thư đó à?”
“À, ừ,” mẹ đáp.
“Và trinh sát Wilson cũng biết?”
“À, ừ,” mẹ lặp lại.
“Sao cậu ta lại biết?”
“Bố con nói.”
“Thật ạ?” Trong giọng tôi rõ ràng có le lói một chút gì đó - nếu tôi biết nó là cái gì thì chắc tôi đã ghìm được nó lại. Nhưng dù đó là gì, thì mẹ cũng nghe ra được. Bà ngước mắt lên nhìn tôi, trước hết là với vẻ hoài nghi, sau là sự thương hại.
“Con vẫn nghĩ chỉ có hai bố con con biết với nhau chứ gì?” bà hỏi. “Rằng những lá thư đó là bí mật giữa hai bố con.” Trước khi tôi kịp khẳng định điều này, mẹ tôi đã lắc đầu quầy quậy như muốn hất văng tôi ra khỏi đầu mình, như thể có tôi tức là có thêm một ý nghĩ không mong muốn mà bà sợ sẽ bị lạc lối bởi nó.
Nhưng ngay cả tôi đây cũng đang có hàng tá suy nghĩ không mong muốn khiến cho tôi lạc lối. Chỉ riêng việc có người ngoài tôi, bố tôi và tác giả các bức thư biết được về chúng đã đủ hệ trọng rồi. Nhưng trinh sát Wilson sẽ nói gì khi cậu ta phát hiện ra lá thư của cụ Frazier đã bốc hơi đi đâu mất? Bố sẽ nói gì, mẹ sẽ nói gì? Tôi có nên kể ra sự thật về cụ Frazier và việc cụ đã giằng mất lá thư? Nếu họ nghĩ tôi phịa ra thì sao? Có lời nói dối nào nghe thật hơn để cho tôi nói ra không?
“Chà,” trinh sát Wilson vừa nói vừa bước ra khỏi phòng ngủ của bố. Bố tôi đi theo sau, mắt ông lia về phía tôi, rồi về phía mẹ, rồi lại hướng sang tôi, rồi quay về hướng phòng ngủ, trước khi ông nhắm mắt lại vì lao lực. Trinh sát Wilson chờ bố tôi ngồi xuống chỗ cũ cạnh mẹ rồi mới nhìn lần lượt từng người trong chúng tôi - cặp mắt lúc đầu mở tròn xoe rồi nheo dần lại, vốn là để thể hiện sự nghi ngờ cao độ, nhưng thay vào đó lại khiến cậu ta trông như người gặp vấn đề với kính áp tròng. Cậu ta như muốn chờ chúng tôi mở lời trước, cũng như tôi đang chờ cậu ta kết luận, Lá thư đã biến mất. Và sau một chặp nheo mắt nữa, thì cuối cùng cậu ta cũng thốt ra điều này.
Bố tôi không nói gì: ông đã ở trong phòng nên hẳn nhiên biết lá thư đã biến mất. Mắt ông vẫn nhắm và tôi tự hỏi hay là ông ngủ khoèo rồi. Cả mẹ và tôi cũng giữ im lặng. Chúng tôi nhìn trực diện vào cậu thám tử, như để tránh phải nhìn nhau.
“Rõ ràng là nó biến đi đâu rồi,” trinh sát Wilson nói, như để đáp trả cho một câu biện hộ mà cậu ta muốn một trong số chúng tôi thốt ra. “Có ai biết nó biến đi đâu rồi không?”
“Không,” bố đáp. Mắt ông vẫn nhắm, nhưng lời ông đáp rất rành rọt, dù có một chút đau đớn. Đoạn ông mở mắt, nhìn về hướng phòng ngủ với vẻ mong ngóng, rồi một tiếng khịt mũi nghèn nghẹn vang lên, nghe không khác gì một đoàn tàu hỏa quá tải đang xình xịch lao đi trong đêm tối.
“Không,” mẹ đáp.
“Không,” tôi đáp và đế thêm một câu thừa thãi, “tôi cũng chẳng biết nó biến đi đâu.”
Sau đó, cả nhà Pulsifer không hó hé thêm một lời nào nữa. Trinh sát Wilson hết giật giật gấu áo khoác rồi lại mân mê cái mũ trùm; và không hiểu sao cậu ta cứ nhìn ra phía cửa ra vào, cứ như cậu ta đang ở trên sân khấu đợi đạo diễn nhắc bài từ cánh gà. “Rồi, tôi đã thu thập được đủ thông tin,” cuối cùng cậu ta cũng lên tiếng, hai vai buông xuôi thấy rõ. “Tôi sẽ giữ liên lạc.” Thế rồi chẳng buồn bắt tay ai, cũng không thèm để lại danh thiếp, cậu ta chạy một mạch ra khỏi cửa, xông vào màn đêm. Bố tôi rút lui về phòng để kiểm tra lại cái hộp và chồng thư thêm một lần nữa. Đầu óc tôi vẫn lởn vởn nghĩ về trinh sát Wilson, người đến nhà tôi để kiếm tìm một lời giải đáp nhưng lại để lại một đống câu hỏi. Tại sao cậu ta không tiếp tục tra khảo chúng tôi cho tới khi có được câu trả lời? Cậu ta cũng là một gã đầu lừa à? Không còn ai khá khẩm hơn nữa hay sao? Mà cậu ta là loại trinh sát gì vậy?
“Trinh sát Wilson đến từ đồn nào thế?” tôi hỏi.
“Ờ, cậu ấy cũng chưa kịp nói nữa,” mẹ đáp. Tôi nghe thấy tiếng bố rên rỉ trong phòng, âm vang như tiếng con bò bị thương. Nhưng mẹ dường như chẳng để tâm. Bà nhìn tôi chăm chú, đôi mắt chứa đầy hoài nghi, với những câu hỏi bay lởn vởn như những hành tinh xoay quanh mặt trời là đôi đồng tử của bà. Con lại gây ra chuyện phải không Sam? Bà muốn bới thật sâu. Con vừa về đến nhà mà đã lại gây chuyện rồi sao? Ôi, Sam ơi là Sam, lần này thì là chuyện gì nữa đây? Lần này thì con làm mẹ thất vọng theo kiểu nào nữa đây? Trong mắt bà ẩn chứa tất cả những câu hỏi này nhưng bà chẳng cần phải mở miệng nói ra. Bởi vì mẹ tôi, ôi tạ ơn Chúa, là một kẻ say khướt, và một điểm hay ho nữa của việc say xỉn là bao giờ bạn cũng có một câu hỏi trùm lên tất cả các câu hỏi khác.
“Có ai muốn một chầu không nào?” mẹ hỏi, rồi nhổm người lên tiến vào bếp, trước khi kịp nghe câu trả lời từ các bạn nhậu.
Tôi chìm đắm trong mớ câu hỏi đến mức phải đến năm giờ sáng hôm sau khi tỉnh dậy tôi mới nhớ ra mấy câu trước đó có vẻ khẩn thiết nhất. Sao mẹ không kể tôi biết rằng bà đã bị sa thải? Và hằng ngày bà đã đi đâu và làm những gì? Lẽ ra tôi có thể đợi tới giờ thích hợp để hỏi mẹ, nhưng ai mà biết được một khi tôi ngủ dậy thì còn những câu hỏi nào khác cần phải hỏi và cần phải trả lời? Ai mà biết được sẽ có những bí ẩn mới nào khác đột nhiên nảy ra và làm lu mờ những bí ẩn cũ?
Tôi tụt xuống giường, lảo đảo lết sang phòng ngủ của mẹ, cái phòng trước kia bố mẹ vẫn ngủ cùng nhau. Khi ta còn nhỏ, việc lén lút đột nhập vào phòng ngủ của bố mẹ luôn là một điều đáng sợ và cấm kỵ, và điều này chẳng hề khá hơn khi ta đã trưởng thành. Cửa phòng đóng kín. Tôi đứng đó trong giây lát để lấy can đảm rồi cẩn trọng xoay tay nắm cửa và mở nhẹ. Ngay cả trong bóng tối, tôi thấy căn phòng nhìn vẫn hệt như trong trí nhớ. Bên phải là tủ quần áo bằng gỗ, nơi bố tôi cất, đúng hơn là đã từng cất, quần áo của ông; chếch chếch đó là tủ gương lớn nơi mẹ treo đầm và chân váy. Chếch chếch đó là cái bàn bày điện thoại, đồng hồ điện tử và đống khung ảnh lớn nhỏ của hai mẹ con. Còn ở giữa cái bàn và tôi, là cái giường, cái giường lớn của bố mẹ, giờ đang trống trơn. Chẳng có ai nằm đó cả. Tôi lấy tay rờ rẫm lên ga trải giường rồi ngồi hẳn xuống giường để khẳng định cho chắc chắn. Chẳng những không có ai trên giường, mà cả tối nay đã chẳng có ai ngủ ở đây. Chiếc giường được dọn gọn ghẽ, ga giường căng phăng, trừ chỗ tôi vừa ngồi. Đầu giường đặt hai cái gối, và chẳng có ai gối đầu lên đó cả, không chỉ đêm nay mà có khi cả đêm hôm qua, đêm hôm kia… nữa.
Thế nên, dù tôi đã cố gắng hết sức, lại vẫn có thêm một câu hỏi nữa bật ra, lại là vào đầu giờ sáng nữa chứ: Mẹ tôi biến đi đằng quái nào rồi? Đến giờ, đã có quá nhiều câu hỏi tới mức tôi bắt đầu tự hỏi liệu tôi có đủ sức tìm ra câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi nào không, liệu tôi có còn biết một câu trả lời trông như thế nào không. Rồi tôi chợt nghe thấy một tiếng “thịch” dưới nhà. Ắt hẳn là tiếng người giao báo ném báo vào cửa ra vào, làm tôi ngộ ra rằng câu trả lời dù có hình dạng gì đi nừa, thì về mặt âm thanh nó luôn nghe giống một tiếng “thịch”. Đó là ý nghĩ nảy ra trong đầu tôi khi tôi đứng đực ra trong chiếc quần đùỉ. Tôi bước xuống nhà, mở cửa, nhặt cuộn báo lên, và, như tất cả mọi người, lờ đờ lật xem từng trang như để tìm kiếm một thông tin có khả năng đánh thức cho tôi tỉnh táo.
Và tôi đã tìm thấy nó, ngay ở mục tin địa phương. Đầu giờ tối qua, có kẻ đã châm lửa đốt Dinh thự Mark Twain ở Hartford, bang Connecticut, cách đây chừng bốn mươi lăm phút xa lộ. Bài báo nói vụ hỏa hoạn đầy những “nghi vấn”, mặc dù chẳng cần họ nói thì tôi cũng hiểu.