Phải nói rằng trong khoảng thời gian từ lúc đó, khi câu chuyện đang diễn ra, cho đến bây giờ, khi tôi đang viết những dòng này, thì tôi đã trở thành một người đọc thực thụ. Lúc trước tôi còn chưa từng nghe đến ông nhà văn đang ngồi trong Tư gia Robert Frost, chuẩn bị giới thiệu cuốn sách mới nhất của mình, nhưng giờ thì tôi đã biết đến danh tiếng của ông ta và cũng đã đọc hết tất cả các cuốn tiểu thuyết ông ta viết ra. Cuốn nào cũng đều xoay quanh những người đàn ông nông thôn lầm lì và bạo lực ở Bắc New Hampshire, những người chuyên hành xử bạo lực với vợ con mình để rồi lại ủ ê về sự bạo lực bên trong mình và vai trò của đất trời miền Bắc New Hampshire, một miền đất khắc nghiệt vô cùng, trong quá trình tạo thành cái bản tính bạo lực đó. Dạo gần đây, ông nhà văn nọ đã chuyển tới sống ở Wyoming để lánh xa những cư dân thành thị đang đổ về New Hampshire, và giờ thì các câu chuyện của ông ta lại được đặt bối cảnh ở Wyoming, nơi cũng có những người đàn ông lầm lì và bạo lực, và vân vân. Các cuốn sách của ông ta đã đoạt một số giải thưởng rồi còn được dựng thành phim - tôi cũng nên nói thêm để bạn đọc biết.
Peter và tôi đến nơi thật đúng lúc, bởi chỉ còn vừa đúng hai ghế trống. Tôi đưa mắt quét một lượt hòng dò ra những tên hỏa tặc, hoặc những tên hỏa tặc tương lai, nhưng chẳng dò ra được ai, tuyệt đối không. Có một vài người phụ nữ ngồi rải rác trong phòng, nhưng hầu hết độc giả là nam giới. Một vài người đàn ông ăn mặc giống Peter, họ bận áo khoác dày kẻ ca rô màu đỏ hoặc áo khoác chần bông màu nâu rộng lùng thùng hoặc sơ mi lót vải flannel, bên dưới thì mặc quần bò và đi giày hầm hố. Một vài người khác lại bận áo khoác trượt tuyết, ủng leo núi, cùng quần màu xanh chi chít túi của quân nhân, khiến ta chỉ muốn nhảy ra khỏi ghế để đi leo núi. Vài người khác thì mặc quần nhung kẻ sọc, ủng vịt, áo và khăn len vặn thừng. Nhìn không khác gì một Liên hiệp quốc những người đàn ông Mỹ da trắng. Nhưng tất cả những người đàn ông này, dù ăn bận thế nào, cũng đều ngả người ra sau, hai chân mở rộng đến mức tưởng như tinh hoàn của họ đang mắc phải một chứng gì đó trầm trọng lắm.
Phía trước chúng tôi là một cái bục có micro. Đằng trước bục - và chi chít trên những bức tường - là áp phích giới thiệu buổi đọc sách ngày hôm nay, cùng vị diễn giả chính, nhà văn cư trú hiện tại của Tư gia Robert Frost. Trên áp phích có hình của vị nhà văn cư trú và nhờ đó tôi nhận ra ông ta đang ngồi bên phải cái bục. Bản thân ông ta cũng mặc một áo khoác ca rô đỏ và có một bộ râu quai nón rậm rạp, đỏ rực, cùng một mớ tóc xoăn màu đỏ ngả bạc. Ngồi kế ông ta là một ông gầy, hói, đeo kính gọng sắt và bận một chiếc sơ mi nhung màu vàng mới cáu đến mức nhìn như thể vừa được lấy ra khỏi hộp. Ông hói đầu rời ghế, bước tới bục và giới thiệu mình là giám đốc của Tư gia Robert Frost, ông ta nói về lịch sử của chương trình nhà văn cư trú tại Tư gia Robert Frost, và quá trình tuyển chọn, rằng mỗi nhà văn cư trú được tuyển chọn dựa trên cách họ và các tác phẩm của họ tái hiện được linh hồn của Robert Frost và của vùng New England này. Rồi ông ta trình bày thêm một lúc nữa để giải thích linh hồn của vùng New England chính xác là cái gì. Tôi không thể nói mình đã nghe hết, hoặc nghe một phần, những gì ông ta nói, như kiểu bạn chẳng thực sự lắng nghe những mẩu quảng cáo xe hơi ra rả rằng sản phẩm của họ là hiện thân của linh hồn Mỹ.
Thế rồi ông ta huyên thuyên thêm một lúc lâu nữa, và hẳn đã giới thiệu tới vị nhà văn cư trú nọ vì tôi thấy ông ta đột ngột ngồi thụp xuống, rồi một tràng pháo tay rộ lên, và vị văn sĩ bước lên bục. Ông này lôi từ túi áo ra một chai rượu Jim Beam loại mini, tợp một tợp, rồi không một lời cám ơn độc giả đã tới dự, ông ta bắt đầu đọc sách luôn. Cuốn sách nói về một đống củi ngập trong một đống tuyết, và ông già chủ nhân của đống củi đó, một người thực ra chưa hẳn đã già nhưng đã bị bão táp cuộc đời làm cho tả tơi, rệu rã. Ông lão đang ngồi bên cửa sổ phòng bếp, nốc rượu ngô từ trong chai, ngắm nhìn tuyết rơi ướt nhoét đống củi mà lão và gia đình đang cần để sưởi ấm và cần phải được chẻ ngay tức thì. Lẽ ra con trai lão đã chẻ củi, thằng bé đã hứa là sẽ làm, nhưng nó còn đang bận vi vu hú hí với một con nỡm mà lão chẳng thèm bận tâm đến, vì nó là một con điếm (nó là con điếm không phải là vì nó lang chạ với người này người kia, mà vì ngoài điếm ra thì còn có ai khác hẹn hò với con trai lão cơ chứ?). Ông lão ghét con nỡm và ghét thằng con trai mình, ghét cả tuyết rơi và ghét luôn đống củi chưa được chẻ, một hình ảnh biểu tượng cho cuộc đời dang dở, chẳng có gì như dự tính, của ông lão, và ông lão cũng ghét cả chai rượu ngô, nhưng vẫn đang uống tì tì. Tôi không thể hiểu nổi vì sao ông già không bưng đít dậy mà đi bổ củi, và tôi cũng không hiểu vì sao tác giả lại không dùng các phép so sánh hay ẩn dụ vì thiếu điều thì câu chuyện đã là một bản danh sách với những gạch đầu dòng liệt kê những thứ ông lão ghét. Mà nhân nói tới danh sách, bà vợ ông lão đã bước vào bếp với danh sách đi chợ của bà, và bảo lão rằng bà phải đi mua đồ, nhưng không quên liếc về cái lò sưởi trống huơ trống hoác và nói, “Ba nó à.” Ông lão chẳng trả lời, có thể vì lão không thích bị gọi là “ba nó”, mà cũng có thể vì lão thích được gọi là “ba nó” tới mức muốn vợ gọi thêm lần nữa, hoặc có khi là những ông già như lão chỉ được gọi là “ba nó” trong những cuốn sách, mà lão lại không nhận ra mình đang ở trong một cuốn sách. Gì thì gì, vợ lão lại gọi lần nữa, “Ba nó à,” và nói: “Nhà lạnh quá đấy. Sao ông không ra ngoài chẻ củi đi?”
Ông lão chẳng buồn ngước nhìn vợ khi nghe bà nói; thay vào đó lão chỉ nhìn cái rìu đang nằm trong góc phòng, một cái nhìn cam chịu, đầy ẩn ý, khiến cho ai cũng hiểu rằng lão sẽ không dùng nó để bổ củi mà để thực thi một tội ác với vợ hoặc con của mình, hoặc cả hai, và hành vì bạo lực ấy là không thể đừng được. Câu chuyện kết thúc với cảnh ông lão nhìn cái rìu chằm chằm, rồi vị nhà văn cư trú nọ rời bục để quay lại chỗ ngồi bên cạnh vị giám đốc.
Kéo theo đó là một tràng pháo tay vang như sấm kéo dài tới mấy phút liền. Thật giống cái lần tôi được mời đến nói chuyện với lớp vỡ lòng của Katherine trong ngày hướng nghiệp. Tôi mang theo cái túi-khóa-kéo mình đã phát minh, và minh họa cho lũ trẻ thấy cách mà nó được kéo rồi khóa, kéo rồi khóa, và tôi đã phát minh ra nó như thế nào và tại sao. Rồi cả lớp nhiệt liệt hoan hô trong một lúc lâu, không phải vì chúng quá ấn tượng với cái túi, mà là vì chúng đang ra sức thi nhau xem đứa nào vỗ tay to và lâu nhất. Tràng pháo tay ở Tư gia Robert Frost cũng giống thế đấy. Đến cả tôi cũng phải vỗ lấy vỗ để để hòa cùng không khí chung. Người duy nhất dưới khán đài không vỗ tay là Peter. Ban đầu tôi cứ nghĩ là anh ta vỗ tay giống với cái cách anh ta nói chuyện, nhưng rồi tôi để ý thấy anh ta cứ nhìn chòng chọc vào vị nhà văn cư trú, hai mắt nheo lại đầy nộ khí, như thể đây là một bài kiểm tra để đo độ thịnh nộ của đôi mắt vậy. Thay vì vỗ tay, Peter lại xoáy sâu nắm đấm bàn tay phải vào bàn tay trái, khiến tôi thấy thật tội nghiệp cho lòng bàn tay trái của anh ta.
“Sao thế?” tôi thì thầm.
“Tôi thù ông ta,” anh ta gầm gừ.
“Tại sao?” tôi hỏi, nhưng anh ta không trả lời, đến một cái nhún vai cũng không. Anh ta giận dữ đến mức vậy đó.
Và sau khi ngẫm nghĩ trong giây lát - trong khi tiếng vỗ tay vẫn vang lên ầm ã, một điều tôi không lấy làm phiền vì tôi suy nghĩ tốt hơn khi có sự trợ giúp của các âm thanh đều đều, cũng như là có một số người ngủ ngon hơn khi có tiếng quạt vậy - tôi khá chắc chắn mình biết tại sao anh ta lại ghét ông nhà văn nọ đến vậy. Tôi mường tượng ra cảnh Peter ngồi trong nhà - bếp lò tỏa hơi nóng ngùn ngụt, kề bên là ống hút bồn cầu và chú chó - đọc sách hết cuốn này đến cuốn nọ. Có thể anh ta đã đọc cả những cuốn của vị nhà văn cư trú, và chúng - cùng với Ethan Frome - đều chỉ cho anh ta thấy cái tip người anh ta đã đang là và sẽ mãi mãi là (thay vì cái tip người anh ta có thể trở thành): u uất, bầm giập, bạo lực, ăn không nên đọi nói chẳng nên lời. Có thể đây là ý của vị giám đốc khi nhắc đến linh hồn New England, nhưng linh hồn ở đây không phải là ngọn hải đăng dẫn lối cho ta, mà là thứ kéo tụt ta xuống. Chắc đây là lý do tại sao Peter muốn tôi đốt Tư gia Robert Frost: vì người ta cứ cho những ông nhà văn cư trú như ông nhà văn cư trú này đến đây ở, những người chuyên đay đi đay lại rằng Peter là kiểu đàn ông thế này, rằng anh ta không phải là kiểu đàn ông thế kia, thay vì vạch ra mẫu người anh ta có thể trở thành, và Peter đã quá chán ngán điều đó. Tôi biết chắc chắn mọi chuyện là như thế, như thể tôi đang cầm lá thư của Peter trước mặt và đã đọc đi đọc lại đến thuộc lòng tâm tư của anh ta, trong khi thực tế thì hoàn toàn không phải vậy.
Bởi nếu tôi đã biết những gì giờ đây tôi đã biết (sau này tôi đã kiếm lại được lá thư của Peter, một câu chuyện tôi sẽ kể cho bạn sớm thôi), thì tôi đã hiểu Peter muốn tôi đốt Tư gia Robert Frost là vì tay giám đốc, kẻ đang ngồi cạnh vị nhà văn cư trú. Sáu năm về trước (Peter viết thư cho tôi sau khi tôi mãn hạn tù), tay giám đốc đã thuê Peter sửa một chỗ dột trên mái nhà. Một tuần sau khi anh ta sửa xong và được trả công, cái mái lại bắt đầu dột tiếp, và Peter không chịu sửa tiếp nếu không được tiếp tục trả công. Tay giám đốc chẳng những không trả công cho anh ta, mà còn rêu rao rằng Peter là kẻ không tin tưởng được và không ai nên thuê anh ta, nên giờ Peter không thể kiếm được việc. Thậm chí đã sáu năm trôi qua mà anh ta vẫn chẳng kiếm được việc. Nên anh ta muốn tôi đốt Tư gia Robert Frost để trả thù tay giám đốc. Lá thư không nói tại sao Peter không tự đốt nó được mà phải nhờ đến tôi, nhưng nhìn qua cái tình trạng đầu lừa ở phòng vệ sinh của anh ta tôi cũng đủ hiểu rồi. Gì thì gì, việc anh ta muốn nhờ tôi đốt tư gia này chẳng liên quan gì đến vị nhà văn cư trú, cũng như vị này chẳng liên quan gì đến ngài Frost, kể cả khi ông ta đang ở đây dưới sự bảo trợ của ngài. Tôi tự hỏi không biết đây có phải lý do vì sao các nhà văn qua đời: để không phải ngồi đó ngắm thiên hạ nói lung ta lung tung về đứa con tinh thần của mình. Tôi cũng tự hỏi liệu điều này có đúng với con người nói chung. Lý do tại sao ta qua đời ấy.
Còn nguyên do tại sao Peter đọc nhiều đến vậy và có nhiều sách đến vậy trong nhà thì lá thư không đề cập tới. Có thể là vì anh ta không kiếm được việc nên phải đọc sách giết thời gian. Có thể vì anh ta thấy buồn tẻ. Có thể vì anh ta thích đọc sách. Có thể vì đống sách là của thư viện nên chúng miễn phí, mà thời này thật hiếm có thứ gì miễn phí nên anh ta phải tranh thủ. Mà cũng có thể vì anh ta có những lý do riêng, lý do riêng ở đây không có nghĩa là người khác không được hiểu lý do của ta, mà ngay cả bản thân ta cũng không hiểu được chúng một cách thấu đáo.
Gì thì gì, lúc này đây tôi còn đang đinh ninh mình biết rõ Peter đang ghét ai và vì sao lại ghét, nên tôi thông cảm và muốn làm gì đó để giúp anh ta, ngoài cái việc anh ta nhờ tôi làm. Trong khi đó, tràng pháo tay vẫn tiếp tục kéo dài dai dẳng, còn vị nhà văn cư trú thì ngồi đó với vẻ mặt càng lúc càng gay gắt, càng lúc càng nốc nhiều rượu, tay giám đốc thì càng lúc càng tràn trề mãn nguyện, còn Peter càng lúc càng đỏ mặt tía tai, và chẳng khó để nhận ra rằng nỗi căm hờn của anh ta càng lúc càng tăng lên, và có thể nói rằng tôi tự cảm thấy mình phải làm một cái gì đó. Nếu nói như thế vẫn chưa đủ với bạn đọc, thì có thể nói rằng linh hồn của mẹ tôi - độc giả kiêm người kể chuyện - đang nhập vào tôi, cũng giống như là linh hồn của vùng New England đang nhập vào vị nhà văn cư trú.
“Tôi có một câu hỏi,” tôi đứng dậy hỏi. Tôi không biết có ai nghe được mình nói trong tràng pháo tay dữ dội này không, nhưng chẳng chóng thì chầy một cái nhóm người đang ngồi sẽ để ý thấy một người đang đứng. Vài phút sau, khi rốt cuộc họ đã để ý thấy tôi, họ ngùng vỗ tay. “Tôi có một câu hỏi,” tôi lặp lại.
“Không nhận câu hỏi, không nhận câu hỏi,” tay giám đốc đứng dậy. Thấy vậy Peter bèn gầm gừ thành tiếng, khiến tôi lấy làm cảm kích, và anh ta cứ gầm gừ như thế cho đến khi tay giám đốc ngồi về chỗ cũ. Ông nhà văn chẳng tỏ vẻ quan tâm gì hết. Ông ta trông chán chường và đờ đẫn, như thể ông ta biết đích xác tôi là ai, như thể ông ta đã quá nhiều lần đóng vai Mercutio, quá nhiều lần đấu lại nhân vật phản diện Tybalt[1], tức là tôi đây. Ngay cả những ngụm rượu Jim Beam mà ông ta nốc vào người cũng gợi cảm giác sắp đặt, như thể một phần của diễn xuất.
“Tại sao nhân vật của ông lại có thể,” đến đây tôi ngừng lại để tìm từ ngữ thích hợp, và vì chẳng tìm được từ nào nên đành nhặt nhạnh trong vốn từ ít ỏi của mình, “oặt ẹo như thế?”
Ông nhà văn cư trú nốc thêm một ngụm Jim Beam rồi đáp rằng việc giải thích vì sao các nhân vật của ông ta lại có tính cách thế này hay thế kia không phải việc của ông ta.
“Thế là việc của ai?”
“Chẳng ai cả, chẳng phải việc của bất kỳ một ai,” ông nhà văn đáp.
Chắc đây là một câu trích từ sách của ông ta, bởi tất cả mọi người đều hò reo hú hét để tán thưởng. Đây là thứ đáng kinh hãi nhất của việc nói trước đám đông: không phải sẽ có lúc bạn đánh mất họ, mà là cơ bản bạn chưa từng và sẽ không bao giờ sở hữu được họ. Mặt tôi nóng rực và đỏ bừng, tôi cược rằng nếu mình chạm mặt xuống sàn thì cả căn nhà sẽ bốc cháy mù mịt, và Peter sẽ được toại nguyện. Nhưng tôi không làm vậy, mà cứ đứng đó đợi đám đông yên lặng, rồi lên tiếng, “Nhưng đó là việc của ông mà. Chính ông đã tạo ra nhân vật đó như vậy còn gì.”
“Tôi không tạo ra nhân vật,” nhà văn đáp. “Mà tự nhân vật đó như thế.”
“Tự như thế à,” tôi lặp lại. Tôi mượn chiêu này từ mẹ tôi. Khi còn nhỏ, mỗi lần tôi thốt ra điều gì ngớ ngẩn, bà sẽ lặp lại để cho tôi nhận ra nó ngớ ngẩn đến mức nào.
“Tự như thế đấy,” ông nhà văn cư trú lặp lại lần nữa. Có khi đó cũng là một chiêu của ông ta.
“Nhưng giả sử như nhân vật đó không như thế,” tôi nói, và trước khi nhà văn và đám đông kịp nói gì, tôi tiếp luôn: “Giả sử nhân vật đó không phải là một lão già, mà là một chàng trai trẻ.” Ông nhà văn gật đầu, như thể đó là một lựa chọn khả thi, khiến tôi càng có động lực hơn. “Giả sử anh ta không giận dữ chút nào. Giả sử anh ta có công ăn việc làm. Giả sử anh ta là một nông dân…” Đến đây thì tôi ngưng lại. Tôi nhớ tới những buổi công não cho cuốn hồi ký của đám phân tích trái phiếu, nhớ tới cái câu họ đã dùng để khuyến khích nhau mỗi khi bí ý tưởng: “hãy viết những gì ta biết.” Và theo một khía cạnh nào đó, đám này đã viết những gì họ biết - họ biết những tấm bưu thiếp của bố tôi, biết ông đã đi đâu và làm gì - nên đó có vẻ cũng là một lời khuyên hữu ích. Nhưng tôi chẳng biết gì về việc đồng áng, nên tôi đành nhảy qua một thứ khác. “Hoặc giả anh ta là một thợ xẻ gỗ.” Tôi vẫn đụng phải đúng cái vấn đề đó: tôi chẳng biết cóc khô gì về công việc xẻ gỗ, ngay cả việc dùng cưa nào cho loại cây nào tôi cũng chẳng tỏ tường. Công việc duy nhất tôi rành là kỹ nghệ đóng gói. Nhưng tôi chợt nhớ tới phản ứng của bố khi mới nghe về nó, “Hộp đựng bóng tennis thì có gì vĩ đại,” nên tôi đoán rằng vị văn sĩ này cũng sẽ phản ứng như vậy, hoặc tệ hơn. Thế là, vì hốt hoảng và vì chẳng còn gì khác để nói, tôi đành kể, “Hoặc giả anh chàng này là một kẻ đầu lừa đã lỡ tay…” và những gì tôi nói ra sau đó về cơ bản chính là câu chuyện tôi đã kể cho bạn. Một phiên bản súc tích hơn, nhưng vẫn bao gồm phần lớn những sự kiện và nhân vật trọng yếu: những câu chuyện của mẹ tôi, một loạt tòa nhà bị đốt cháy, đôi vợ chồng xấu số nhà Coleman cùng cậu con trai chỉ nhăm nhăm trả thù của họ, người vợ xinh đẹp cùng hai đứa nhóc của tôi, hai đấng sinh thành luôn say bí tỉ và cuộc sống bí ẩn của họ, đống thư tay và đám phân tích trái phiếu. Dĩ nhiên là câu chuyện không có một cái kết đàng hoàng - tôi chỉ kể tới đám cháy ở Dinh thự Mark Twain và nói, “câu chuyện chưa dừng ở đây” - nhưng tôi cố gắng chỉ kể sự thật và sự thật. Quả vậy, chi tiết duy nhất tôi phịa ra là chàng trai trẻ đó biết chơi đàn ghita mười hai dây, bởi tôi luôn ao ước mình biết chơi ghita, và mười hai dây nghe nhiều và oách hơn sáu dây.
“Ông nghĩ sao?” tôi hỏi sau khi kết thúc. Thực sự tôi rất hài lòng với bản thân và câu chuyện của mình, cùng tất cả những sự kiện diễn ra trong đó. Bởi ta không thể cưỡng được việc mê mẩn câu chuyện của mình, vì nếu ta không mê thì còn ai mê nó nữa? “Ông nghĩ sao về anh chàng đó?”
“Tôi cho rằng anh này nghe không giống một con người thật,” vị nhà văn cư trú nói.
“Không thật à?” tôi hỏi. Ôi, đau quá đi! Vừa hôm qua, Lees Ardor đã bảo tôi rằng cô ta muốn được làm một con người thật, và giờ đây tôi đã biết đích xác ý nghĩa câu nói đó. Ngay lúc này, tôi muốn đánh đổi bất cứ thứ gì mình có để rút lại câu chuyện vừa kể, để mang Lees Ardor tới đây và cùng cô ta ngồi nghe vị nhà văn cư trú giảng cho chúng tôi biết một con người thật là như thế nào.
“Nghe không giống một người thật,” ông ta nói. “Nghe như một chiêu trò rẻ tiền. Không có chỗ cho chiêu trò rẻ tiền.”
“Không có chỗ cho chiêu trò rẻ tiền,” tôi lặp lại, đặt người xuống ghế một cách nặng nề, và tôi cược là chiếc ghế xếp sẽ gập ngay lại với cái lực tác động của tôi, duy có điều nó đã nghe thấy những lời đối thoại vừa rồi và thấy tội nghiệp cho tôi.
“Không chiêu trò gì hết,” ông ta nói, rồi tợp thêm một ngụm rượu ngô.
Đến đây thì tay giám đốc đứng dậy, tiến lên bục và huơ huơ hai tay trên đầu như một nạn nhân chìm tàu đang ra hiệu cho chiếc máy bay cứu hộ bên trên. “Tôi e rằng thời gian đã hết,” ông ta nói, rồi tuyên bố rằng ông nhà văn cư trú sẽ lấy làm vui lòng khi được ký tặng sách cho độc giả. Tuyên bố này khiến đám đông điên cuồng ùa nhau chạy xô tới cái bục. Tôi ngồi yên tại chỗ, đầu gục xuống như một kẻ bại trận. Có điều tôi đã liên tục bại trận, đây nào có phải lần đầu tiên. Peter ngồi kế bên tôi - tôi có thể nghe thấy sự căm giận bốc lên ngùn ngụt trong từng hơi thở của anh ta - nhưng nếu không kể tới anh ta, thì tôi hoàn toàn cô độc. Ngay cả linh hồn của mẹ tôi cũng đã rời xa tôi, như thể nó đã lội ngược thời gian, ra khỏi cơ thể tôi và ngôi nhà này để trở về chốn cũ của mình, giống như anh chàng kỹ sư Yankee.
Tôi không nhớ bọn tôi đã ngồi như vậy trong bao lâu: có thể là một phút, cũng có thể cả tiếng đồng hồ. Rồi Peter giật giật lưng áo của tôi (mà thực ra là của anh ta). Tôi cương quyết không nhìn anh ta, nên anh ta phải tóm lấy cằm tôi mà xoay về hướng anh ta. Peter đang rất căm phẫn, điều này đã quá rõ ràng. Tôi cứ ngỡ anh ta giận tôi: không những tôi đã tự biến mình thành kẻ ngốc, mà bằng việc kể câu chuyện của mình chắc hẳn tôi đã thu hút những sự chú ý không nên có về phía mình, về phía Peter và lá thư của anh ta, cùng với việc anh ta nhờ tôi làm. Tôi lại gục đầu xuống vì xấu hổ; và một lần nữa anh ta lại tóm lấy cằm tôi mà nâng lên, nhưng là bằng một cử chỉ nhẹ nhàng, nhẹ nhàng một cách đáng ngạc nhiên.
“Giờ thì anh hiểu tại sao tôi ghét tay đó rồi chứ?”
“Tôi hiểu rồi,” tôi đáp. Vì tôi cứ nghĩ tôi đã hiểu.
“Được chứ?” Peter hỏi, rồi nhún vai. Tôi hiểu anh ta đang muốn hỏi liệu tôi có chịu đốt căn nhà này giùm anh ta mà không cần thù lao hay không. Tôi không hề có ý định thực hiện việc này, nhưng - và đây chỉ là một trong rất nhiều thứ làm tôi hổ thẹn về mình - tôi lại thấy thật cảm kích vì anh ta không giận tôi, đến mức tôi quyết định sẽ hùa theo anh ta, vì hùa theo người khác là chuyện ta làm khi quá khó để làm điều ngược lại và nói ra sự thật.
“Được,” tôi đáp.
“Tốt,” anh ta nói. “Ta đi nào.”
“Đi đâu cơ?”
“Quán bar,” Peter nói.
“Ý kiến hay đấy,” tôi nói. Chúng tôi đứng dậy và rời khỏi căn nhà, nhưng trước khi bước ra ngoài tôi quyết định ngoái lại nhìn ông nhà văn cư trú. Ông ta vẫn ngồi trên chiếc ghế, vẫn nốc rượu Jim Beam, vẫn còn có một hàng dài người hâm mộ ôm sách chờ ký tặng. Tay giám đốc vẫn lởn vởn ở chỗ ông ta, chẳng biết vì mục đích gì. Nhưng ông nhà văn chẳng thèm liếc nhìn tay giám đốc, đám đông độc giả hay những cuốn sách của mình. Không, ông ta đang nhìn chằm chằm vào hai người bọn tôi, một cái nhìn khao khát, khi chúng tôi bước ra ngoài, và ai mà biết được: có khi rốt cuộc thì ông ta lại đang nghĩ rằng hai chúng tôi mới là những con người thật cũng nên.
❀ ❀ ❀
[1] Mercutio và Tybalt là hai nhân vật phụ trong vở kịch Romeo và Juliet