Và giờ thì tôi lại ở đây, đằng sau song sắt, lần này thì là một nhà giam với hàng rào an ninh cỡ vừa. Lần này tôi không còn được giam cùng với những tay cổ cồn trắng, nhưng bạn tù của tôi cũng không hẳn là thuộc tầng lớp cổ cồn xanh, vì trong số họ chẳng có ai đã từng làm một công việc đòi hỏi họ phải mặc áo sơ mi xanh có cổ. Nhưng câu chuyện về những người hùng nửa mùa bị cho ăn hành chắc bạn chẳng còn lạ gì, nên tôi sẽ không kể ra đây nữa. Thêm nữa, tôi đã đi được một phần ba cái án tù hai chục năm của mình và tính cho đến giờ thì tôi cũng không bị ăn hành nhiều lắm. Những bạn tù của tôi đều biết tôi đang viết một cuốn sách, rằng tôi đang kể lại câu chuyện của mình, họ tôn trọng điều đó và để cho tôi yên. Xét cho cùng, bản thân họ cũng không ngừng kể lại câu chuyện của chính mình: họ kể cho nhau nghe, rồi cho giám thị, cho gia đình, cho luật sư, cho ủy ban phóng thích. Ngay cả khi họ chưa bao giờ đọc một câu chuyện thì họ cũng không thể ngừng được việc kể lại chuyện của mình. Ai mà biết được, có khi chính việc thiếu thốn sách vở sẽ giúp họ làm được những thứ mà những cuốn sách của tôi và của mẹ đã chẳng làm được cho cả hai người chúng tôi. Tôi mong cho họ những điều tốt nhất.
Dẫu vậy, viết lách trong tù thật khó, khó hơn bạn nghĩ nhiều. Một phần là vì tôi nhận được rất nhiều thư, hết xấp này tới xấp khác. Wesley Mincher và Lees Mincher (họ đã kết hôn và cô ta đã đổi sang họ của chồng) gần như tháng nào cũng viết thư cho tôi trên giấy viết thư với tiêu đề của ban Ngữ văn để đòi lại khoản tiền ba ngàn đô. Tôi phúc đáp cho họ rằng tôi rất cảm kích trước việc họ đứng ra làm chứng buộc tội tôi để đổi lấy quyền miễn tố, và rằng họ thật kém may mắn vì khoản tiền ba ngàn đô đã bị đốt trụi theo căn nhà của bố mẹ tôi. Nhưng có vẻ như họ không chịu tin tôi mà cứ đinh ninh rằng tôi đã giấu kho báu của họ ở một hang hốc nào đó như trong Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer. Nhưng đó là tôi nghĩ họ nghĩ vậy, chứ dựa vào nội dung thư thì thật khó để suy đoán ra. Khi Wesley viết, lá thư luôn rất rườm rà văn hoa và cần phải có chú thích thì ta mới hiểu được đâu là “Kính gửi” và đâu là “Thân chào”. Còn khi Lees viết, cô ta chuyên trị chửi tôi là cái l*n, nhiều đến mức tôi bắt đầu nghĩ rằng đó là tên thân mật cô ta đặt cho tôi, cũng giống như nhà Mirabelli đã đặt cho tôi cái tên Xà Lách Trộn. Ngoài khoản ba ngàn đô ra thì nhìn chung họ khá hạnh phúc.
Thỉnh thoảng tôi cũng nhận được thư của Peter Le Clair. Anh ta cũng đứng ra làm chứng buộc tội tôi để đổi lấy quyền miễn tố, và từ bấy đến nay đã chìm đắm trong sự hối lỗi. Tôi biết điều này là vì tất cả những lá thư anh ta gửi đều chỉ có vỏn vẹn một từ “Xin lỗi”. Tôi bèn viết lại cho anh ta những lá thư dài kể đủ thứ chuyện tầm phào để cho anh ta có cái mà đọc, ngoài những cuốn sách mượn từ thư viện, cũng như để tiếp thêm nhiên liệu cho cái bếp lò sau khi đã đọc xong. Thảng hoặc tôi nhận được một thư hồi âm viết “Cảm ơn” khiến tôi khá cảm kích.
Cụ Frazier không làm chứng buộc tội tôi trước tòa - có thể là vì cụ chưa làm gì sai nên không cần tới quyền miễn tố - nhưng tôi không nhận được tin gì từ cụ, dù chỉ một lần, và vì cụ có vẻ là một người sẽ thích viết những lá thư dài và nghiêm trang với chiếc bút mực cổ của mình, nên linh tính mách bảo tôi rằng cụ đã qua đời, và căn nhà của cụ ở Chicopee đã bị chia năm xẻ bảy thành các căn hộ. Có lẽ là vậy, có lẽ giờ này cụ đang vui vầy bên em trai mình ở cõi an lành. Năm ngoái rốt cuộc tôi cũng có dịp đọc cuốn sách yêu thích của em trai cụ - Nhìn lại của Edward Bellamy - và cụ Frazier đã nói đúng: cuốn sách nói về một xã hội không tưởng, một Boston theo chủ nghĩa quân bình, một Boston hoàn hảo của tương lai, hoàn hảo đến mức tôi thấy nó thật ngây thơ, ngốc nghếch và hết sức buồn tẻ. Nhưng nếu đó là nơi anh em cụ Frazier muốn sống thì tôi là ai mà dám phản đối chứ?
Nhưng chưa hết: ngày nào tôi cũng nhận được cả xấp thư, không chỉ từ những cá nhân tức giận vì những ngôi nhà tôi thú nhận đã đốt, mà còn vì những ngôi nhà tôi đã không đốt. Chẳng hạn là có một phụ nữ liên tục gửi thư quở trách tôi sao đốt Dinh thự Mark Twain mà không đốt cả Dinh thự Harriet Beecher Stowe nằm ngay liền kề. Tôi đâu có biết chúng gần nhau đến thế, nhưng dù tôi có viết thư hồi âm giải thích bao nhiêu lần thì cô ta vẫn không chịu nghe, vẫn khăng khăng rằng tôi đã không coi trọng Stowe với tư cách là một văn hào nên mới không đốt nhà bà, và rằng điều này quả là một cái tát vào mặt Stowe và tất cả những nữ văn sĩ và nữ độc giả ở khắp mọi nơi, một ví dụ nữa minh chứng cho việc thế giới này đả đánh giá quá thấp Stowe cùng Túp lều bác Tôm, và đánh giá quá cao Twain và các tác phẩm của ông. Cô ta còn viết rằng nếu thế giới này có cái gọi là công bằng thì lẽ ra tôi phải đốt nhà Stowe và để yên nhà Twain mới đúng. Dù lần nào tôi cũng hoàn toàn đồng ý với cô ta, nhưng cô ta vẫn cứ tiếp tục gửi những lá thư giận dữ bên dưới có ký tên “Giáo sư Smiley” mà tôi đoán là bút danh của cô ta.
Những lá thư khiến tôi bận túi bụi, và cả những vị khách thăm viếng nữa. Đám phân tích trái phiếu tới thăm tôi hằng tuần vì việc tôi nhận tất cả mọi tội danh thay họ khiến họ thấy hết sức có lỗi, thay vì vui mừng. Họ không hiểu rằng tôi đã tự nguyện và cố tình nhận tội, rằng đây là một sự hy sinh chứ không phải một sự lỡ miệng. Họ không hiểu là vì với họ, sự hy sinh là một khái niệm quá lạ lẫm, bởi họ mới chỉ hy sinh đúng một lần.
“Hãy lấy câu chuyện của tụi này đi,” họ bảo tôi. “Chú mày đã nhận tội phóng hỏa thay cho bọn này; giờ thì hãy đứng ra nhận lấy danh tiếng đi. Viết một cuốn sách kể lại việc đó đi. Bọn này đã nợ chú mày một cuốn; giờ bọn này cho phép chú mày đấy.”
“Thế nhưng còn sự thật thì sao?” tôi hỏi lại họ. “ ‘Có gì kể nấy đê ông tướng ơi. Cho nó nhẹ người.’ Các anh còn nhớ chứ?”
Lần nào nghe tôi nói vậy họ cũng cười phá lên; họ đã nghiệm ra rằng kể lại sự thật cũng kém thỏa mãn chẳng khác gì việc đốt nhà hoặc viết sách, nên giờ họ đã quay trở lại nghề phân tích trái phiếu. Nhưng đều đặn mỗi tuần một lần, họ sẽ gác lại lịch làm việc bận rộn của mình để tới thăm và giúp tôi viết cuốn cẩm nang đốt nhà. Họ kể cho tôi cách nào là tốt nhất để đốt nhà của loại văn sĩ nào, rằng lúc nào thì ta nên tưới xăng xuống ống khói, lúc nào thì chỉ cần ném một chai bom dầu qua cửa sổ, và những bài học đường đời mà độc giả sẽ rút ra được từ mỗi cách. Họ nhắc nhở tôi rằng cuốn cẩm nang đốt nhà của tôi cũng đồng thời là một cuốn hồi ký, và rằng một cuốn hồi ký mà thiếu đi cái phần tuổi thơ sóng gió thì còn gì là hồi ký. Chỉ có điều họ không nghĩ rằng tuổi thơ của tôi, với từng ấy những sự dữ dội, đã đủ dữ dội, nên họ muốn tôi sáng tác ra một kịch bản mới. Nhưng chủ yếu là họ muốn tôi đổ lỗi lên đầu bố tôi, vì lúc này ông không còn ở đây để tự bào chữa hoặc bảo vệ câu chuyện của mình. Tôi bảo họ rằng tôi yêu và nhớ bố tôi, và không muốn nói những điều không đúng và đau lòng về ông, nhưng họ lại cho rằng tôi thật nực cười và nhất định phản đối. Thế nên tôi đành viết những câu thế này để họ khỏi mè nheo: “Khi còn nhỏ, tôi đã phải hứng chịu sự bạo hành từ bố tôi; và không còn nghi ngờ gì nữa, điều này đã góp phần nhen nhóm trong tôi cái khao khát muốn châm lửa đốt mọi thứ.” Đám phân tích trái phiếu hài lòng, và tôi cũng hài lòng: bởi nếu tôi viết ra sự thật về bố tôi, rằng, Bố tôi đã làm một số việc tồi tệ, nhưng tôi vẫn yêu ông và nhớ ông thật nhiều, và nếu tôi viết ra sự thật về Deirdre, rằng, Bố tôi yêu một phụ nữ khác nên tôi rất căm ghét bà ta và đã bỏ mặc cho bà ta chết cháy, thì chắc tôi sẽ khóc nức nở lên và không thể ngừng được mất. Nếu bạn nói ra sự thật, thì bạn sẽ khóc nức nở và không thể ngừng được, mà điều này thì có mang lại lợi ích gì cho bản thân bạn, hoặc bất kỳ ai khác cơ chứ? Thêm nữa, có ai muốn đọc một câu chuyện có thật khiến họ khóc nức nở và không thể ngừng được không? Nếu là bạn thì bạn có muốn đọc không? Bạn sẽ đọc vì nó là câu chuyện có thật, hay vì nó khiến bạn khóc nức nở? Hay là nó khiến bạn khóc nức nở vì bạn nghĩ nó có thật? Và khi phát hiện ra nó không có thật, thì bạn sẽ làm gì, sẽ cảm thấy gì, sẽ đổ lỗi cho ai?
Có thể một ngày nào đó tôi sẽ tìm ra câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này, nhưng tạm thời tôi sẽ viết ra những câu chuyện không có thật về bố tôi và làm như chúng là thật, điều này khiến đám phân tích trái phiếu rất hài lòng, nhưng cũng đồng thời dấy lên bên trong họ một nỗi hoài nhớ: khi tôi đọc cuốn cẩm nang đốt nhà cho họ nghe, tôi có thể thấy ánh mắt họ nhìn xa xăm, mông lung, như thể cuốn hồi ký của tôi là một con thuyền giữa đại dương và những trái phiếu là bến bờ.
Nhưng thật ra mà nói, tôi đang viết không chỉ một, mà là hai cuốn sách. Cả hai cuốn đều bắt đầu bằng “Tôi, Sam Pulsifer…” Một cuốn kể lại cái câu chuyện bạn đã được biết, còn cuốn kia chính là cuốn cẩm nang của hỏa tặc; một cuốn kể về ngôi nhà duy nhất tôi đã đốt và những ngôi nhà tôi đã không đốt, còn cuốn kia tường thuật lại quá trình tôi đốt tất cả những ngôi nhà đó cùng những chi tiết và bài học kèm theo. Tôi dự định sẽ gán mác tiểu thuyết cho cái câu chuyện bạn đã được biết, còn cuốn cẩm nang của hỏa tặc thì là hồi ký. Tại sao tôi lại viết cả hai? Có thể vì tôi muốn vẹn cả đôi đường, mà thường thì đời đâu có cho ta được như vậy bao giờ, và đám phân tích trái phiếu chắc cũng chẳng muốn cho tôi được như vậy, thế nên họ mới kiên quyết bắt tôi gọi câu chuyện có kể về họ là tiểu thuyết, còn cuốn còn lại là hồi ký. Họ bảo tôi, “Chú mày cần phải bảo vệ những người vô tội chứ,” và đó chính là câu nói mà những kẻ có tội luôn thốt ra khi họ muốn mình được bảo vệ.
Thế rồi còn cả Thomas Coleman nữa. Cậu ta giờ sống cùng với Anne Marie và hai đứa nhóc, nhưng mỗi khi cậu ta tới thăm tôi, cả hai người chúng tôi đều không bao giờ nhắc tới ba người đó. Và cứ hai tuần một lần, cậu ta tới thăm tôi một mình. Thomas đã tăng cân kha khá: bụng cậu ta đã to lên, chuẩn bị làm đống khuy đứt chỉ đến nơi, còn cổ áo thì thít chặt lấy xương hàm. Cậu ta luôn tới thăm tôi vào thứ Hai, luôn là với bộ mặt đỏ dừ và làn da rám nắng đặc trưng của đàn ông ngoại ô sau khi làm vườn vào cuối tuần. Tôi có thể mường tượng ra hình ảnh cậu ta đứng trên chiếc máy xén cỏ tự động của tôi; và chẳng cần đến đó tôi cũng biết chắc chắn cậu ta sẽ không để mình trần như tôi, và chắc chắn những cư dân Camelot sẽ rất ưa cậu ta vì điều này. Nhưng chúng tôi cũng không trò chuyện về chủ đề đó. Chúng tôi không nói về việc liệu cậu ta có biết, hoặc nghi ngờ, rằng Deirdre đã gây ra những vụ hỏa hoạn nọ. Mà thực ra chúng tôi cũng chẳng nói về điều gì cụ thể cả: chúng tôi thường chỉ ngồi trong im lặng, đơn thuần là hai người đàn ông bình thường với những quá khứ đượm mùi khói, những mất mát về đường phụ mẫu, một gia đình chung thời điểm ở hiện tại (và có trời mới biết chúng tôi sẽ còn chia sẻ với nhau những gì ở tương lai), cùng những trái tim hổng lỗ chỗ với những lỗ hổng có kích cỡ và tuổi đời khác nhau, đang được khoét sâu hoặc bồi lấp ở nhũng tiến độ khác nhau. Tôi không hiểu rõ tại sao cậu ta lại tới thăm tôi; nhưng mỗi khi cậu ta tới tôi đều thấy tiếc, mỗi khi cậu ta đi tôi cũng thấy tiếc. Và tôi chẳng hiểu vì sao lại thế.
Tiếp đến là Anne Marie và hai đứa nhóc. Lần thì nàng mang theo hai đứa, lần thì nàng tới một mình. Mỗi khi cả ba tới thăm, tôi đều hỏi han Katherine và Christian xem hai đứa hằng ngày thế nào, có gì thú vị xảy ra không. Katherine giờ đã mười lăm tuổi, xinh đẹp, cao ráo và có một mái tóc đen nhánh, nói chung là giống hệt mẹ, và con bé cũng đã rất ra dáng một công dân kiểu mẫu. Tuần trước khi cả ba tới thăm, tôi mới hay rằng con bé vừa được tuyển chọn vào cuộc thi Nữ sinh toàn bang.
“Con khiến bố thật tự hào,” tôi nói.
“Cám ơn bố,” con bé đáp.
“Thế Nữ sinh toàn bang với Nam sinh toàn bang khác nhau như thế nào?” tôi thắc mắc.
“Bố hẳn là đang đùa?” con bé hỏi ngược lại, và tôi nói, “Ừ,” vì hẳn là tôi đang đùa.
Còn Christian giờ đã mười hai tuổi, đã đến tuổi bóng bánh gậy gộc. Tôi cũng không rõ liệu thằng bé có biết nói chuyện gì khác ngoài chủ đề đó không, vì chúng tôi có quá ít thời gian bên nhau nên tôi cũng chẳng hỏi. Dạo gần đây thằng bé trở nên mê mẩn các loại giày dép thể thao, nhất là những thiết kế mới nhất. Tuần trước thằng bé vừa thao thao với tôi rằng đế giày bóng rổ của nó chứa đầy khí, còn giày bóng đá và bóng chày thì lại có đinh làm bằng một chất chẳng phải kim loại cũng chẳng phải nhựa.
“Thế thì là chất gì?” Tôi tò mò muốn biết
Rồi Christian chăm chú nghĩ ngợi phải đến cả phút. Thằng bé có cái đầu giống tôi, to hơn so với cơ thể và hơi tối dạ một chút, và tôi có thể thấy não nó bắt đầu xoắn cả lại khi thằng bé tập trung suy nghĩ. Cuối cùng thằng bé bỏ cuộc và nói, “Một chất gì đó an toàn.”
“Hy vọng là vậy,” tôi nói, và rồi, vì có linh cảm rằng viên giám thị đứng sau chuẩn bị nhắc chúng tôi là sắp hết giờ thăm, tôi bèn bảo hai đứa, như tôi vẫn thường làm, “Bố yêu hai đứa,” và chúng cùng nhau gật đầu, như chúng vẫn thường làm. Gật đầu có nghĩa là Vâng, bọn con cũng yêu bố lắm, ấy là đối với những đứa trẻ cảm thấy ngượng khi phải nói thành lời với bố mình rằng chúng yêu ông ta, mặc dù có quá nhiều lý do để chúng không yêu. Ai cũng biết rằng gật đầu như thế có nghĩa là “Vâng, bọn con cũng yêu bố lắm.” Đấy là một kiến thức tối cơ bản. Có phải không nhỉ?
Khi có hai đứa ở bên, Anne Marie và tôi không trò chuyện gì nhiều. Nhưng khi nàng tới một mình, như mới hôm qua đây, thì chúng tôi lại có rất nhiều thứ để nói. Toàn là những thứ chúng tôi đã nói rất, rất nhiều lần rồi, nhưng căn cứ theo mức độ lặp lại của những câu hỏi thì có vẻ như chúng vẫn còn nguyên giá trị. Tôi hỏi nàng có ổn không, có đủ tiền không, và nàng trả lời có, có, nàng vẫn ổn. Tôi biết nàng đã được thăng chức lên làm quản lý toàn thời gian ở siêu thị đồ gia dụng, nên tôi bèn hỏi nàng về công việc, và nàng kể tôi nghe về loại gỗ ép lẽ ra không được ép nhưng lại vẫn được ép, hoặc là lẽ ra phải được ép nhưng lại không được ép. Tôi hỏi nàng có phải Thomas vẫn sống ở nhà không, và nàng đáp rằng đúng vậy, rồi tôi hỏi tại sao, và nàng nói cho tôi nghe sự thật: “Bởi vì hai chúng tôi có rất nhiều điểm chung.”
“Chẳng hạn?”
“Như việc anh đã làm tổn thương cả hai chúng tôi.” Tôi không dám nói thêm gì nữa, bởi tôi biết rằng một người phụ nữ bị hành hạ đương nhiên sẽ yêu một người đàn ông bị hành hạ, và cũng bởi tôi biết rằng những gì nàng nói là thật. Nàng không hỏi tôi về những đám cháy và những nạn nhân đã chết, rằng tại sao tôi lại làm cái việc tôi đã làm hoặc tại sao tôi lại làm cái việc nàng nghĩ tôi đã làm - có thể vì thương cảm, có thể vì buồn, mà cũng có thể vì nghĩ tiếp về câu chuyện đó, sau từng ấy thời gian nàng đã và đang dành ra cho nó, là một việc nàng không thể chịu nổi. Tôi sẽ không bao giờ nói cho nàng nghe sự thật về những đám cháy đó, bởi vì điều đó cũng đồng nghĩa với việc thú nhận rằng tôi đã một lần nữa lừa dối nàng, và tôi biết điều này sẽ làm nàng đau lòng tới mức nào, và có thể đây chính là những gì ta phải làm khi quyết định gánh lấy trách nhiệm trên vai: không kể ra sự thật, tìm ra một lý do chính đáng cho hành động lừa dối của ta và không ngoái đầu lại. Gì thì gì, chúng tôi đã không đề cập tới chuyện đó. Chúng tôi biết sẽ an toàn hơn nếu chỉ nói đến Thomas, nên lúc nào chúng tôi cũng chỉ nói đến Thomas.
“Anh ấy đối xử rất tốt với hai đứa nhóc, Sam ạ,” Anne Marie nói.
“Anh rất mừng.”
“Anh ấy đối với em cũng tốt.”
“Ổn rồi,” tôi đáp.
“Em rất tiếc,” nàng luôn nói vậy, và tôi luôn hỏi nàng câu tôi đã hỏi mẹ trong đêm đầu tiên tôi quay về nhà vào bảy năm trước: “Còn tình yêu thì biến đi đâu?” tôi đã hỏi mẹ tôi như vậy, và giờ tôi lại hỏi Anne Marie.
“Em chịu,” Anne Marie đáp, nàng luôn nói ra sự thật và đó là một trong những đức tính trường tồn ở nàng khiến cho tôi vẫn mãi yêu nàng.
“Anh vẫn yêu em lắm,” tôi bảo nàng.
“Chậc, em cũng thế,” nàng đáp, tôi đoán ý nàng muốn nói rằng tình yêu là một thứ trường tồn, nhưng nó không phải là tất cả, và cũng không bao giờ chúng ta muốn nó như vậy. Có thể đây chính là cái thông điệp mà những cuốn sách mẹ từng ép tôi đọc trước khi vứt hết đi đã muốn gửi gắm tới tôi, tới hai chúng tôi, và cũng chính là một trong những lý do khiến mẹ tôi vứt hết chúng đi.
Nhân nhắc đến mẹ tôi: bà không đến thăm tôi thường xuyên lắm. Nhà tù nằm cách Springfield hai giờ lái xe về hướng Đông Bắc, và khá bất tiện nếu bạn không có xe, mà mẹ tôi thì đã không còn xe. Bà cũng chẳng có bằng lái. Bà đã mất cả hai thứ đó trong một tai nạn giao thông do lái xe trong lúc say xỉn, hai tuần sau khi tôi vào đây. Bà đã dọn ra khỏi căn hộ ở Belchertown và chuyển vào căn hộ cũ của tôi bên trên quán Hoàng tử Sinh viên để có thể đi bộ xuống chỗ làm trong khi say xỉn, thay vì phải lái xe.
Thế nên mẹ tôi không hay đến thăm tôi, nhưng bà vẫn gắng đi xe buýt tới thăm tôi ít nhất mỗi năm một lần vào sinh nhật tôi. Tuần trước tôi vừa tròn bốn mươi lăm tuổi, và bà đem tới một món quà: một cuốn Bài ca thung lũng hạnh phúc của Hawthorne, đã cũ và nhàu nhĩ.
“Chúc mừng sinh nhật,” bà nói.
“Con cảm ơn,” tôi nói. “Sao cuốn này lại tả tơi thế ạ?”
“Ta cũng chẳng biết,” bà nói, nhưng thật ra bà có biết, và tôi cũng biết. Mẹ tôi đã bắt đầu đọc sách trở lại, giống như việc ta luôn quay trở lại với thứ ta đã cai được, như bia rượu, một thứ mẹ tôi chưa cai được. Tôi biết chứ: vẫn còn mùi bia Knickerbocker trong hơi thở bà, trên quần áo bà, tỏa ra từ từng lỗ chân lông trên cơ thể bà. Nhưng tôi không nói với bà rằng tôi biết, và tôi cũng không nói với bà rằng tôi đã đọc đi đọc lại cuốn đó từ khi bước chân lại vào tù. Đó là một cuốn sách nói về một cộng đồng không tưởng: một nhóm người ở Massachusetts đã cố gắng sống với nhau như một đại gia đình hạnh phúc, chỉ để thất bại thảm hại.
“Cảm ơn mẹ nhiều,” tôi nói. Viên giám thị bước vào kiểm tra để đảm bảo đó chỉ là một cuốn sách chứ không phải hàng lậu rồi rời khỏi phòng. Khi anh ta đã đi khỏi, tôi hỏi mẹ, “Nhìn con có giống bốn mươi lăm tuổi không?”
“Giống lắm,” bà nói. “Còn nhìn ta có giống sáu mươi sáu không?”
Tôi không đáp. Nói thật, trông bà già hơn cái tuổi sáu mươi sáu. Bà vẫn gầy, nhưng giờ lưng đã còng và da đã nhăn nheo, chẳng còn cái vẻ khỏe khoắn. Tóc bà đã bạc gần hết, gương mặt cũng sạm đi nhiều, và những nếp nhăn sâu hoắm của bà thì chắc chẳng có loại kem dưỡng nào có thể khắc phục được. Trông bà như một bà lão xưa kia từng có nhan sắc. Có thể việc say xỉn tối ngày đã khiến bà lão hóa nhanh đến vậy. Cũng có thể là vì bố tôi: không phải vì bà đã giết ông, mà vì bà đã hy vọng rằng một khi bà giết ông thì mọi thứ sẽ thay đổi và bà sẽ thôi không yêu ông nhiều như vậy nữa, thôi không căm ghét ông nhiều như vậy nữa, thôi không nhớ ông nhiều như vậy nữa, thôi không cảm thấy cô đơn như vậy nữa, mà mọi việc rốt cuộc lại chẳng hề thay đổi. Nhưng mẹ tôi chẳng bao giờ nhắc tới bố tôi, và tôi cũng không hỏi về ông. Tương tự vậy, bà chẳng bao giờ hỏi tôi về Deirdre. Bà biết Deirdre đã tự thiêu, nhưng chưa bao giờ hỏi tôi về chi tiết vụ việc, chưa bao giờ hỏi tại sao tôi lại tới gặp Deirdre đêm đó. Bà cũng chưa bao giờ hỏi về cảm giác của tôi sau khi Deirdre đã chết, về cảm giác của tôi khi không cứu bà ta. Ta không bao giờ được phép hỏi con mình cảm thấy ra sao khi người tình của bố nó tự tử, cũng như ta không được phép hỏi mẹ ta cảm thấy ra sao khi giết bố ta, cũng như ta không được phép trả lời mẹ ta khi bà hỏi nhìn bà có đúng với tuổi của mình không.
“Không bao giờ được phép trả lời mẹ khi bà hỏi nhìn bà có đúng với tuổi của mình không,” tôi đáp.
“Mẹ đoán chắc câu này cũng sẽ được đưa vào cuốn cẩm nang đốt nhà hả,” bà nói.
Bởi vì mẹ tôi có biết tới cuốn cẩm nang đốt nhà, và cả cuốn còn lại nữa. Tôi đã kể cho bà về cả hai cuốn, cũng đã đưa cho bà đọc bản nháp của một vài chương, và chưa gì bà đã bắt đầu cho tôi một vài lời khuyên: về những chi tiết có vẻ ủy mị và ngờ nghệch; về thực trạng đầu lừa của tôi, rằng nó có như tôi tự tả, hay thậm chí còn nặng hơn. Nhưng phần lớn thời gian, bà dường như không biết bình luận gì về hai cuốn sách. Có thể đó là lý do tại sao bà lại đọc sách trở lại, để biết mình phải bình luận cái gì về tác phẩm của tôi.
“Mẹ phải đi rồi,” bà nhấc người khỏi ghế. “Nửa tiếng nữa xe buýt chạy rồi.”
“Vâng.”
“Con không phá quấy gì trong này đấy chứ?”
“Không ạ.”
“Nhớ đừng phá phách gì nhé Sam,” bà nói. “Mẹ muốn con về nhà với mẹ.” Rồi bà đứng dậy, hôn vào má tôi, và bỏ tôi ngồi lại một mình trong phòng thăm viếng cho tới, có thể là, sinh nhật tiếp theo của tôi.
Bởi vì có vẻ như đây chính là thứ mẹ tôi khao khát hơn cả: bà muốn tôi về nhà với bà. Mẹ tôi biết rằng nếu chú tâm cải tạo thì tôi sẽ được mãn hạn sau mười ba năm nữa. Và khi đó bà sẽ muốn tôi dọn về ở cùng bà, trong căn hộ mới của bà, cũng là căn hộ cũ của tôi. Đã có một công việc đợi tôi ở quán Hoàng tử Sinh viên - bà đã có được sự chấp thuận của ông Goerman và con trai ông, hiển nhiên chính là cậu phục vụ quầy bar có cái đầu cạo nhẵn và bộ ria hình ghi đông xe đạp. Tôi sẽ được nhận công việc rửa bát đĩa và dọn bàn, nếu tôi muốn. Mẹ tôi bảo rằng tôi có thể uống miễn phí, và tôi phải thừa nhận rằng sau hai mươi năm không rượu bia thì đó quả là một điều hấp dẫn. Tôi chưa hứa gì với mẹ, nhưng ai biết được? Đến khi mãn hạn tù thì hẳn là tôi đã kịp hoàn thành hai cuốn sách, và có thể tới lúc đó tôi sẽ muốn khép lại việc kể lại câu chuyện này, khép lại vĩnh viễn. Và sau khi ta đã khép lại việc kể lại câu chuyện đời ta, thì sau đó sẽ là gì? Có lẽ tôi sẽ làm theo ý mẹ: có lẽ tôi sẽ dọn vào ở với bà và nhận công việc ở quán Hoàng tử Sinh viên. Có lẽ lúc đó chúng tôi sẽ được hạnh phúc. Có lẽ chúng tôi sẽ sống một cuộc sống yên ả, và có lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ cần phải nói về quá khứ, về những tình yêu chúng tôi đã đánh mất, những con người chúng tôi đã lấy mạng, hoặc những đám cháy chúng tôi đã châm ngòi. Có lẽ chúng tôi sẽ trở thành những người bình thường, những người sau một ngày lao động mệt nhoài chẳng muốn gì khác ngoài thưởng cho mình một vại bia hay đọc một cuốn sách. Và có lẽ tới lúc đó tôi sẽ có thể kể câu chuyện đó cho bạn nghe.