Tôi sẽ đến hiệu sách. Tôi biết rõ mình không thể bước vào một thư viện được, vì thư viện luôn cần bầu không khí nghiêm trang yên ắng, còn tôi thì chẳng có khiếu im lặng: từ nhỏ tôi đã không biết bao nhiêu lần bị các cô thủ thư gầy đét mặc áo len suỵt lấy suỵt để, nên tôi tự hứa sẽ không bao giờ quay lại chốn đó nữa, giống như là một con bò thông minh không bao giờ bén mảng đến cửa hàng đồ sứ sau lần viếng thăm thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba thảm họa. Nhưng những hiệu sách thì khác, tôi nhớ người ta có yêu cầu phải tuyệt đối tế nhị đâu, dù sự thực là đã hai chục năm nay tôi chưa từng đặt chân vào một hiệu sách nào cả.
Nhưng trước tiên tôi cần phải giải quyết cái sự chếnh choáng này. Câu chuyện về cơn say bí tỉ đầu tiên đầy trọng đại đã quá nhàm nên tôi không nói gì thêm nữa, trừ một chi tiết là nó khiến tôi cảm thấy như có ai đó đã đánh tráo cái đầu đầy bệnh tật của họ với cái đầu khỏe khoắn của tôi. Tôi bước xuống giường, nhảy vào buồng tắm ào một cái, dù chẳng khiến cơn chếnh choáng biến đi nhưng cũng làm dịu phần nào. Ai đó - mẹ tôi, đến giờ tôi vẫn đinh ninh vậy - đã lôi chiếc va li của tôi (chiếc va li tôi mang tới Cincinnati) ra khỏi xe và đặt nó trong phòng. Tôi mở va li, mặc quần áo, rồi đi xuống nhà. Căn nhà trống trơn - chẳng khó gì để biết một ngôi nhà có đang trống trơn hay không, nhất là khi tôi đã gọi toáng lên vài lần, “Xin chào! Mẹ ơi? Bố ơi? Có ai ở nhà không?” và kiểm tra một lượt hết các phòng để tìm kiếm một dấu hiệu của sự sống. Thế đấy, cả hai đã biến đi đâu mất. Và một lần nữa tôi lại dậy muộn: trời vừa xế trưa. Mẹ đã đi làm, không nghi ngờ gì, nhưng còn bố tôi thì đi đâu được? Hay là nhà xuất bản đã thương hại ông nên giữ lại làm, chỉ để ông cảm thấy mình là người bình thường? Ôi, tự dưng tôi nhớ Công ty Đóng gói Tiên Phong quá, nhớ cái sự bình thường nó mang lại. Đó chẳng phải lợi ích của công việc hay sao? Không chỉ đơn thuần để kiếm tiền, mà còn là phương tiện để làm bạn thấy bình thường, ngay cả khi (nhất là) bạn biết mình chẳng có chút gì bình thường cả? Thế đấy, giờ tôi đang trải qua những cơn chán chường của một người say rượu và thất nghiệp, và có khi bố đã biết tôi đang ở trong tình cảnh này, bởi trên bàn bếp đặt sẵn một ly nước cao, chứa đầy một thứ gì đen kịt đục ngầu nhìn thật hiệu nghiệm và bên cạnh là một tờ giấy có nét chữ của ông, dù hơi run rẩy nhưng không lẫn vào đâu được - tôi nhận ra ngay vì đã quá quen với những tấm bưu thiếp ông gửi - bên trên có ghi, “Uống đi”. Giống như Alice ở xứ sở diệu kỳ, tôi bèn làm theo. Một giây sau tôi thấy nhộn nhạo hơn nhiều, nhưng một giây sau đó thì lại đỡ hơn mấy lần. Dù cái phương thức dã men này là gì, thì bản chất của nó cũng chẳng khác gì rượu bia, bởi nó khiến tôi muốn uống thêm nữa, ngay sau khi tôi đi tới hiệu sách mang tên Kho Sách.
Tôi đã từng nhiều lần lái xe qua hiệu sách này, nó cách nhà tôi chắc chừng một dặm, ngay trên quốc lộ 116. Tôi biết Anne Marie và lũ nhóc thường xuyên viếng thăm nơi này: vào những giờ đọc truyện, giờ đổi truyện, giờ chia sẻ truyện, và những-hoạt-động-truyện khác, tất cả đều có chương trình và mục đích riêng biệt, không cái nào giống cái nào. Nhưng tôi lại chưa từng bước chân vào đây, sao lại có thể thế nhỉ? Đầu óc tôi lởn vởn câu hỏi này khi tôi quành vào bãi đỗ xe rộng bát ngát nằm liền kề một dãy các bãi xe rộng bát ngát của các siêu thị phụ cận. Do đâu mà tôi, một kẻ sống ngay gần đây đã bao nhiêu năm nay, một kẻ có cuộc đời bị những câu chuyện và những cuốn sách thống trị - lại chưa hề một lần đưa chân qua bậc cửa hiệu sách này? Tôi có khác gì một anh ngư dân thời cổ đại cả đời chưa bơi lần nào và trong giây phút sắp hăng hái lao xuống nước mới băn khoăn không hiểu sao mình lại đợi đến giờ này mới làm hành động ấy.
Điều đầu tiên tôi lưu ý đến là hiệu Kho Sách rộng bao la, và đầy ắp ánh sáng. Những tiệm sách mẹ dẫn tôi đi khi còn nhỏ đều có mùi của một nhà kho ẩm mục, tù mù, với lối đi chật chội len lỏi giữa hàng chồng sách ngất ngưởng, chất cao có ngọn, vươn ra cả lối đi, làm khuất lấp cả ánh đèn trần vốn dĩ đã leo lét. Nhưng hiệu Kho Sách thì khác hẳn. Vâng, đặt chân vào đây chẳng khác nào bước vào một phòng phẫu thuật có âm nhạc hân hoan dẫn dắt bước chân bạn, với hàng loạt băng rôn tím sẫm từ trên trần rủ xuống kêu gọi bạn cứ đọc, đọc nữa, đọc mãi!!! Chỉ có điều, tôi chẳng thấy cuốn sách nào cả, bởi ngay bên trong cửa ra vào là một quán cà phê. Quán cũng không có gì đặc biệt lắm nên tôi cũng không nhớ nó trông ra sao, có bán đồ ăn không, và nếu có thì liệu có ai ở đó để phục vụ bạn không. Nó là cái kiểu nơi mà khi bước vào, bạn sẽ ngất đi trong giây lát, rồi chợt tỉnh lại và nhận ra trên tay mình đã có một tách cà phê. Là cà phê đen đặc sản của Tây Phi. Tôi cũng chẳng biết cà phê đó là cà phê gì nữa, nhưng quả là thứ tuyệt hảo, đựng trong một tách gốm trang nhã, nặng vừa tay và rất cân đối. Tôi chỉ nhớ có vậy.
Lúc đó là ba giờ chiều, quán cà phê vắng hoe, chỉ có một nhóm, hầu hết là phụ nữ, kê ghế ngồi thành vòng tròn và đang thư thái nhấm nháp cà phê, trên đùi mỗi người đều đặt một cuốn sách. Trông họ có vẻ như là những vị hàng xóm của tôi ở Camelot, với đầu tóc giản tiện, trên người bận quần áo thường nhật loại đắt tiền, rộng lùng thùng hòng che đi cái sự khẳng khiu hay màu mỡ của cơ thể, chân đi tuyền một loại giày lai tạp giữa sục và giày chạy, tức là có độ bám tốt. Trước kia tôi chẳng bao giờ để tâm đến mấy bà này, không dè bỉu cũng chẳng tán dương, nhưng Anne Marie lại ghét cay ghét đắng họ trước khi chính nàng cũng trở thành một trong số họ. Và bởi vì tôi là chồng nàng và phải ủng hộ quan điểm của nàng, nên tôi cũng đành a dua theo mà ghét họ, dù chẳng bắt nguồn từ cảm xúc hay lý do nào. Xét cho cùng thì họ có khác tôi là mấy? Ở họ có điểm gì không phải cơ chứ? Còn tôi, tôi có sở hữu cái điểm không phải đó không? Các cuốn sách làm sao có thể giúp tất cả chúng ta tiến bộ hơn? Tôi quyết định kiếm tìm câu trả lời bằng cách kín đáo ngồi nghe lỏm buổi luận đàm về cuốn sách đang sải rộng đôi cánh trên đùi mỗi bà.
Điều đầu tiên tôi phát hiện ra là không phải họ bàn về cuốn sách, mà là về cảm nghĩ của họ khi đọc nó. Khi tôi đặt người xuống ghế, một bà khoác áo nâu dài tay, hai mắt thâm quầng đang thao thao rằng nhân vật trong truyện làm bà ta nhớ tới con gái mình.
“Ôi, đau lòng lắm ấy,” bà ta thốt lên. “Phát khóc lên được.” Nói đến đây, nước mắt bà ta thánh thót tuôn rơi, và vì những giọt nước mắt có khả năng lây lan y hệt những tràng cười hay những bệnh truyền nhiễm tệ hại nhất, nên bản thân tôi cũng suýt nữa không kìm lại được, may mà còn kịp nuốt ngược nước mắt vào trong. Còn bà kia sau một lúc cũng nguôi ngoai - những tiếng nức nở giảm dần thành thút thít, những tiếng thút thít giảm dần thành sụt sịt, rồi những tiếng sụt sịt giảm dần thành những đợt thở dài run rẩy. Bà ta đưa mu bàn tay lên lau mắt rồi chùi vào áo khoác, và lại nói, “Làm tôi phát khóc lên được. Tôi yêu cuốn truyện này quá. Đấy cảm nghĩ của tôi là vậy đấy.”
“Hãy gượm một phút,” tôi chen vào, một loạt câu hỏi đã kịp xếp hàng dài trong đầu. Chính xác là cái gì trong cuốn sách đã khiến bà ta liên tưởng đến con gái mình? Và sao điều này lại làm bà ta khóc? Và nó khiến bà ta, người đàn bà mặc áo khoác dài tay, òa khóc lên từng cơn nức nở nghẹn ngào bất chấp thể diện ở ngay giữa thanh thiên bạch nhật, hay là trong nhà vệ sinh, thút tha thút thít và chốt cửa vặn nước xối xả để không ai nghe thấy? Tôi nhớ mẹ tôi vẫn thường dúi sách vào tay rồi bắt tôi bình luận sau khi đọc xong. Chi tiết, bà luôn muốn nghe về những chi tiết, càng nhiều càng tốt, và hiển nhiên tôi là con trai của mẹ tôi, nhiều hơn tôi muốn, bởi lúc này đây tôi cũng muốn biết rõ những chi tiết. Nhưng rõ ràng là tôi đã lỡ miệng nói quá nhiều, vì cái đám hầu hết là phụ nữ này đang soi tôi đăm đăm, cứ như thể sự bộc phát nhất thời của tôi vừa thủ tiêu cả người phụ nữ lẫn con bà ta, và ngay bản thân bà này nhìn cũng như sắp sửa rơi vào một cơn vật vã mới. “Xin lỗi,” tôi đành ngả người lại vào lòng ghế, tự hứa sẽ chỉ ngồi trật tự nghe, hết sức trật tự, và giữ cho đầu óc rộng mở hết mức có thể.
Rồi tôi tiếp tục nghe và học được thêm vài điều. Một bà khác bận nguyên một cây thể thao nỉ màu xanh da trời cứ khăng khăng rằng những cơn giận dữ có thể mang lại điều hay, điều tích cực (dù bà ta không nói rõ cái điều tích cực đó là gì, nhưng chắc hẳn nó phải liên quan tới cuốn truyện); một bác giai (là đấng nam nhi duy nhất trong đám; và tôi nghĩ rằng sự vắng mặt gần như tuyệt đối của phái mạnh này rất có ý nghĩa, dù tôi không biết chắc đó là gì) trạc ngũ tuần, mặc một áo khoác thể thao bóng bẩy, chằng chịt phéc mơ tuya và các miếng logo, tuyên bố rằng ông đã ngấu nghiến cuốn sách chỉ trong một buổi, và sau khi đọc xong đã chạy ngay ra mộ ông cụ thân sinh mà ôm lấy ôm để. Rồi ông giãi bày rằng đã nhiều năm nay ông ghét bỏ bố đẻ của mình vì những lý do gì ông cũng không nhớ nổi, và còn ghét ông cụ vì đã chầu trời trước khi hai bố con kịp chuyện trò ra ngọn ra ngành về sự ghét bỏ ấy cùng những lý do bí ẩn đằng sau đó. “Tôi thấy mất phương hướng, tù mù tịt mịt,” ông kể, “và đó là lỗi của bố tôi.” Sự căm giận đã khiến ông mặc cho mộ phần bố mình tan hoang hết cả. Ông kể rằng đã ngồi ôm mộ bố một lúc lâu thật là lâu, để cho bố biết rằng ông yêu bố ông lắm, và mọi lỗi lầm đều được tha thứ. “Nấm mộ làm dây bẩn hết cả áo quần tôi,” ông nói, “nhưng tôi nào có sá gì. Lấm lem một chút cũng hay.”
“Sá gì lấm lem,” một bà tiếp lời. Bà này da trắng, mặc chiếc quần nhung kẻ sọc to bản, chân xỏ giày lười và có mái tóc giản tiện nhất trong những mái tóc giản tiện, nhưng lại thốt lên, “Sá gì lấm lem” với phong thái như một người da màu tỏ lòng kính Chúa. Điều này hiển nhiên khiến bà da màu duy nhất trong nhóm hơi khựng lại. Bà nuốt nước bọt, đứng dậy đi rót thêm cà phê và để lại quyển sách chỏng chơ trên ghế. Nhân không ai để ý, tôi bèn nhặt quyển sách lên. Bìa trước vẽ một tách cà phê bốc khói và tựa sách là Lắng nghe. Bìa sau trưng bức chân dung tác giả, một ông già nhu mì có râu quai nón, đầu đội mũ lưỡi trai đánh cá, ngồi ghế gỗ xếp và nhâm nhi một tách cà phê. Mặt trong bìa sau có đề một loạt chủ đề thảo luận, và chủ đề đầu tiên là “Bạn có cảm nhận gì về điều kiện làm người sau khi đọc cuốn sách này?”
Tôi cảm thấy tốt đẹp, nhất định rồi, về điều kiện làm người, và về nhóm (hầu hết là) phụ nữ này nữa. Đương nhiên là tôi chưa đọc cuốn sách, nhưng cứ như tôi thấy, thì cũng chưa một ai ở đây đọc nó cả, hơn nữa đó cũng chẳng phải mục đích của cuốn sách: mục đích của nó là để tạo cớ cho nhóm (hầu hết là phụ nữ) này trút những bầu tâm sự họ vốn đeo sẵn trong người trước khi đọc cuốn sách mà cứ như tôi thấy thì họ chưa hề đụng chữ nào. Việc trải lòng khiến ai nấy đều thấy dễ chịu hơn, tôi biết chứ, bởi lúc này quán cà phê đã tràn ngập những tiếng chuyện trò hân hoan ríu rít chẳng liên quan tí gì đến sách vở. Cuốn sách đã làm họ vui tươi lên! Đây là một khám phá mới mẻ với tôi, bởi tôi còn nhớ như in việc đọc sách đã khiến tôi khốn đốn như thế nào - rặt những điều tôi chỉ hiểu bập bõm và sẽ mãi mãi không thông, làm tôi đau hết cả đầu. Sách vở cũng làm bố mẹ tôi khổ sở, dù họ tuyên bố rất yêu chúng. Thí dụ như mẹ tôi, năm nào cũng phải dạy Chữ A màu đỏ, và năm nào cũng vậy, sau khi dạy xong bà luôn phiền não, chán chường và giận dữ với nhân vật Hester Prynne, với án chữ “A” và với mục sư Dimmesdale của cô, như thể bà chỉ chực phang đầu mình vào cuốn sách, rồi chạy ra ngoài đường mà lùng sục cái gọi là điều kiện làm người để phang nốt cả nó vào đầu mình. Nét mặt mẹ tôi toát lên vẻ đinh ninh rằng nó hẳn sẽ rất biết ơn vì được bà tẩn một trận nên thân. Tâm sự duy nhất của điều kiện làm người hẳn đã là, Xin hóa kiếp cho tôi đỡ khổ đi, đó là theo như quan niệm của mẹ tôi.
Nhưng điều này chỉ xảy ra nếu bạn đọc sách, hoặc nếu bạn đọc một số loại sách nhất định. Nhóm (hầu hết là) phụ nữ đã quẳng cuốn sách sang một bên và đang rôm rả buôn những chuyện vặt vãnh tào lao - cơm, áo, gạo, tiền - và họ có vẻ tươi tắn hẳn lên vì đã rũ bỏ được hòn đá trong lòng. Không chỉ tươi tắn, trông họ còn nhẹ tửng từng tưng, nếu không có trọng lực kéo xuống thì dám chắc cả nhóm đang trôi bồng bềnh trên trần nhà, tay mỗi người cầm một tách cà phê nóng. Giọng nói của họ giờ đã lạc quan, mạch lạc hơn nhiều, vẻ lo sợ ủ ê đã bay biến đi đâu, khiến người nghe cũng quên hết tất cả những đớn đau, khắc khoải, hãi hùng, trí trá trên cõi đời, và trong giây lát tôi đã quên bẵng rằng những thứ đó cũng đang hiện hữu trong đời mình.
Vẫn còn một thứ nữa cần xác minh. Tôi bước tới trước mặt bà bác hồi nãy xướng lên, “Sá gì lấm lem”, trỏ vào cuốn Lắng nghe trên tay bà và hỏi, “Cuốn sách này là chuyện có thật ạ?”
“Là một cuốn hồi ký,” bà đáp.
“Vâng,” tôi chẳng rõ bà ấy nói thế nghĩa là, Ừ, nó là chuyện thật, hay là, Không, hư cấu ấy mà. Đám phân tích trái phiếu đã chẳng chấp bút viết hồi ký trong tù đấy là gì, nhưng tôi nào dám chắc họ viết sự thật hay lại phịa ra, bởi trong mắt cái đám này, hai thứ đó cũng na ná như nhau, bởi họ đã dành không biết bao nhiêu giờ đồng hồ để tranh luận về mối quan hệ giữa sự sáng tạo và sự thật trần trụi. Kinh nghiệm đã dạy tôi không nên dồn ép người ta trả lời làm gì, vì khi tôi hỏi dồn đám phân tích trái phiều rằng rốt cuộc họ viết sự thật hay là phóng tác lên, thì họ cười hô hố vào mặt tôi như thể câu hỏi ấy chỉ là một viên gạch mới chồng lên bức tường đầu lừa của tôi. Thế nên tôi bèn chuyển sang hỏi xem bà ấy có thích quyển sách không.
“À có chứ,” bà ấy đáp.
“Vì sao vậy?”
“Vì rất bổ ích,” bà ấy chẳng hề chần chừ.
“Vâng, tôi chỉ cần nghe có vậy,” tôi đáp, vì lúc này tôi đã ngộ ra đáp án cho câu hỏi của ông thẩm phán: sách quả thực bổ ích, chúng có thể tạo ra ảnh hưởng trực tiếp quá đi chứ lị. Nếu không thì ai thèm vào mà đọc? Nhưng nếu đúng như vậy, thì sao mẹ lại vứt hết sách trong nhà đi? Hay là, chỉ có một số sách bổ ích, số còn lại thì vô tích sự nên thà vứt béng đi cho xong? Hiển nhiên mẹ tôi đã đọc nhầm sách rồi. Và tôi quyết không bước vào vết xe đổ đó.
Tôi rời nhóm (hầu hết là) phụ nữ và quán cà phê, lững thững dạo một vòng hiệu sách để tìm dãy hồi ký. Cũng chẳng khó tìm, vì hóa ra nó lại là dãy lớn nhất trong toàn hiệu, và xét theo khía cạnh nào đó thì không khác gì một Liên bang Xô viết của văn học, bởi nó đã ngấu nghiến nuốt chửng những miền đất nhỏ bé, xưa cũ của tiểu thuyết hư cấu và thi ca. Trên đường tới đó, tôi đã đi qua ngăn tiểu thuyết hư cấu và ngay lập tức thấy thương nó quá: đã nhỏ hẹp lại còn bị bỏ bê đến xộc xệch ngổn ngang. Suýt thì tôi đã lượm mua một quyển tiểu thuyết vì thương hại, nhưng cuốn duy nhất lọt vào mắt tôi là cuốn có tựa Chàng Mỹ trắng bình thường. Tôi rút nó ra khỏi kệ, vì xét cho cùng, trước khi xảy ra vụ đốt giết lằng nhằng kia thì tôi cũng từng là một anh chàng Mỹ trắng bình thường vậy và biết đâu một ngày nào đó trong tương lai tôi lại được trở lại sự bình thường, và biết đâu cuốn sách này có thể giúp tôi đạt được tâm nguyện, ngay cả khi nó chỉ là một tiểu thuyết và nói chung là không bổ ích cho lắm. Bìa sau sách có đề rằng tác giả là phóng viên một tờ báo ở vùng thượng bang New York. Tôi mở ra xem thì thấy cuốn sách khởi đầu bằng, “Tôi từng là phóng viên một tờ báo ở vùng thượng bang New York,” nên bèn gập sách, nhét nó trở lại vào kệ tiểu thuyết hư cấu, ngờ ngợ rằng đám sách này cũng chẳng khác bên dãy hồi ký là bao, và bao nhiêu sự thương hại đã bốc hơi hết cả.
Rồi tôi chuyển qua dãy hồi ký. Sau một hồi ngó nghiêng, tôi đã vỡ ra vì sao dãy này lại lớn đến vậy: ai mà biết được trên đời này lại có nhiều sự thật cần phải phơi bày như thế, nhiều lời khuyên phải nhắn nhủ như thế, nhiều bài học phải dạy và phải khắc ghi như thế? Ai mà biết được trên đời này lại có ngần ấy con người có nhu cầu bộc bạch ngần ấy chuyện về bản thân họ? Tôi lật sơ qua những tập hồi ký về chủ đề lạm dụng tình dục, chủ đề chinh phục tình ái, chủ đề bất mãn phòng the, và chủ đề giới tính khác. Tôi nghiền ngẫm thể loại hồi ký du lịch, hồi ký của các vận động viên thể thao nhà nghề do người khác chấp bút, hồi ký của siêu sao nhạc rock tôn thờ khoái lạc nay đã hối cải, hồi ký về hành trình mười hai bước cai nghiện, hồi ký về đọc sách (như cuốn Một đời đọc sách: từng quyển một). Có bà tác giả còn quăng ra một chuỗi năm cuốn hồi ký liền: một cuốn kể về mối quan hệ sứt mẻ với ông bố nhà văn nổi tiếng; một cuốn kể về mối quan hệ sứt mẻ với bà mẹ đẻ; một cuốn kể về mối quan hệ sứt mẻ với đám con cái; một cuốn kể về mối quan hệ sứt mẻ với thần Lưu Linh; và chốt lại bằng một cuốn kể về mối quan hệ có phần tình thân mến thương với bản thân mình. Cũng có một số cuốn hồi ký đặc tả sự gian nan của quá trình viết hồi ký, và kha khá cuốn hồi ký dạy người ta cách viết hồi ký, chẳng hạn như Bí kíp viết hồi ký của một hồi ký gia, vân vân và vân vân. Nhìn dãy kệ sách đầy ắp này lòng tôi bỗng nhẹ nhõm hơn: chẳng cần đọc chúng, tôi cũng ngộ ra rằng trên đời này còn có hàng đống kẻ tuyệt vọng, vị kỷ và nhạt nhẽo hơn tôi gấp bao nhiêu lần.
Thế rồi tôi chợt thấy cuốn hồi ký mình đang tìm kiếm, mà không hề biết rằng mình đã đi tìm nó, và cũng chẳng biết nó có tồn tại trên đời: Tôi là ai và tôi đã giả vờ là ai của Morgan Taylor, một gã trong đám phân tích trái phiếu nọ.
Chỉ có điều, như viết trong sách, giờ anh ta đã là một cựu chuyên viên phân tích trái phiếu. Đó là điều đầu tiên tôi biết được về cuộc đời anh ta sau khi ra tù (tôi ngồi bệt xuống sàn và đọc ngấu nghiến như thể đang trò chuyện với một tri kỷ xa cách bấy lâu): Morgan đã không quay lại với nghề phân tích trái phiếu nữa. “Với tôi, quãng đời đó đã chết khô,” anh ta tuyên bố trong cuốn hồi ký, mà không hề giải thích vì sao quãng đời đó lại chết, và chắc gì nó đã tươi tắn trong những ngày đầu. Nhưng gì thì gì, thay vì tiếp tục sự nghiệp phân tích trái phiếu, anh ta đã tự phong cho mình danh hiệu “người tìm kiếm”. Điều đầu tiên anh ta làm sau khi ra tù là du hí tới South Carolina vì anh ta chưa từng tới đó bao giờ, và có một giọng nói trong đầu anh ta cứ thúc giục anh ta nhất định phải đi - phải đi! - thăm thú đủ năm mươi bang trước khi nhắm mắt xuôi tay. Anh ta còn đi xem đấu bóng ở tất cả những sân bóng lớn của đất nước. Anh ta tham quan Yosemite, Badlands, Sequoia và tất cả những vườn quốc gia có tiếng khác…
“Ơ, gượm đã nào,” tôi thốt lên với quyển sách, và với cả Morgan nữa, bất kể là anh ta đang ở đâu. Bởi tôi đã nhận ra: đây là câu chuyện của bố tôi chứ còn ai vào đây. Bố đã kể cho tôi những chi tiết này trên những tấm bưu thiếp gửi về trong ba năm ông bỏ bê mẹ con tôi, và tôi đã thuật lại những chuyện này cho đám phân tích trái phiếu trong nhà lao. Họ còn tỏ ra đặc biệt thích thú khi nghe nữa cơ mà - giờ nhớ lại tôi mới để ý chi tiết này.
Bạn bảo tôi có cáu tiết không? Cáu sôi lên chứ lị. Hóa ra mấy vị hồi ký gia toàn làm cái trò mèo này? Đánh cắp chuyện đời thực của người ta rồi giả vờ thành của mình à? Tôi chỉ chực vứt cuốn sách trở lại kệ và quyết không thèm mua, duy có điều, tôi lại tò mò không hiểu Morgan có viết chính xác về chuyện bố tôi không, và liệu tôi có xuất hiện trong đó không. Hiển nhiên trong lời cảm ơn không hề có tên tôi: tôi đã đứng ngay đó mà kiểm tra, trước khi bước tới quầy thu ngân.
Sau khi mua cuốn hồi ký giả mạo của Morgan Taylor và rời khỏi Kho Sách, tôi làm theo đúng lời bố khuyên không nên làm: tôi không chần chừ thêm nữa. Tôi lái xe thẳng tiến về Camelot. Một anh chàng Mỹ trắng bình thường trong cơn khủng hoảng thì thường làm gì? Anh ta sẽ tìm đường về nhà, và quên bẵng đi, trong chốc lát, rằng chính bản thân mình là cơn khủng hoảng, chính bản thân mình là lý do mình phải bỏ nhà ra đi, và rằng ngôi nhà đó đâu còn thuộc về mình nữa.
Lúc này đồng hồ mới quá ngưỡng bốn giờ chiều, nhưng trời đông ngắn ngày đã bắt đầu nhá nhem tối và cơn lạnh chợt ùa đến, khoác lên khu đô thị một vẻ hân hoan kỳ quái như thể đã tới lễ Giáng sinh rồi. Hồi còn ở đây, tôi chưa từng thấy Camelot lung linh đến vậy với những dãy đèn đường và đèn pha cao áp, một vài nhà còn thắp lò sưởi ga không ống khói với đốm sáng đặc trưng không có khói, không lập lòe. Tôi biết cái lò ga nhà mình sẽ phải xếp xó, bởi Anne Marie chỉ mê mẩn duy nhất có lửa củi thôi. Tuy vậy, tầng dưới đèn đuốc vẫn sáng trưng, cả phòng khách, phòng ăn lẫn nhà bếp. Tôi đậu xe ở bên kia đường để còn nhòm được qua ô cửa sổ to rộng nhô hẳn ra bên ngoài, tắt đèn pha đi, rồi ngắm từng thành viên trong gia đình lần lượt diễu qua cửa sổ như thể đang trình diễn cho tôi xem. Katherine vác theo kẹp tài liệu gáy lò xo chứa xấp bài tập về nhà, thực ra là dễ ẹc với con bé, chắc nó đã làm xong từ lâu rồi; nhóc Christian tay giơ cái búa nhựa lên cao quá đầu, như để đấu tranh cho người lao động; còn Anne Marie lại huơ chân múa tay ra hiệu gì đó, cứ vung vít trên đầu như đang đuổi ong, nàng lúc thì mỉm cười, lúc lại quắc mắt giận dữ, và đang chuyện trò với một ai đó trong phòng mà tôi không nhìn rõ. Chắc chắn không phải bọn trẻ, vì cả hai đứa đang ngồi lù lù bên bàn, trong khi Anne Marie lại quay lưng lại với hai đứa. Nàng rõ ràng đang nói chuyện với chính mình, hoặc một người khác. Nhưng ai mới được chứ? Tôi chẳng thể đoán ra, vì cái anh chàng Sam là tôi đây đang ngồi trong chiếc xe này chứ không phải trong ngôi nhà kia, nhòm theo ba người bọn họ (cộng thêm vị khách giấu mặt nữa là bốn), cảm thấy mình đã xa lìa họ, lòng đau đáu chỉ muốn lại gần nhưng lại không dám đưa tay gõ cửa vì sợ phải phát hiện ra rằng họ chẳng còn đoái hoài gì đến mình. Vâng, tôi đã trở thành người đứng nhìn từ ngoài vào, mà việc này cũng không khác công việc của một độc giả là mấy (vâng lúc đó tôi đã nghĩ vậy), và có khi đây cũng chính là lý do mẹ tôi thôi đọc sách: bà đã chán ngấy cái vai trò của người đứng nhìn từ ngoài vào. Có khi bà đã muốn bước vào trong nhà, vào với người bố tàn tạ của tôi, cùng nhau bét nhè đến khi chẳng còn bia để mà uống, chẳng còn chuyện để mà quên. Nghĩ đến đây tôi chợt nổi cơn thèm được như vậy, nên bèn quay xe ra khỏi Camelot, về với gia đình đích thực của tôi, gia đình tôi chẳng việc gì phải khao khát, gia đình tôi có thể hòa vào mà lướt khướt đến khi lăn ra ngủ và quên phắt đi cái gia đình còn lại.