Đến đây thì tôi phải nói ra rằng ngay từ đầu tôi đã biết tỏng rằng bố tôi chẳng có đột quỵ đột quẽo gì cả, mà ông chỉ đơn thuần là một gã nát rượu. Tôi biết ngay từ đầu chứ; làm sao tôi lại không biết? Tất nhiên là tôi biết tỏng. Tôi chỉ giả vờ tin rằng ông bị đột quỵ. Bởi tất cả chúng ta đều hiểu rằng làm một thằng con trai tức là phải tự dối mình về hình ảnh của bố mình. Nhưng một khi ta tự vạch ra sự thật cho bản thân mình biết, thì có phải ta đã không còn là con, và bố cũng không còn là bố của ta nữa? Thế thì ta sẽ là gì? Bố ta sẽ là gì?
Sự thật là bố tôi là một gã nát rượu, và đã có một bữa đàn đúm tưng bừng diễn ra ở nhà bố mẹ tôi. Khi tôi quay về nhà lần thứ hai trong buổi tối đó, bữa tiệc vừa tàn cuộc trước đó không lâu. Căn nhà đã trở nên tanh bành hơn cả trước đây. Gạt tàn thuốc lá ở khắp nơi, cái nào cái nấy đầy có ngọn, tràn cả ra ngoài, và thế là thay vì đổ chúng đi thì đám bợm thuốc lại tận dụng mọi bề mặt trong phòng - dù phẳng hay lõm, dễ cháy hay khó cháy - để gạt tàn thuốc, khiến phòng khách nhìn như vừa trải qua một đợt núi lửa phun trào. Trên bàn nước là một hàng những chiếc ly thủy tinh, bên trong mỗi ly vẫn còn sót lại một thứ nước đục đục rất hắc ám, một thứ nước mà ta hoặc không đụng tới một giọt, hoặc phải nốc một lần hết luôn. Trên tràng kỷ, có người đã vứt lại một chiếc mũ visor mà trong những bộ phim cổ lỗ sĩ ta thường thấy một tay tráo bài tây hoặc một anh chàng phóng viên mới chập chững vào nghề thường đội. Chỏng chơ trên sàn, giữa bàn nước và tràng kỷ là một chiếc phễu rót xăng trong mờ. Tôi nhặt nó lên và thấy một ống dài màu trắng dính lủng lẳng ở đuôi phễu một cách đầy trêu ngươi, nên bèn quẳng nó lại chỗ cũ. Chiếc xe đạp cố định đã ngã sõng soài ở góc phòng, một bên bàn đạp chĩa thẳng lên trần và vẫn còn quay mòng mòng. Ti vi đang bật, nhưng âm thanh thì tịt ngóm; trên màn hình là một chương trình nói về phẫu thuật tim và chỉ chiếu rặt những cảnh lồng ngực bị mổ phanh ra rồi được khâu lại. Nhạc bật bùm bùm, to tới mức tôi chẳng biết tiếng nhạc phát ra từ đâu, nhất là khi bố mẹ tôi, theo như tôi nhớ, trước giờ có sắm bộ loa thùng nào đâu. Tôi đi theo tiếng nhạc từ phòng khách qua phòng ngủ của bố. Chiếc giường là một bãi chiến trường, cũng như tất thảy những phần còn lại của ngôi nhà: ga giường được phủ lên chiếc ghế, chiếc bàn con, thành giường, nói chung là giăng khắp mọi nơi trừ cái nệm, nơi nó vốn thuộc về. Giữa sàn là một cái máy cát sét loa thùng, rung bần bật theo tiếng nhạc tự nó phát ra. Chìm nghỉm trong tiếng ghita và bass chát chúa là giọng người ca sĩ, “Ở đây có ai mang theo súng đại bác không?” Tôi tắt cát xét đi, nghe thấy có tiếng người bình thường léo nhéo trong bếp và bước về hướng đó. Bố tôi đang ngồi bên bàn bếp, đối diện ông là một ông già tôi chưa gặp bao giờ. Nằm trên cái bàn giữa hai người là chiếc hộp giày, còn những lá thư thì tung tóe khắp nơi. Lúc đó tôi chợt thấy nhớ mẹ da diết, bởi ta vẫn thường nhớ tới một bậc sinh thành khi bậc sinh thành còn lại không làm tròn bổn phận của mình.
“Con biết mẹ ở đâu rồi,” tôi nói với bố nhưng ông chẳng nghe thấy, hoặc cố tình bỏ ngoài tai. Còn ông lạ mặt thì nghe thấy tôi, và ngước lên nhệch cười với tôi theo kiểu lơ đãng, không vướng bận của một kẻ ngật ngưỡng say. Ông ta trạc tuổi bố tôi, có khi nhỉnh hơn vài tuổi, bận một áo khoác nhung kẻ đã mòn tả tơi, trên mặt chình ình một chiếc mũi to và đỏ như của Rudolph[1] nếu chú ta là một chú chó võ sĩ - một cái mũi xấu tệ. Trên bàn còn có hai lon Knickerbocker loại một lít hai, và một đống vỏ lon đang nằm lăn lóc khắp quanh bếp.
“Còn đây,” bố tôi lè nhè, “đây là một trong những lá tôi khoái nhất. Người gửi là một gã ở Leominster muốn nhờ thằng con tôi đốt Dinh thự Ralph Waldo Emerson vì gã được bố mẹ đặt tên Waldo theo tên ông này, và ai cũng trêu chọc gã vì cái tên ngu ngốc đó.” Lá thư này tôi vẫn nhớ rõ: kẻ gửi thư còn muốn tôi đốt cả căn nhà của bố mẹ gã vì đã chọn cái tên đó cho gã, duy có điều họ đã thăng thiên mất rồi nên giờ gã đang sống trong chính ngôi nhà đó, tiền trả góp thì đã được thanh toán sạch sẽ, nên nếu tôi mà đốt nó đi thì gã lại phải bỏ tiền thuê nhà ở chỗ khác. Bố tôi đưa lá thư cho ông bạn xem, ông ta trơ mắt ngắm nó như đang ngắm bức hình một người ông ta chẳng quen biết, rồi đặt nó lại trên bàn. “Và còn lá này nữa,” bố tiếp tục lè nhè, “là của một bà muốn con tôi đốt nhà Herman Melville ở Pittsfield…”
Và cứ thế. Vấn đề ở đây không phải bố tôi nói cái gì, mà là cách ông nói. Ông hơi bị nhịu một tí nhưng ngoài ra thì chẳng có gì bất thường. Tôi nghe, tôi thấy và giờ thì tôi đã hiểu thấu đáo. Tôi đang được chứng kiến bố tôi, không phải đang ở một mình hay ở bên mẹ tôi, mà là đang như cá gặp nước, và đây lại là một điều nữa tôi sẽ đưa vào cuốn cẩm nang đốt nhà: chứng kiến bố mình đang như cá gặp nước là một việc rất buồn. Tôi từng thấy buồn khi tôi nghĩ bố bị đột quỵ và bán thân bất toại, nhưng ít nhất như thế thì ông vẫn được coi là một anh hùng. Còn đây lại là một nỗi buồn rất khác, một nỗi buồn da diết hơn, nỗi buồn ta cảm thấy khi phát hiện ra người mình yêu thương hóa ra lại rất khác với những gì ta nghĩ. Liệu ngày mai tôi có thức dậy và bị bố làm cho buồn thỉu buồn thiu theo một cách hoàn toàn khác? Trên thế giới này có bao nhiêu kiểu buồn tất cả nhỉ?
“Nhưng quái lạ nhỉ,” bố tiếp tục, dù ông già đối diện đã chẳng còn tai đâu mà nghe: bàn tay ông ta tuy vẫn nắm chặt lấy lon bia nhưng hai mắt đã nhắm nghiền còn cổ ông ta thì đang cố lắc lư để cái đầu khỏi đổ gục xuống bàn. “Hình như có mấy lá thư biến đi đâu mất rồi.” Đoạn ông bèn gom hết đống thư lại, xếp thành một chồng rồi bắt đầu kiểm từng lá một, đôi môi ông lẩm nhẩm, ông đếm hết chồng thư rồi đếm lại một lần nữa. Đầu ông bạn ông đổ đánh bộp một cái xuống bàn, nhưng bố chẳng thèm để ý. Có lẽ vì không muốn bị lờ tiếp, ông già nọ bèn đứng dậy, trán đã u vều một cục, lết ra khỏi phòng rồi ra khỏi nhà: tôi có thể nghe thấy tiếng cửa trước mở ra rồi đóng sập lại. Bố tôi vẫn coi như không hay biết gì mà chỉ thốt lên, “Không thể hiểu nổi nữa.”
“Lá nào bị mất thế ạ?” tôi hỏi nhẹ nhàng, bởi tôi đinh ninh tới giờ ông vẫn chưa biết tôi đang đứng đó, và tôi không muốn làm ông giật nảy mình. Có điều ông chẳng mảy may ngạc nhiên khi nghe tiếng tôi. Có khi ông đã biết tôi đứng đó nãy giờ, hoặc có khi ông chẳng quan tâm.
“Tất nhiên là lá Edward Bellamy,” ông đáp. “Nhưng còn sáu lá khác cũng biến đi đâu.”
“Những lá nào nữa?” tôi hỏi. Tôi biết mười mươi rằng lá Mark Twain không nằm đó vì nó đang yên vị trong túi áo tôi. Đương nhiên, bố tôi nhắc ngay đến nó, và nói thêm, “Nhưng vẫn còn năm lá nữa cơ. Ta không thể nhớ là những lá nào.”
“Thế sao bố biết tổng cộng ngần đấy bị mất?”
Ông liếc tôi với vẻ thương hại. “Con có tất cả là một trăm ba mươi bảy lá. Ở đây chỉ còn một trăm ba mươi.” Rồi ông tự đấm vào đầu mình như muốn làm bật ra những cái tên ông đã trót quên.
“Bố có biết đêm qua có người cố đốt Dinh thự Mark Twain không?”
“Biết chứ,” đến giờ ông mới ngoảnh mặt nhìn sang tôi, một gương mặt đã không còn gì khác ngoại trừ lo lắng và bế tắc “Vì thế nên bố mới nhớ ra lá thư Mark Twain bởi vì bố biết có người đốt nó mà. Mẹ con nói bố biết. Bà ấy còn bảo kẻ nào làm việc đó quả thực rất vụng về.”
“Thế sao mẹ biết?” tôi hỏi bố.
“Chắc bà ấy đọc báo,” ông nói. “Thế sao con biết?”
“Con cũng đọc báo thấy,” tôi đáp, đó là sự thật mà, hay chí ít cũng là một phần sự thật. Rồi tôi tiếp: “Ban nãy con thấy mẹ rời khỏi nhà bố ạ.”
“Ừ, bà ấy đã ở đây,” ông vừa đáp vừa đếm lại thư. “Rồi bà ấy đi.”
“Trông mẹ không vui,” tôi nói.
“Ừ thì hơi có chuyện lộn xộn một chút,” ông đáp. “Cứ mỗi thứ Ba là bố mở tiệc nhậu. Bà ấy chịu cho mở với điều kiện phải cho bà ấy biết thời gian cụ thể để bà ấy tránh đi. Thế nên bố mới xếp lịch nhậu vào thứ Ba hằng tuần.”
“Hôm nay mới thứ Hai.”
“Thì đó chính là điểm lộn xộn,” ông thú nhận. “Bố cứ nghĩ là thứ Ba chứ lị. Nên bố đã gọi cho các cạ rượu và bảo, ‘Mấy lão đâu hết rồi? Lại đây ngay.’ ”
“Bố kể con nghe về các bữa nhậu này đi,” tôi nói, dù trong đầu tôi đã mường tượng được ra hết rồi. Chắc là lại toàn những gã đàn ông như kiểu ông già mũi đỏ ban nãy cộc đầu xuống bàn, những gã đàn ông cả đời chỉ loanh quanh trong đúng một hệ sinh thái duy nhất là làng đại học: những gã sinh viên cao học sắp thi trượt hoặc đã thi trượt, những vị giáo sư nghiện rượu hoặc những biên tập viên như bố tôi, người nào người nấy đều bận áo khoác nhung kẻ rách bươm, mỗi cái rách bươm một kiểu. Những người này ngày xưa ai cũng đều có một chuyên ngành của riêng mình - văn chương thời Victoria, thực vật nhiệt đới, tầm quan trọng về văn hóa của máy đánh chữ - nhưng đến một ngày họ chợt phát hiện ra rằng mình không thích cái chuyên ngành đó nữa, ít ra là không thích bằng việc bù khú. Và thứ duy nhất họ ưa thích ngang với việc bù khú là những gì lập dị, mà cũng phải thôi, vì bản thân họ đều là những kẻ lập dị và nát rượu. Bố tôi thì có nào là bia, nào là một thằng con trai đốt nhà giết người, nào là một chồng thư quái gở… ông hẳn là quá đạt tiêu chuẩn. Tôi có thể hình dung ra cảnh cứ đến thứ Ba là bọn họ xuất hiện ở bậc cửa nhà bố mẹ tôi, nốc cồn bí tỉ và nghe bố đọc hết lá thư này đến lá thư khác, cho tới khi nhà đã cạn bia rượu, và bố tôi đã làm cạn sự tò mò của họ, thì họ sẽ lục tục rút lui, cho đến khi chỉ còn nhõn một ông mũi đỏ, kẻ say bét nhè nhất trong bọn, kẻ không còn người nào để gặp, không còn nơi nào để đi và không còn việc gì để làm ngoài việc ngồi bên bàn bếp nhà tôi, nốc cạn lon Knickerbocker cuối cùng và nghe bố ư ử hết lá thư này đến lá thư nọ theo đúng cái cách mà ông đã làm với bao nhiêu gã nát rượu trước đó. Tôi hình dung được hết mà chẳng cần bố phải kể lại, dù ông vẫn cứ kể rành rọt mọi chuyện.
“Nghĩa là mẹ không thích những cuộc nhậu nhẹt kiểu này,” tôi nói. Tôi có thể hiểu được tại sao, nhưng vẫn có một điều gì đó không hợp lý lắm, vì gì thì gì, mẹ tôi đâu có vẻ gì là hắt hủi những tay say xỉn đâu, vì chính bà cũng là một đệ tử của thần Lưu Linh, ngoài ra còn là vợ của một ông lão bí tỉ và là mẹ của một thằng con cũng đang trên đà nát rượu. Thế thì có thêm vài tá bợm nhậu bận áo khoác nhung kẻ thì có làm sao đâu? “Tại sao mẹ lại không thích vậy?” tôi hỏi bố.
“Bố chẳng biết,” ông đáp, và đây là một lời khuyên nữa tôi sẽ đưa vào cuốn cẩm nang đốt nhà: phải hết sức cảnh giác với người đàn ông trả lời “Bố chẳng biết” khi được hỏi tại sao vợ ông không thích một điều gì đó ông đã làm - mà như thế cũng có nghĩa là phải cảnh giác với tất cả đàn ông nói chung. “Chắc bà ấy không thích khách khứa làm nhà bừa bộn,” ông đáp.
“Nhân nói đến nhà cửa…” tôi nói, “mẹ đã ra ở riêng từ bao giờ thế hả bố?”
“Ra ở riêng?” bố nhắc lại câu hỏi. “Con nói gì lạ đời vậy. Quần áo của bà ấy ở đây cả. Và gần như đêm nào bà ấy cũng về đây uống.”
“Bố ạ,” tôi nói, “đêm nay con đã trông thấy căn hộ của mẹ rồi. Con trông thấy mẹ trong căn hộ của bà ở đền thờ hội Tam điểm ở Belchertown. Con đã biết hết rồi.”
“À,” ông nói, gương mặt chùng xuống, giờ thì nó bắt đầu ra dáng gương mặt của một người cha bị đột quỵ, tức là khớp với những gì tôi vẫn tin và mong muốn, và có khi ngay cả ông cũng muốn thành ra như vậy. “Bố rất tiếc vì con đã biết về việc không hay này.”
“Bố mẹ đã ly dị rồi hay sao?”
“Phức tạp lắm,” ông đáp.
“Cái gì phức tạp?”
“Hôn nhân.”
“Bố có còn yêu mẹ không?”
“Yêu nhiều chứ,” ông đáp một cách máy móc. Thế nghĩa là ông còn yêu hay đã hết yêu mẹ tôi? Nếu ở trong tình huống ngược lại, nếu giờ ông hỏi tôi câu tương tự về Anne Marie thì tôi cũng sẽ trả lời tương tự ông và cũng một cách máy móc như thế. “Ta chỉ ước mẹ con không ở trong căn hộ kia,” ông nói. “Ta chỉ ước bà ấy ở đây với chúng ta.”
“Thế tại sao mẹ lại không ở đây nữa?”
“Chuyện phức tạp lắm,” ông lặp lại. Tôi hiểu rằng “phức tạp” là từ ông chuyên dùng để nói về những thứ ông không hiểu, cũng giống như tôi hay dùng từ “lỡ tay”. Bố cụp mắt xuống, quay trở lại săm soi chồng thư. Ông nhặt một lá lên và tôi có thể thấy tay ông đang run. Cứ mỗi giây trôi qua dường như ông lại trở nên yếu ớt và lơ đãng hơn một chút, khiến tôi tự bảo mình phải nhanh nhanh hỏi nốt những câu cần hỏi, trước khi ông quay trở lại làm một ông bố đột quỵ.
“Có bao nhiêu người đã xem chồng thư này rồi hở bố?”
“Nhiều lắm không đếm xuể,” ông đáp, và điều này có vẻ như khiến ông thấy tự đắc. Ông trở nên linh hoạt hơn một chút và đi vòng quanh bếp, lắc lắc mấy lon bia xem có còn thừa chút nào không, và tợp nốt những lon còn tí chút.
“Có ai biết chỗ bố cất thư không?”
“Đương nhiên là có,” ông ngồi xuống ghế và lại lật từng lá thư một. “Nhiều người lắm.”
“Trong số đó có ai đáng nghi không?” tôi hỏi. Đây là một câu hỏi dớ dẩn, và bố ném cho tôi một cái nhìn như muốn nói, Tất cả đều đáng nghi tuốt, thế nên tôi động não để hỏi cụ thể hơn. Nói chính xác ra thì một kẻ đáng nghi sẽ trông như thế nào nhỉ? Tôi tự hỏi, và ngay lập tức Thomas Coleman xuất hiện trong đầu tôi, nhất là khi cậu ta có vẻ biết bố tôi, biết phòng ngủ ông ở đâu, và mới hôm qua còn ghé qua căn nhà này. Thêm nữa, tôi đã trót chỉ điểm với trinh sát Wilson rằng cậu ta là thủ phạm, nên đâm lao phải theo lao. Mà tôi cũng chẳng còn ai để chỉ điểm ngoài mẹ tôi ra, và tôi không hề muốn đưa tên bà ra trừ phi bắt buộc.
“Bố có biết ai tên Thomas Coleman không?” tôi hỏi.
“Ta biết cả đống người,” ông đáp.
“Gã có tóc vàng, dáng người gầy, mắt xanh lơ.” Tôi ngẫm nghĩ thêm chút ít, ước gì có thể miêu tả rõ rệt hơn cái kẻ đang hủy hoại đời chúng tôi. “Gầy đét,” tôi lặp lại. “Trong những người đã xem thư có ai trông như thế không?”
“Có cả đống gã gầy đét đã xem thư,” ông đáp, như trò chuyện với chồng thư hơn là với tôi.
“Bố, chú ý cái nào!” Tôi lên giọng, theo cái cách các bậc phụ huynh thường nói với con cái, theo cái cách những đứa con rồi sẽ nói với bố mẹ để trả thù cho việc bị quát khi còn bé. Sự trả thù cũng là một trong nhiều bộ mặt của nỗi buồn đau. Bố tôi nghếch đầu lên và giữ nguyên tư thế ấy, hoàn toàn chú ý đến tôi. “Bố mẹ Thomas Coleman chết trong đám cháy Dinh thự Emily Dickinson,” tôi bảo ông.
“Thế à”
“Vâng,” tôi nói. “Con đã giết chết họ.” Thật tuyệt khi thừa nhận điều này, sau từng ấy năm trời, mặc dù chẳng chóng thì chầy mọi cảm giác tốt đẹp cũng sẽ bị tiêu tan dưới tay ta, và lần này tôi quyết định làm tiêu tan nó bằng cách chêm vào, “vì nhỡ tay.”
“Vì nhỡ tay,” bố lặp lại.
“Bố có biết Thomas Coleman không?” tôi hỏi. “Gã đã xem chồng thư chưa? Con chắc chắn là một trong những kẻ từng xem qua chồng thư chính là thủ phạm của cả vụ Bellamy lẫn vụ Twain. Có khi kẻ này cũng đang giữ năm lá thư còn lại. Nào, bố cố nhớ kỹ lại xem. Bố có biết ai tên Thomas Coleman không? Rất hệ trọng đấy.”
Tôi có thể thấy những đường nhăn trên trán ông lún sâu xuống và nhân lên gấp bội; ông đang vắt óc suy nghĩ. Cuối cùng ông nói, “Ta chả biết ai cả. Sam, xin lỗi con, nhưng ta quả thật không biết.”
“OK,” tôi tin lời ông, và sẽ bổ sung thêm một dòng nữa trong cuốn cẩm nang đốt nhà của tôi: đừng tin một người đàn ông nói “Ta chả biết”, nhưng cũng chớ có vội đinh ninh rằng sự thiếu hiểu biết là một bản chất của họ. “Bố này,” tôi hỏi, “bố nghĩ xem, liệu có khi nào mẹ là thủ phạm các vụ cháy đó không?”
“Không,” ông đáp. “Sao con lại hỏi vậy chứ?”
“Vì con chắc đó là một phụ nữ,” tôi nói. “Nếu đó không phải gã Thomas Coleman này thì con chắc chắn đó là một phụ nữ.”
“Sao lại thế?”
“Chuyện phức tạp lắm,” tôi ném trả lại ông cái cụm từ cửa miệng của ông. “Nhưng tin con đi, đó là một phụ nữ.”
“Thế tại sao lại là mẹ con?” ông hỏi. Tự dưng ông minh mẫn hẳn lên và trong cặp mắt của ông giờ đã chẳng còn bóng dáng hơi cồn, đám thư từ và tất cả những thứ đã từng làm cho chúng trở nên mờ đục.
“Con không biết,” tôi nói. “Có khi mẹ không vui khi con quay về. Có khi tất cả đều là lỗi ở con.”
“Tuyệt đối không bao giờ được nói thế!” ông quát lớn. Vâng, ông quát lớn và dộng tay xuống bàn, cho bàn tay cái cơ hội được quát. Khi tôi còn nhỏ tôi nhớ ông chưa từng dộng tay xuống bàn hoặt quát tháo bao giờ, mà ông thường tỏ ra rầu rĩ rồi bỏ đi chỗ khác. Không rõ lựa chọn nào thì tốt hơn. Nhưng đây là hai lựa chọn duy nhất của tôi ư? Không phải ta thường có nhiều hơn hai lựa chọn hay sao? “Mẹ con sẽ không bao giờ làm một việc như thế,” ông bảo tôi. “Đừng có vớ vẩn.”
“Vâng,” tôi đáp.
“Bà ấy yêu con lắm, đồ ngốc,” ông tiếp. “Con không biết đấy thôi.”
“Vâng, vâng,” tôi đáp. “Nhưng con vẫn dám cược đó là một phụ nữ.”
“Thế thì là một người phụ nữ khác,” ông nói. “Đi kiếm một người phụ nữ khác đi.” Đương nhiên ông sẽ nói vậy, và đương nhiên tôi sẽ nghe theo - đi kiếm một người phụ nữ khác vừa là niềm hy vọng giúp phần lớn đàn ông tiếp bước, cũng vừa là niềm hy vọng rồi sẽ chôn vùi họ.
Và cuộc nói chuyện của chúng tôi dừng ở đó. Sau khi bảo tôi đi kiếm một người phụ nữ khác, bố tôi dường như lại quay về trạng thái đột quỵ. Ông bỏ chồng thư lại vào hộp giày, kẹp nó vào nách, nhấc mình khỏi ghế và lết về phòng mình. Nhưng trước khi rời bếp, ông đưa bàn tay còn lại lên kệ và nhặt lên một quyển sách. “À mà nhân đây,” ông nói. Trong tay ông là cuốn tự truyện của Morgan Taylor. Ông quăng nó về phía tôi. Tôi không kịp phản ứng nên lãnh một cú vào bụng và khéo thay, lời tựa trên bìa sách đã cam đoan rằng nó sẽ khiến độc giả phải nhộn nhạo trong người. “Ta đọc rồi. Trong này có gì liên quan đến ta ư?”
“À, nói chính xác thì nó không liên quan đến bố,” tôi đáp. “Mà là những việc bố làm, những nơi bố đi sau khi rời khỏi mẹ và con. Đó đều là những câu chuyện của bố cả còn gì.”
“Nếu con nói vậy thì là như vậy,” ông đáp, nhún vai rồi lết vào phòng ngủ.
Giống như rất nhiều những chàng trai dẫn truyện đầy đáng thương trong những cuốn sách mẹ bắt tôi đọc khi tôi còn là một chàng trai trẻ đầy đáng thương, đêm đó tôi đi ngủ với cái bụng rỗng không vì đã bỏ cả bữa tối lẫn bữa trưa. Bao tử tôi réo lục bục, hòa nhịp với tiếng lục bục trong đầu. Có quá nhiều điều để suy nghĩ đến nỗi tôi chẳng suy nghĩ được thấu đáo một điều nào. Trong những lúc thế này, việc duy nhất bạn có thể làm là định vị cho được một ý nghĩ, cái ý nghĩ đơn giản nhất, cái ý nghĩ gần với bạn hơn cả, và cố gắng hết sức để loại trừ nó ra khỏi đầu, rồi túm lấy ý nghĩ tiếp theo mà bạn muốn loại trừ.
Ý nghĩ gần với tôi nhất là việc Morgan Taylor đã ăn cắp những câu chuyện của bố để bỏ vào cuốn tự truyện của gã. Bố tôi đã đọc và nói rằng ông không xuất hiện trong đó, mặc dù những tấm bưu thiếp ông gửi lại là bằng chứng cho điều ngược lại. Khi còn nhỏ, tôi đã cất những tấm bưu thiếp đó ở ngăn trên cùng của tủ quần áo, trong một phong bao bằng giấy bồi. Tôi bước xuống giường, kéo chiếc ghế lại gần tủ, trèo lên, thò tay vào ngăn trên cùng và lôi ra chiếc phong bao. Những tấm bưu thiếp vẫn còn trong đó, và tôi cứ đứng trên ghế mà xem từng tấm. Chúng giống y hệt như trong trí nhớ của tôi, từ câu từ đến nét chữ, cái nét chữ quen thuộc tôi thường thấy trên những tờ giấy ghi “Uống đi” ông vẫn để cạnh ly nước dã rượu cho tôi mỗi sáng. Tôi đã ghi nhớ nét chữ này, một phần cũng bởi đó là những lần duy nhất tôi thấy bố hay mẹ viết một cái gì đó, ngoại trừ những lời phê loằng ngoằng bên lề bài kiểm tra của sinh viên hay bản thảo, nhưng ngay cả chúng thì cũng chẳng hẳn chữ viết mà là những ký hiệu để cho tác giả biết mình có nên viết lùi vào so với đầu dòng hay không. Tôi đoán rằng, vì bố mẹ đã phải hí hoáy quá nhiều ở chỗ làm nên khi về nhà họ chẳng còn hứng đâu mà viết bất kỳ cái gì khác - cho dù là một danh sách đi chợ hay một tấm thiệp sinh nhật. Vậy nên những tấm bưu thiếp của bố là một ngoại lệ. Có thể ông không nhớ rõ về chúng, nhưng chúng đang nằm trong tay tôi, là bằng chứng rõ ràng cho thấy một chuyện quan trọng đã diễn ra như tôi nhớ rằng nó đã diễn ra. Mỗi tấm bưu thiếp đều có chữ ký, “Yêu con, Bố của con.”
“Con cũng yêu bố,” tôi nói với xấp bưu thiếp, rồi nhét chúng vào lại phong bao và nhét phong bao vào lại ngăn tủ. Ông bố đang nằm dưới nhà rất xa lạ và khó gần, nhưng ông bố hiện diện trong xấp bưu thiếp vẫn còn ở đây cùng với tôi, trong tim tôi và trong ngăn tủ trên kia. Với ý nghĩ đầu tiên đã được giải quyết, tôi bò lại lên giường và cố thiếp đi. Tôi ngủ được ba tiếng đồng hồ thì bị tiếng chuông điện thoại đánh thức. Nó reng, reng và reng liên tục - bố mẹ tôi không có máy trả lời tự động, và sao lại cần có cơ chứ, vì từ khi tôi trở lại nhà này thì điện thoại chưa từng đổ chuông một lần - cho tới khi nó kéo được tôi ra khỏi giường và chạy xuống nhà. Tôi nhấc điện thoại và chào lấy lệ, và ở đầu dây bên kia là một giọng đàn ông mà tôi không nhận ra là giọng của ai, “Tư gia Robert Frost nhé Sam. Nửa đêm,” rồi gã ta dập máy. Tôi đặt ống nghe xuống rồi đi vào phòng bố. Tôi định gọi ông dậy, nhưng ông đang thức. Chiếc đèn bàn trên cái bàn con đang được bật sáng, bên cạnh đó là một hộp rượu, và rượu vang đang chảy tong tỏng từ vòi rượu xuống sàn. Bố tôi đang ngồi trên ghế, một tay cầm ly rượu, trên đùi là hộp giày đựng thư. Ông đã thức khuya, uống rượu đóng hộp và lo lắng về những lá thư bị mất tích, giống như những người cha khác vẫn thường thức khuya, uống cà phê và lo lắng khi con trai hay vợ của họ bị mất tích.
“Bố,” tôi hỏi, “bố có nghe thấy điện thoại reo không?” “Có,” ông đáp, rồi nốc cạn ly rượu. Ông đưa chiếc ly xuống dưới vòi rượu, rót độ một nửa ly, rồi liếc nhìn chiếc hộp với vẻ chán chường và tôi hiểu ra cái hộp đã rỗng không.
“Có một kẻ đã báo cho con biết rằng hắn sẽ đốt Tư gia Robert Frost. Rất rành rọt.”
“Peter Le Clau,” ông nói như cái máy. “Số 10 quốc lộ 18, Franconia, New Hampshire.” Ông quay sang nhìn tôi, gật đầu ngượng ngùng. “Lẽ ra ta phải nhớ ra lá thư đó từ đầu.”
❀ ❀ ❀
[1] Chú tuần lộc mũi đỏ Rudolph là một nhân vật hư cấu được biết đến như một người bạn nhỏ của ổng già Noel.