Cẩm Nang Đốt Nhà Các Văn Hào New England

Lượt đọc: 682 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
18

❊ ❊ ❊

Quán bar là một trại gia súc xây bằng xi măng khối màu xám có cửa làm bằng gỗ dán màu đen và được lắp phía trước thay vì ở bên hông như khu nhà của Peter. Nhưng cả hai đều thuộc nhánh hạ lưu trong gia phả của ngành kiến trúc. Trên cửa sổ quán có đính biển nê ông hình vại bia và giăng xung quanh là những bóng đèn Giáng sinh trông rõ là bi đát vì đến một nửa đã hỏng và tắt ngúm: chắc hẳn người ta đã bỏ mặc chúng ở đó quanh năm suốt tháng. Tôi cũng chẳng thấy có biển hiệu nào đề rằng đây là quán bia hay quán rượu, như thể việc không có tên đã đủ tồi tệ lắm rồi. Bãi đậu đang kín xe - hầu hết toàn xe tải - chiếc nào chiếc nấy đều được đậu ở một tư thế hiếu chiến và dữ tợn như đang chuẩn bị cho một cuộc đua xe đụng, hoặc vừa thi xong tức thì. Nơi đây là cái kiểu bar khiến người ta phải chùn bước, nhất là khi người ta là một người như tôi, một người chưa từng bước chân vào một quán như thế này bao giờ. Vâng, tôi cũng đã từng tới khá nhiều “quán bar và đồ nướng” rồi: có hàng tá quán kiểu này ở Camelot. Đó là cái kiểu quán có bút sáp màu cho trẻ con ngồi vẽ; những miếng lót đĩa loại đặc biệt để cho chúng vẽ bậy tùy thích; những quy định nghiêm khắc ghi trên thực đơn yêu cầu thực khách không được để cho đám trẻ vẽ bậy lên bất cứ thứ gì ngoài những miếng lót đĩa; và đó cũng là cái kiểu quán có những quy định thậm chí còn nghiêm khắc hơn thế xuất hiện ở mọi nơi - trên những miếng lót đĩa, trên tường, trên đồng phục hầu bàn của nam lẫn nữ - yêu cầu bạn không được hút thuốc nếu không muốn chịu hậu quả, và căn cứ theo mấy điều này thì những “quán bar và đồ nướng” đâu có khác gì thế giới bên ngoài chúng, trừ việc có nhiều quy định hơn, và ít cách để lách hơn.

Nơi này lại hoàn toàn khác hẳn, và ngay khi bước chân vào quán, tôi lập tức hiểu tại sao các quán bar lại tồn tại và tại sao người ta lại thích uống ở đó: nếu một “quán bar và đồ nướng” nhắc bạn tất cả những điều bạn không nên làm, thì một quán bar thực thụ sẽ tiêm vào đầu bạn ý nghĩ rằng không có gì bạn không thể làm, và sẽ không có bất kỳ hậu quả gì sau đó. Ấn tượng đầu tiên của tôi về quán này thật nhầm lẫn; nó không hề não nề chút nào. Một phần là vì bên trong quán trông khá khẩm hơn bên ngoài. Sàn quán được lát gỗ thông, bóng loáng như đường ném bowling. Còn bên trên là trần nhà ốp đá khuếch âm đang bong lung tung cả và thấp tè tè, chỉ cần đưa tay lên là có thể chạm vào nó và tôi đã thử chạm vào và cảm giác thật khoan khoái, như thể một chiến công. Lý do thứ hai là Peter, lúc này đang đứng bên nhà vệ sinh nam bán hàng trắng - anh ta gọi đó là những bịch xu và giá của mỗi bịch là mười đô la - cho những gã trông rất giống anh ta nhưng vui vẻ và hoạt náo hơn. Tương tự như bọn họ, phiên bản Peter trong quán bar cũng vui vẻ và hoạt náo hơn phiên bản Peter bên ngoài quán bar, nên tôi mới nói rằng quán này không hề não nề chút nào. Ở trong quán có vẻ như đã khiến cho anh ta được tự do. Mà cũng có thể là do thứ bột trắng: anh ta đã tự bán một lượng đáng kể cho mình. Hoặc là vì tôi đã đồng ý làm cái việc mà tôi thực ra không hề có ý định làm. Ngay khi chúng tôi vừa tới quán, Peter trỏ vào tôi và nói, “Là cậu ấy đấy,” và giới thiệu một lượt. Nhóm bạn ấy gồm có Barry, Mick, Shoe và Lyle. Tất nhiên ban đầu tôi không nhớ ngay được tên bọn họ, nhưng chẳng ai mất lòng và đều khiến tôi thấy như ở nhà. Có lúc Peter còn khoác vai tôi mà nói, “Bọn này cần cậu, anh bạn ạ,” khiến tôi suýt khóc và thấy như thể mình cũng cần họ chẳng kém gì họ cần mình.

Nhưng cũng có khi chính chất cồn đã khiến tôi cảm thấy thế. Peter chuốc rượu ngô cho tôi hết ly này đến ly khác, và chẳng mấy chốc mà tôi xướng nhầm cả tên của chính mình, làm cho cả hội cười vang sằng sặc, và tôi thấy vui nên lại uống nữa, uống mãi. Chắc tôi đã phải nốc tới cả tá ly rượu ngô. Sau một hồi, những tiếng nói chuyện vang lên như nước đổ lá khoai bên tai tôi và tôi không còn để ý tới thời gian nữa, dù ắt hẳn nó chẳng đứng lại mà chờ tôi vì đến một lúc, tôi tự dưng trông thấy mình đang ngồi trơ trọi trên ghế đẩu bên cái quầy rượu hình móng ngựa, đám bạn đã biến đi đâu mất, và một ban nhạc đã đang chơi từ bao giờ.

Trong quán không có sân khấu, nhưng đứng trong một góc phòng là một ban nhạc bốn người - hai guitar, một bass, một trống - với những mái tóc dài lòi ra dưới những chiếc mũ trượt tuyết, đầu gật tới gật lui để đánh nhịp cho một bài hát dường như chẳng có nhịp. Tiếng bass to đến mức nó không chỉ đơn thuần là một âm thanh mà còn là một cảm giác dềnh lên từ sàn nhà, lan tới háng tôi, tim tôi, rồi cổ họng tôi. Âm thanh kéo tôi tới gần với ban nhạc, sau khi đã ráng lấy thêm một ly rượu ngô từ cái tay pha chế.

Tôi tới đứng trước ban nhạc, không nhận ra họ đang chơi bài gì, nhưng khi kết thúc, có người hét lên từ đằng sau, “Creedence[1]!” Điều này dường như đã động viên ban nhạc, vì tôi thấy họ chuyển ngay sang một bài khác, một bài ắt là rất được ưa chuộng ở nơi đây, và chẳng mấy mà mọi người đã ùa ra sàn nhảy - nữ nhảy với nam, nữ nhảy với nữ, nam không có bạn thì giậm chân gân cổ hát vào chai bia - và trước khi kịp định thần, tôi đã bắt đầu nhảy.

Vâng, tôi bắt đầu nhảy, và lập tức nhớ ra tại sao lâu lắm rồi mình chưa nhảy. Bởi mỗi khi nhảy, tôi đều mơ, hoặc ít ra là hồi tưởng lại quá khứ, mà với tôi thì việc này với mơ cũng chẳng khác gì nhau. Và thế là ban nhạc chơi Creedence, nếu như đấy đúng là Creedence, còn tôi thì giậm chân và vung vẩy tay, rồi cứ thế mơ về lần gần đây nhất tôi nhảy, trong đám cưới của tôi, với Anne Marie. Chúng tôi nhảy theo bài gì thì tôi đã quên mất - lại thêm một thứ khiến tôi xấu hổ về mình - nhưng tôi đã có ấn tượng rằng đó cũng là bài được chơi ở rất nhiều đám cưới khác. Tôi đã để ý thấy nhiều cặp vợ chồng khách mời vỗ tay tán thưởng với ánh mắt lóng lánh. Thật vui khi được có mặt bên những cặp đôi đã trao nhau lời hẹn ước và đã tuyên thệ trước Chúa giống như tôi với Anne Marie, và hơn nữa, tôi cũng thấy rất vui khi được ôm trong tay cô gái cao ráo, đẹp tuyệt trần và ân cần của mình, người con gái đã cố tình đi giày bệt hôm nay để không cao hơn tôi quá nhiều, người con gái đang tỏa mùi thơm như chiếc bánh chúng tôi vừa mới cắt. Nhìn chung tất cả đều suôn sẻ, trừ việc chúng tôi đang khiêu vũ, và tôi cũng bắt đầu hồi tưởng và mơ trong lần đó, hồi tưởng và mơ về bố mẹ tôi, hai con người hiện đang không có mặt trong đám cưới đó vì tôi đã giấu không báo cho họ biết.

Cụ thể, tôi nhớ về lần tôi bí mật theo dõi bố mẹ tôi khiêu vũ cùng nhau. Hôm đấy là khoảng một năm sau khi bố quay về từ chuyến tha phương, và chắc chắn đó là lần đầu tiên tôi thấy họ khiêu vũ. Có khi đó còn là lần đầu tiên tôi thấy họ chạm vào nhau kể từ khi bố trở về. Bố mẹ tôi nhảy với nhau ở hành lang, còn tôi ngó trộm từ trên cầu thang (lẽ ra giờ đó tôi phải nằm ngủ trên giường, nhưng tôi nghe thấy tiếng nhạc - là nhạc của Benny Goodman chơi, cùng với dàn nhạc của ông ta, tôi nhớ vậy - nên rón rén ra nhìn trộm). Thật là một màn khiêu vũ đầy mâu thuẫn, ít ra là về phía mẹ tôi. Có lúc bà nhắm mắt lại, ngả đầu trên vai bố như đang ngủ, một giấc ngủ dịu êm; nhưng ngay sau đó lại mở to mắt, trợn trừng căm phẫn, dùng hai bàn tay đẩy ông ra xa, và thứ duy nhất giữ bà ở lại với bố tôi chính là bố tôi. Ông không chịu buông bà, và bà cứ liên tục nói, “Tôi không biết nữa, tôi không biết nữa,” còn ông thì liên tục nói, “Anh xin lỗi, anh xin lỗi, ôi Chúa ơi, anh xin lỗi.” Rồi bà thả lỏng người trong chốc lát, chỉ để lại xù lên ngay sau đó, và cứ như vậy. Tôi thấy thật buồn cho hai bậc sinh thành bối rối của mình, và nhận ra một triết lý là tình yêu, hôn nhân và khiêu vũ thực chất đều chỉ là những cuộc chiến nội tâm. So với việc ngắm nhìn bố mẹ khiêu vũ thì nỗi cô đơn có phần hạnh phúc và khoan khoái hơn hẳn, nên tôi quay lại phòng và leo lên giường ngủ. Khi tôi khiêu vũ với Anne Marie trong đám cưới, tôi đã nhớ lại những chuyện này, và vào cái lúc tôi nhớ đến đoạn mình đã leo lên giường đi ngủ một cách hạnh phúc, tôi buông Anne Marie ra và đứng sang một bên như chực trốn chạy. Toàn bộ quan khách há hốc miệng, và Anne Marie đưa tay bấu lấy cánh tay tôi, khiến tôi định thần lại, nhận ra cô dâu xinh đẹp của mình, rồi kết thúc điệu nhảy, và kể từ đó bọn tôi chưa một lần nhắc lại chuyện này. Nàng đã bấu lấy tôi rất mạnh, vì sau đó tôi thấy trên cánh tay mình có hai vệt đỏ bầm, như thể đã có một con tôm hùm Anne Marie ngăn cản tôi rời sàn nhảy và hủy bỏ cuộc hôn nhân ngay từ trong trứng nước, thay vì đợi thêm tám năm nữa.

Và tôi cũng đã hồi tưởng và mơ thấy tất cả những chuyện này khi nhảy trong quán rượu. Tôi chìm sâu trong giấc mơ đến mức bài hát đã kết thúc với tiếng trống đánh choang một cái, tiếng bass rung lên bần bật và tiếng ghita rít lên một hồi mà tôi vẫn điềm nhiên nhảy giữa đám đông. Ai nấy đều nhìn tôi chằm chằm. Tôi chẳng trách họ được vì nếu là họ thì tôi cũng nhìn. Tôi uống nốt ly rượu ngô, như thể điều này sẽ khiến họ thôi nhìn mình. Họ vẫn nhìn. Tôi nhìn xung quanh tìm kiếm trợ giúp, xem có ai có thể cứu mình được không.

Và tôi đã tìm được: một phụ nữ đứng bên phải tôi, tay cầm điếu cần đang cháy dở. Trước giây phút này tôi chẳng nhận ra sự có mặt của cô ta, và kể từ bấy đến giờ tôi cũng chưa gặp lại cô ta. Cô ta cao đúng ngang bằng tôi và đôi mắt nâu thẳm đang nheo lại nhìn tôi sửng sốt, hoặc có thể là do tác động của điếu cần. Cô ta không đeo khuyên tai, và trên hai tai không đục lỗ khuyên. Tóc cô ta đen, thẳng và chuẩn bị tuột khỏi đuôi gà, tuy vậy bạn có thể thấy rằng cô ta để tóc xõa cũng sẽ xinh như khi buộc lên, và tóc tai chẳng quan trọng lắm với cô ta, nó chẳng qua chỉ là một thứ an tọa trên đỉnh đầu mà thôi. Ngoài những chi tiết này thì tôi chẳng biết gì về cô ta, ngay cả là cái tên, mặc dù tôi vẫn suy nghĩ về cô ta suốt, như khi bạn suy nghĩ về những con người và sự vật đã thay đổi cuộc đời bạn mãi mãi - dù tôi không tin rằng cô ta cũng nghĩ về tôi, cuộc sống là thế đấy, đó là lý do tại sao tôi chắc chắn rằng ông già Noah cả đời sẽ bị ám ảnh bởi cơn đại hồng thủy, nhưng ngay khi con nước rút, tôi chắc chắn nó chẳng thèm mảy may suy nghĩ về ông dù chỉ một lần.

“Trông có vẻ như anh cần cái này,” cô ta nói, rồi đưa điếu thuốc lên miệng tôi. Tôi rít một hơi: đó là lần đầu trong đời tôi hút cần, nó có vị như đất, khiến tôi ho sù sụ, nhưng ngoài điều này ra thì chẳng có tích sự gì hơn những tợp rượu ngô. Rồi ban nhạc chơi một bài khác, bài này tôi nghe từ thời trung học: là của Skynyrd, và ban nhạc đang ráng hết sức để nhái lại phần biểu diễn ghita tay ba lừng danh chỉ với hai tay ghita của mình. Nhung lần này tôi không nhảy, nên cũng không mơ hoặc hồi tưởng gì hết - không bố mẹ, không Anne Marie và đám trẻ, tất cả những người mà tôi yêu và là lý do vì sao tôi được sinh ra. Sao chuyện này lại có thể xảy ra được? Sao ta không có một ai đó luôn ở bên để nói với ta rằng, Đừng! Thôi ngay đi! Hãy chạy ra ngoài trời tuyết và tự ném mình vào ngọn gió cho tới khi khả năng gây tổn thương và gây tai họa đã bị đóng thành băng! Sao ta không có một giọng nói như vậy trong đầu nhỉ, một giọng nói thay vì giục ta, Còn gì nữa? Còn gì nữa? thì lại khuyên Ngưng lại! Bỏ đi! Anh sắp gây họa đấy! Nhưng ngay cả nếu ta có giọng nói này trong đầu, liệu ta có nghe theo nó không? Điều gì khiến chúng ta điếc đặc trước những lời cảnh báo? Là sự thiếu thốn? Có phải sự thiếu thốn đã khiến ta điếc đặc, đã chất đầy đến tận mang tai ta, khiến ta không thể nghe thấy những lời sáng suốt hơn? Có phải ta luôn đầy ắp sự thiếu thốn, hay nói đúng hơn là đầy ắp bản thân mình?

Lúc đó, tôi nào có nghĩ được những điều trên. Tôi còn chẳng nghĩ được tới Anne Marie và Thomas, còn chẳng tự dối mình được rằng mình chỉ là một nạn nhân với đầy đủ nhân quyền, thay vì là một gã thủ phạm chẳng có quyền gì. Tất cả những gì lởn vởn trong đầu tôi là tôi đang có một phụ nữ xinh đẹp đứng kề bên, thậm chí cô ta còn đang cười với tôi, một nụ cười khiến cho cái ban nhạc dở tệ kia bỗng chốc nghe cũng tàm tạm, và hai má cô ta hây hây hồng, khiến cho tôi muốn hôn lên bên má gần tôi nhất. Tôi nghiêng người và hôn lên má cô ta, cô ta bèn đưa đôi môi về phía tôi, tôi hôn lên môi cô ta, với vô vàn cảm xúc, và khi nụ hôn dường như không đủ thỏa mãn cả hai, chúng tôi sờ soạng nhau, thật cuồng nhiệt và chẳng thèm để tâm đến bất kỳ ai khác trong quán, như thể bốn bàn tay đã trở nên tàng hình. Chuyện này tiếp diễn trong một lúc lâu. Tôi nhớ rõ vì rốt cuộc thì đôi môi tôi cũng trở nên mỏi dừ và xung quanh vang lên tiếng hú hét và vỗ tay rôm rả không có vẻ gì là dành cho ban nhạc. Tôi liếc quanh để xem ai đang tạo ra những tiếng này và thấy bố vợ tôi, ông Mirabelli, đang đứng ngay sau lưng người phụ nữ trong tay tôi. Và đứng sau ông vài thước là mẹ tôi. Cả hai đều không hú hét hay vỗ tay. Cả hai đều đang nhìn thẳng vào tôi với vẻ thất vọng tràn trề, như thể quán bar là một bảo tàng và tôi là một bức họa lừng danh mà họ đã trả một cái giá quá đắt để vào chiêm ngưỡng.

“Mẹ!” tôi hét lên, chấm dứt màn khóa môi ướt át. “Ông Mirabelli!” Điều này khiến người phụ nữ nọ sửng sốt không kém gì nỗi sửng sốt mẹ và bố vợ đã gây ra cho tôi.

“Anh vừa gọi tôi là gì đấy?” cô ta hỏi, rồi bước lùi lại và xoay người tôi, khiến lưng tôi quay về phía mẹ và bố vợ tôi, dù cô ta vẫn bấu chặt lấy cánh tay tôi. Cô ta bấu khá mạnh, làm tôi liên tưởng đến Anne Marie trong đám cưới nhiều năm về trước, khiến tôi tự hỏi liệu có phải tất cả phụ nữ đều có cái động tác này hay không, cái động tác sẽ giữ cho họ khỏi đổ sụp xuống khi họ phải quyết định xem nên giữ hay từ bỏ người đàn ông đang gắn bó với mình.

“Hượm đã,” tôi nói. Tôi cố gỡ tay cô ta ra, đồng thời xoay chúng tôi lại như cũ để có thể nhìn thấy mẹ và bố vợ tôi lần nữa, và động tác này hẳn là có chút bạo lực, bởi cô ta hỏi ngay, “Anh làm cái quái gì thế?” Cô ta hỏi rất to và lặp lại mấy lần liền - ban nhạc đã kết thúc bản nhạc và nhìn chúng tôi như thể chúng tôi mới là tâm điểm chú ý - và rồi cô ta biến mất, thế vào chỗ cô ta là vài gã đàn ông mà tôi nghĩ là có quen biết cô ta hoặc muốn quen biết với cô ta, và tất cả đều muốn biết xem có phải tôi đang có vấn đề hay không. Peter và đám bạn để ý thấy chúng tôi, bèn tiến đến và hỏi xem có phải họ đang có vấn đề gì hay không. Vụ này mất một lúc lâu mới dàn xếp được, bởi mỗi người trong chúng tôi đều có quá nhiều vấn đề, và tới khi xong xuôi thì mẹ tôi và ông Mirabelli đã mất hút đi đằng nào. Tôi chạy ra ngoài bãi đậu xe; họ cũng không có ở đó, và cũng chẳng có dấu vết gì của chiếc Lumina của mẹ tôi lẫn chiếc Continental của bố vợ tôi. Nhưng khi tôi bước vòng vòng quanh bãi đậu xe và đi ngang qua chiếc xe của mình, tôi trông thấy một mảnh giấy ăn của quán bar kẹp dưới cái cần gạt nước, trên đó viết “Ta nghĩ rằng ta hiểu anh”. Tôi đinh ninh rằng đây là bút tích của mẹ tôi (những vòng khuyết và thanh nghiêng trông rất quen), mặc dù cái câu này có nghĩa gì thì tôi chịu không hiểu nổi. Có quá nhiều thứ tôi không hiểu. Làm sao mẹ và bố vợ tôi lại biết tôi đang ở đây? Ai đã nói cho họ biết tôi đã lái xe tới New Hampshire? Có phải bố tôi? Có phải một trong hai bọn họ, hay là cả hai bọn họ, có liên quan tới cú điện thoại kia? Họ có biết nhau không? Làm sao họ biết nhau? Họ đã lái tới đây cùng nhau hay mỗi người một xe? Liệu mẹ tôi có biết rằng tôi đã nói với vợ mình và bố mẹ nàng rằng bà và bố tôi đã qua đời? Liệu có phải giờ đây ông Mirabelli đã biết rằng họ vẫn còn sống? Liệu có phải giờ đây bà và ông Mirabelli có đang bàn tán về người phụ nữ tôi đã hôn và về người vợ tôi đã phản bội? Tại sao họ lại đi theo tôi vào quán bar rồi rời đi ngay trước khi kịp nói gì với tôi? Và mảnh giấy này có ý nghĩa gì chứ? Tại sao mẹ tôi lại nghĩ rằng bà hiểu tôi? Tôi là con trai của bà, có phải thế không? Sao bà lại phải nghĩ về điều đó nhỉ?

Đó là những câu hỏi tôi không trả lời được, hoặc ít nhất là không muốn trả lời, và một thám tử trước sau gì cũng sẽ học được rằng không nên tự hỏi mình những câu đại loại vậy mà hãy tự hỏi mình những câu ta có thể trả lời được. Nên tôi tự hỏi: Giờ là mấy giờ? Rồi nhìn xuống đồng hồ: mười hai giờ hai mươi phút, nghĩa là tôi đã muộn mất rồi.

❀ ❀ ❀

[1] Creedence Clearwater Revival (CCR): ban nhạc rock nổi tiếng của Mỹ trong thập niên 1960, 1970.

ACE LE dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.